TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
===£oQca===
ĐẶNG THỊ VÂN
Tư TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÊ VAI TRÒ
CỦA PHỤ NỮ VÀ Sự VẬN DỤNG VÀO CÔNG TÁC
VẬN ĐỘNG PHỤ NỮ Ở XÃ TRựC THÁI,
HUYÊN TRƯC NINH, TỈNH NAM ĐINH HIÊN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: Th.s
Phạm Thị Thúy Vân
HÀ NỘI, 2016
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo, Th.s Phạm Thị
Thúy Vân - người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tận tình để tôi hoàn thành khóa luận
này.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục chính trị, đặc biệt là
các thầy cô trong tổ Tư tưởng Hồ Chí Minh và các bạn sinh viên bong nhóm khóa luận đã tạo điều
kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày ... tháng ... năm 2016
Sinh viên thực hiện
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hơn ai hết, Hồ Chí Minh đã nhận rõ vai trò của phụ nữ chiếm một phần quan trọng trong
suốt sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Người đã thấy rõ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của
phụ nữ ngay từ những buổi đầu hoạt động. Người coi công tác vận động phụ nữ là khâu quan
trọng của phong trào cách mạng quần chúng.
Phụ nữ là lực lượng tham gia tích cực vào các hoạt động phát triển của đất nước. Do đó,
công tác vận động phụ nữ bao giờ cũng gắn liền với sự phát triển của mỗi quốc gia, muốn
công tác vận động phụ nữ thành công thì cần phải vận động phụ nữ, nhất là phụ nữ ở vùng
nông thôn, vùng sâu, vùng dân tộc để họ được học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt. Trong
đó, việc tăng cường vận động phụ nữ tham gia vào các hoạt động đoàn thể có ý nghĩa hết sức
quan trọng.
Nhìn chung, trong những năm qua, việc thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và
Nhà nước đã đạt được những thành tựu đáng kể, địa vị của phụ nữ ngày càng được đề cao
tương xứng vói những đóng góp to lớn của họ trong thành tựu chung của cả nước.
Bên cạnh đó, một bộ phận phụ nữ đang gặp nhiều khó khăn về định hướng chính trị,
nhiều phụ nữ chưa có hoặc đang thiếu việc làm, thu nhập thấp vẫn còn phổ biến nhất là ở nông
thôn, vùng sâu, vùng dân tộc. Do đó, đòi hỏi các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương nhất là
hội LHPN phải ra sức phát huy vai trò và vị thế của mình, đặc biệt quan tâm tói công tác vận
động phụ nữ để nâng cao trình độ năng lực của phụ nữ đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội
hiện nay.
Nam Định là một địa phương chiếm tỉ lệ nữ lớn đang nằm trong độ tuổi lao động. Trong
thời kì đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, hội LHPN, phong trào phụ nữ ở tỉnh Nam Định
nói chung và ở xã Trực Thái nói riêng đã đạt được
nhiều thành tích xuất sắc như: phát động các phong trào thi đua; vận động, hỗ trợ phụ nữ phát triển
kinh tế, giảm nghèo bền vững,....Tuy nhiên, bên cạnh nững thành tích xuất sắc đó thì Hội LHPN
Hoàng Thị Nữ (1989), “Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác đào tạo, bồi dưỡng và đề bạt cán
bộ nữ”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (6).
Nguyễn Thị Mão (1996), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và xây dụng đội
ngũ cán bộ”, Tạp chí Xây dựng Đảng, (10).
Nguyễn Thị Kim Dung (2001), “Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ nữ”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (11).
Các tác giả trên đều xoay quanh nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh vói công tác đào tạo, bồi
dưỡng, xây dựng và đề bạt cán bộ nữ.
Các công trình trên đều thể hiện những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò
của phụ nữ đối vói sự nghiệp cách mạng. Tuy nhiên, cho tới nay vẫn chưa có một công trình nào
nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của phụ
nữ vào việc đẩy mạnh công tác vận động phụ nữ ở xã Trực Thái, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định
hiện nay. Vì vậy, với việc nghiên cứu vấn đề tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ và sự
vận dụng vào công tác vận động phụ nữ ở xã Trực Thái, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định hiện
nay, đề tài đã không trùng lặp vói các công trình đó. Những tài liệu nêu trên có giá trị tham khảo
giúp cho việc nghiên cứu đề tài của tác giả.
3. Mục đích
và nhiệm yụ
• • •
3.1.
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ và sự vận dụng vào công tác vận
động phụ nữ ở xã Trực Thái, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định hiện nay.
3.2.
Nhiệm vụ nghiên cứu
duy yật biện chứng, duy yật lịch sử, logic, phân tích và tổng họp, so sánh,phương pháp thống kê.
6. Đóng góp của khóa luận
- Góp phần làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ.
- Đánh giá đúng thực trạng công tác vận động phụ nữ trên địa bàn xã Trực Thái, huyện Trực Ninh,
tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay.
- Đồ xuất những giải pháp cụ thể nhằm thực hiện tốt hơn công tác vận động phụ nữ trên địa bàn xã
ở địa phương.
7. Kết cấu của khóa luân
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì khóa luận được kết cấu
thành 2 chương , 5 tiết.
Chương 1
NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VÈ VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ
•
1.1.
Quan điểm Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của phụ nữ
1.1.1.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước
Vị trí địa lý cùng với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, Việt Nam luôn ở thế bị
“dòm ngó” và xâm lược. Vì thế, giữ vững bờ cõi là điều cốt yếu để dân tộc Việt Nam có thể tồn
kiến, những lễ giáo Khổng, Mạnh. Do hoàn cảnh lịch sử, ở thế kỷ X và XV, nước ta đã phải huy
động rất nhiều người tham gia vào quân đội. Do đó, người phụ nữ phải thay chồng, thay con
trực tiếp lao động sản xuất, nuôi dạy con nhỏ, chăm sóc cha mẹ già và cung cấp lương thực,
lương thảo cho quân đội. Việc điều động một lực lượng lao động lớn là nam giói vào các công
trình tập trung, đã làm cho phụ nữ trở thành lực lượng lao động thiết yếu trong lĩnh vực nông
nghiệp Việt Nam từ ngàn xưa.
1.1.2.
Trong lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc
Hồ Chí Minh khảo sát thực tiễn nhiều cuộc cách mạng lớn trên thế giói, tìm hiểu các
cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, Người đã khái quát lên vị trí, vai trò của
người phụ nữ trong cách mạng như sau: “Xem trong lịch sử cách mệnh chẳng lần nào là không
có đàn bà con gái tham gia... Vậy nên muốn thế giới cách mệnh thành công, thì phải vận động
đàn bà con gái cồng nồng các nước” [10, tr.313]. Người ghi nhận như sau: “Phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ
tham gia bảo vệ đất nước chống sự xâm lược của chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Phụ nữ Ấn
Độ vùng lên chống sự đô hộ của Anh. Phụ nữ Trung Quốc tham gia cuộc cách mạng năm 1912.
Phụ nữ Triều Tiên đã và đang đấu tranh vì độc lập của Tổ quốc. Phụ nữ Nhật Bản đã buộc
Chính phủ phải hủy bỏ đạo luật cấm phụ nữ tham gia đời sống chính trị và v.v...” [13, tr.288].
Ngoài ra, phụ nữ thế giới còn tham gia vào công việc xây dựng đời sống, phát triển kinh tế,
Người nói: “Trong đời sống kinh tế những “bông hồng” của phương Đông bắt đầu tỏ cho chủ
nghĩa tư bản thấy ở họ có những chiếc gai nhọn. Những cuộc bãi công của nữ công nhân ở các
nhà máy và xưởng dệt lụa không còn là hiện tượng hiếm nữa. Trong các tổ chức công đoàn
Nhật Bản, phụ nữ chiếm một tỷ lệ đáng kể. Đoàn Thanh niên cộng sản Trung Quốc mới thành
lập được ba năm đã có trong hàng ngũ của mình hơn 150 nữ công nhân và nữ sinh viên” [14,
tr.228].
Vị trí, vai trò của phụ nữ các nước rất đáng học hỏi, cộng thêm truyền thống anh hùng
khảo nhưng không khai nửa lòi. Sau khi có Đảng, có một giai đoạn lịch sử, Đảng ta phải hoạt
động một cách bí mật, Người nhận thấy, “Thời kỳ bí mật, nhiều chị em đã giác ngộ, tham gia
hoạt động cách mạng rất dũng cảm, mặc dầu muôn ngàn nguy hiểm, gian khổ. Rất nhiều chị em
khác cũng đã bảo vệ cách mạng rất gan góc. Thòi kỳ đó, căn cứ địa cách mạng của ta ở Việt
Bắc, do đó rất nhiều chị em phụ nữ các dân tộc thiểu số không những vượt gian nguy mà còn
gạt cả mê tín để bảo vệ cách mạng và cán bộ hoạt động cách mạng” [19, tr.509]. Trong “Thư
gửi đồng bào các tỉnh ở Việt Bắc”, Người đã viết: “Tôi không bao giờ quên được, trong những
ngày gian nan cực khổ đó, đồng bào trong tỉnh ta, các cụ già, các chị em phụ nữ, anh em nông
dân, các em thanh niên, các cháu nhi đồng ai cũng hăng hái giúp đỡ” [21, tr.238]. Trong “Thư
khen phụ nữ Cao Bằng” Người đã viết: “Tồi nhận được báo cáo rằng, chị em phụ nữ Cao Bằng
thi đua ủng hộ bộ đội và dân quân bằng lựu đạn, lương thực, khăn áo, bánh trái, vân vân, đáng
giá 140.000 đồng. Thế là rất tốt. Tôi nhớ rằng, trong thòi kỳ bí mật, lúc bắt đầu tổ chức đội du
kích và quân giải phóng đánh Nhật, đánh Pháp, phụ nữ Cao Bằng luôn luôn hăng hái giúp đỡ,
tiếp tế. Nhiều bà cụ và chị em nhịn ăn để nuôi bộ đội. Luôn mấy năm như thế.Nhiều chị em lại
mạnh bạo tham gia du kích giết giặc. Tôi thay mặt Chính phủ khen ngợi chị em... Tôi lại mong
phụ nữ các tỉnh thi đua với chị em phụ nữ Cao Bằng, làm cho nổi bật vai trò vẻ vang của phụ
nữ Việt Nam trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc” [11, tr.76]. Sau thắng lợi của Cách
mạng tháng Tám năm 1945, vói rất nhiều khó khăn trước mắt, phụ nữ cũng đã những đóng góp
rất lớn vào công cuộc khôi phục đất nước lúc bấy giờ: “Từ ngày dân Việt Nam tranh được
chính quyền, phụ nữ đều ra sức gánh vác công việc. Nào giúp đỡ chiến sĩ, tăng gia sản xuất.
Nào chống nạn mù chữ, tham gia tuyển cử, Tuần lễ Vàng, Đòi sống mói, v.v..., việc gì phụ nữ
cũng hăng hái.Các bà đại biểu nghe vậy, rất là vui lòng. Rồi ân cần gửi lòi thân ái chúc phụ nữ
Việt Nam gắng sức phấn đấu, và mong rằng phụ nữ ta sẽ giúp sức vào cuộc vận động phụ nữ
thế giới” [20, tr.394].
Không lâu sau đó, thực dân Pháp lại tái chiếm.Phụ nữ Việt Nam, một lần nữa, đứng lên
cùng toàn dân kiên cường kháng chiến chống Pháp. Họ bất chấp gian lao nguy hiểm, bất kể
không gian, thòi gian, bảo vệ cán bộ cách mạng bằng một sự lạc quan, tin tưởng vào sự thắng
lọi của cách mạng. Người ca ngợi: “Trong các chiến dịch, phụ nữ đi dân công, tải lương thực,
thức phong phú, phương pháp đấu tranh trực diện, tấn công hên tục làm cho quân địch phải
hoảng sợ chùn bước, về sau, chúng thi hành chính sách “tố cộng, diệt cộng”, tra khảo dân,
trường kỳ truy bức, bắt ly khai Đảng, xé cờ Đảng. Trước tình hình đó, nhiều nơi, các mẹ, các
chị còn biến những buổi lên lớp “tố cộng” thành những buổi tố cáo, vạch trần âm mưu của Ngồ
Đình Diệm, chúng buộc phải giải tán các trường “tố cộng”. Hồ Chí Minh đã rất tự hào về
những thành tựu của phụ nữ miền Nam. Do đó, trong bài phát biểu tại “Lễ kỷ niệm lần thứ 20
ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam”, Người tuyên dương: “Miền Nam anh hùng có
đội quân đấu tranh chính trị gồm hàng vạn chiến sĩ toàn là phụ nữ. Họ rất mưu trí và dũng cảm
làm cho địch phải khiếp sợ và gọi là “đội quân tóc dài”. Phó tư lệnh quân giải phóng là cô
Nguyễn Thị Định. Cả thế giói chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho
miền Nam, cho cả dân tộc ta” [14, tr.173]. Ở miền Bắc, phụ nữ cũng tích cực tham gia đấu
tranh nhằm hỗ trợ cho đồng bào và phụ nữ miền Nam chống lại những hành động dã man của
Mỹ - Diệm. Sau chiến lược “chiến tranh đặc biệt” mà Mỹ đã triển khai và cuối cùng thất bại,
chúng liền tiến hành ném bom phá hoại những thành tựu đầu tiên trong công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội của ta. Trước tình thế đó, phụ nữ miền Bắc hăng hái thi đua thực hiện phong
trào “ba đảm đang”, chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội và chi viện tối đa cho
chiến trường miền Nam vói tinh thần “thóc không thiếu một hạt, quân không thiếu một người”.
Hồ Chí Minh cũng đã nhiều lần gửi thư khen ngợi phụ nữ miền Bắc, Người nhấn mạnh: “Trong
phong trào thanh niên xung phong chống Mỹ, cứu nước, nhiều cháu thanh niên gái đã nêu
gương dũng cảm trong sản xuất và chiến đấu như thanh niên gái Vĩnh Linh vừa sản xuất giỏi,
vừa chiến đấu giỏi, tổ cầu đường Trần Thị Lý ở Quảng Bình và tiểu đội 9, đại đội 814 đã bảo
đảm tốt giao thông dưới làn bom đạn, đội dân quân gái ở Nam Ngạn đã góp phần bắn được
nhiều máy bay giặc Mỹ v.v...” [11, tr.174]. Hồ Chí Minh không chỉ đánh giá cao vai trò của phụ
nữ trực tiếp tham gia vào cuộc kháng chiến, Ngưòi còn đánh giá cao vai trò của các bà mẹ, đã
che chở cho bộ đội, chịu đựng mất mát, đau thương để khuyến khích con em mình đi chiến đấu,
Người nói: “Các bà mẹ chiến sĩ đã khuyến khích con cháu mình vào bộ đội đánh giặc cứu
nước. Ngoài ra còn ân cần nuôi nấng, giúp đỡ, bảo vệ cán bộ và chiến sĩ khác như con cháu của
mình, như: bà mẹ Suốt ở Quảng Bình đã xồng pha bom đạn, không sợ sóng to gió lớn, suốt
quản lý kinh tế, quản lý xã hội và đã lập được nhiều thành tựu đáng kể. Hồ Chí Minh đi đến kết
luận: “Dưới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, người phụ nữ dũng cảm có thể hoàn thành
mọi nhiệm vụ của người đàn ông dũng cảm có thể làm, dù nhiệm vụ ấy đòi hỏi rất nhiều tài
năng và nghị lực” [17, tr.121]. Đồng thời, Người cũng căn dặn thêm: “Từ đây, phụ nữ ta càng
phải gắng sức làm thế nào để trong thì đoàn kết toàn thể chị em, đặng giúp việc xây dựng nước
nhà; ngoài thì cộng tác vói những đoàn thể dân chủ phụ nữ thế giới. Như thế mới xứng đáng địa
vị của phụ nữ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” [17, tr.395].
1.2.
Các biện pháp phát huy vai trò của phụ nữ theo quan điểm của Hồ Chí Minh
1.2.1.
Thực hiện phát huy vai trồ của phụ nữ phải gắn liền với công tác vận động
phụ nữ
Theo Hồ Chí Minh, muốn phát huy vai trò của phụ nữ, trước hết phải đẩy mạnh công tác
vận động phụ nữ. Cụ thể:
* về nội dung vận động phụ nữ
Thứ nhất, trên lĩnh vực chính trị: Theo Hồ Chí Minh để phụ nữ tiến bộ thì trước tiên phải
vận động và làm cho họ thực sự hiểu được quyền bình đẳng về chính trị, nghĩa là phải bắt đầu
từ việc hang bị cho phụ nữ công cụ lý luận, tổ chức họ tự giác tham gia tích cực vào cuộc đấu
tranh giải phóng chính mình, từ người dân mất nước trở thành công dân của một nước tự do,
độc lập, có chủ quyền, về lĩnh vực này, phải vận động và làm cho phụ nữ được tham gia vào
các hoạt động chính trị như quyền bầu cử, ứng cử, trở thành cán bộ lãnh đạo, tham gia quản lý
Nhà nước một cách bình đẳng như nam giói, có quyền tự do ngôn luận, đi lại, cư trú và bình
đẳng trước pháp luật.
Ở Việt Nam, do ảnh hưởng của chính sách cai trị, một chính sách “ngu dân”, hạn chế mở
trường học nhằm “không muốn cho dân biết chữ để dễ lừa dối và bóc lột dân ta” [15, tr.36]. Vì
thế, “số người Việt Nam thất học so vói số người trong nước là 95%, nghĩa là hầu hết người
Việt Nam mù chữ” [17, tr. 36], trong đó phụ nữ chiếm số đông. Ngay sau Cách mạng tháng
Tám Hồ Chí Minh vạch rõ: “Một trong những công việc phải thực hiện cáp tốc trong lúc này là
nâng cao dân trí” [17, tr. 36]. Vì thế, ngay sau khi giành độc lập năm 1945, mặc dù bộn bề với
công việc phát động chiến dịch diệt “giặc dốt” trong cả nước để xóa dần tình trạng lạc hậu, dốt
nát của nhân dân do chính sách ngu dân để lại.
Trong chiến dịch diệt giặc dốt, Người đặc biệt quan tâm tới phụ nữ, bởi lẽ phụ nữ đã bị
“kìm hãm quá lâu”, do vậy, “phụ nữ càng cần phải học, đã lâu chị em bị kìm hãm, đây là lúc chị
em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là một phần tử trong nước” [18, tr. 37], có
kiến thức tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà. Người cho rằng, chỉ có nâng cao trình độ
cho phụ nữ mới có thể giải thoát họ khỏi những trói buộc của chế độ cũ. Chính sự dốt nát đã
làm cho phụ nữ lâm vào bước đường cùng khổ, nó cũng là nguồn gốc sâu xa dẫn tới sự kéo dài
của những thiên kiến lạc hậu, hà khắc. Do người phụ nữ ít được học hành, mặt khác bị công
việc trói buộc cho nên đầu óc càng “u mê, đần độn”. Không thể khác, chỉ có nâng cao trình độ
văn hóa cho phụ nữ thì mói thực sự giải phóng đươc cho họ.
Vói mục đích như vậy, Hồ Chí Minh đã đề nghị và đưa vào Hiến pháp vấn đề bình đẳng
nam nữ trong lĩnh vực văn hóa, vừa tạo cơ sở pháp lý bảo vệ quyền lợi cho phụ nữ, vừa ghi
nhận vai trò mà phụ nữ đã cống hiến. Điều 6, Hiển pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
1946 đã công nhận: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện chính tri,
kinh tế, văn hóa”. Trong Hiến pháp 1959 một lần nữa khẳng định quyền bình đẳng về văn hóa
của phụ nữ.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để vận động phụ nữ tiến bộ về lĩnh vực này, trước hết bản
thân phụ nữ phải “gắng học tập chính tri, học tập văn hóa, kỹ thuật” [20, tr. 89], góp phần xây
dựng đất nước, nhanh chóng đuổi kịp “chị em phụ nữ ở thế giới”. Vì vậy, Người luôn quan tâm
tới công tác đào tạo, bồi dưỡng phụ nữ. Người vui mừng khi biết phụ nữ đã có mặt ở cả vị trí
ngưòi dạy cũng như người học: “Trong phong trào phát triển bình dân học vụ, phụ nữ chiếm
phóng họ ngoài xã hội, nâng cao vị thế của phụ nữ ngoài xã hội sẽ tạo điều kiện cho phụ nữ
tham gia ngày càng nhiều vào công tác xã hội, tiến tói bình đẳng vói nam giới trong nhiều lĩnh
vực.
Như vậy, vấn đề vận động phụ nữ tiến tới bình đẳng trên mọi lĩnh vực và trong gia đình
đã được Hồ Chí Minh đánh giá: “Dưới chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa, phụ nữ ta đã được
bình quyền về mọi mặt” [22, tr.132]. Sự nghiệp đổi mới sẽ tiếp tục phát triển và làm sâu sắc
thêm tư tưởng Hồ Chí Minh.
* về phương pháp vận động phụ nữ
Phương pháp vận động phụ nữ có thể hiểu là tổng họp những cách thức, biện pháp, quy
trình tổ chức, tập họp mọi tầng lớp phụ nữ làm cách mạng có hiệu quả cao nhất.
Theo Hồ Chí Minh: Trước hết, phải tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục cho phụ nữ hiểu,
khi họ hiểu rồi thì mới tin theo và quyết tâm thực hiện. Trong thòi gian Ngưòi còn bôn ba hoạt
động ở nước ngoài, bằng nhiều cách khác nhau, Người đã giải thích cho phụ nữ hiểu rằng:
“những việc đó là vì lọi ích của họ mà phải làm”. Người khẳng định: “Nước ta là nước dân
chủ” cho nên mọi người dân, mọi phụ nữ có quyền được thông tin, được biết, được giải thích,
được bàn bạc. Thông qua đó mà rút ra những kinh nghiệm quý báu, những bài học hay. Trong
bài nói chuyện tại Hội nghị Liên hiệp phụ nữ toàn quốc về vấn đề phát động quần chúng nông
dân vào 3/3/1953, Người nói “Cán bộ phụ nữ đi vận động, có cô vận động khéo, đến đâu dân
làm gì mình làm nấy, thân thiết như người nhà thì có thành tích. Cô nào không hòa lẫn được với
nhân dân, vẫn giữ thói quen thành phố thì vận động không thành công” [18, tr.57].
Một trong những phương pháp quan trọng của công việc vận động phụ nữ, theo Ngưòi
cần phải tổng kết đánh giá những việc đã làm được, chưa làm được phải có sự khen chê kịp
thòi, từ đó tuyên truyền để mọi người cùng noi theo. Người đồng thòi cho rằng, phải thẳng thắn
phê bình, chỉ ra những việc chưa làm được của phụ nữ: “ Phụ vận ta còn thiếu sót: ít chú ý vận
động gia đình các cán bộ và các nhà chủ công nghiệp, gia đình các nhà công thương và chị em
nội trợ” [17, tr.1332]. Như vậy, để phụ vận có hiệu quả thì người cán bộ phụ vận trước hết phải
có sự hiểu biết về lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, nắm vững đường lối chủ trương chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hiểu rõ đối tượng hoàn cảnh, tìm mọi cách để giải
vì nể nang, nhất định không ai phục, mà gây nên mối lôi thôi trong Đảng. Như thế là có tội với
Đảng, có tội với đồng bào” [24, tr.281].
Thứ hai, đối với chính quyền: Chính quyền được dân ủy thác, điều hành quản lý xã hội
cho nên chính quyền và dân có quan hệ trực tiếp, do đó mọi cán bộ Nhà nước đều phải làm dân
vận. Người cho rằng: “Đã phụng sự nhân dân thì phải phụng sự cho ra trò. Việc gì có lợi cho
dân, thì phải làm cho bằng được.Việc gì có hại cho dân, thì phải hết sức tránh” [21, tr.88].
Người cho rằng, Chính phủ phải kết hợp cùng với Đảng thì địa vị của phụ nữ mới được
khẳng định: “Đảng và Chính phủ ta luôn luôn chú ý nâng cao địa vị của phụ nữ”. Nếu tách
riêng nhiệm vụ giữa Đảng và Chính phủ thì sẽ có hiện tượng “trống đánh xuôi, kèn thổi
ngược”.
Thứ ba, đối với đoàn thể (Đoàn thanh niên, công hội, nông hội,...): Hồ Chí Minh đã sớm
nhận thấy vai trò to lớn của các đoàn thể. Với nông dân, Người khẳng định: “Muốn kháng
chiến thắng lọi, kiến quốc thành công ắt phải dựa vào quần chúng nông dân. Muốn dựa vào
nông dân ắt phải bồi dưỡng lực lượng của họ” [24, tr.23]. Bởi vì, “Đa số dân ta là nông dân.
Mỗi việc đều phải dựa vào nông dân.Nông dân giác ngộ hăng hái thì kháng chiến mới mau
thắng lọi, kiến quốc mói chóng thành công, nông dân mới được giải phóng” [44, tr. 191 ]. Xuất
phát từ vị trí, vai trò của nông dân, thực tiễn cách mạng đòi hỏi phải có mộ tổ chức của giai cấp
nông dân đảm trách việc vận động, tuyên truyền để họ hiểu “việc cần phải làm”, Người yêu
cầu: “Làm cho nông dân vào hội nông dân cứu quốc cho đông để phấn đấu cho mục đích của
mình và tích cực tham gia công cuộc kháng chiến kiến quốc” [19, tr.711]. Đối vói phụ nữ,
Người yêu cầu “Hội nông dân cứu quốc phải thiết thực, tổ chức rộng rãi và chặt chẽ nhất là kết
nạp thanh niên và phụ nữ nông thôn vào hội làm cho hội đồng thêm, mạnh thêm, hăng hái
thêm” [18, tr.191].
Với công nhân, Người khẳng định “Tổ chức công hội trước hết là để cho công nhân đi lại
vói nhau cho có tình cảm; hai là nghiên cứu với nhau; ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công
nhân cho khá hơn bây giờ; bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân; năm là để giúp cho quốc
dân, giúp cho thế giới” [40, tr.302]. Từ thực tiễn nghiên cứu lý luận, Hồ Chí Minh hiểu rõ vị
trí,vai trò, tâm tư của giai cấp công nhân, đó là lực lượng lãnh đạo, lực lượng nòng cốt trong
Có thể nói, quan điểm vận động phụ nữ của Hồ Chí Minh là định hướng cơ bản nhất, là
cơ sở khoa học để Đảng và Nhà nước nói chung, đảng bộ và chính quyền Nam Định nói riêng
quán triệt vận dụng vào công tác vận động phụ nữ trên địa bàn xã trong giai đoạn hiện nay.
1.2.2.
Phát huy vai trò của phụ nữ là sự nghiệp của bản thân người phụ nữ
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện bình đẳng giữa nam và nữ là trách nhiệm của
Đảng, Nhà nước và xã hội. Tất cả tạo điều kiện để họ được bình đẳng về kinh tế, chính trị, gia
đình, xã hội. Nhưng để thực hiện thành công sự nghiệp giải phóng phụ nữ, đòi hỏi không chỉ có
điều kiện bên ngoài đưa đến, mà trước hết bản thân phụ nữ phải tự mình vươn lên, hăng hái
xung phong vượt qua mọi khó khăn trở ngại, khắc phục mọi quan niệm tự ti, cam chịu, an phận.
Đây là một yếu tố mang tính quyết định. Chính vì vậy, phụ nữ không được chỉ trông chờ vào
các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, mà phải tự đấu tranh giành lấy
quyền lợi cho mình. Người nói: “về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ,
chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà tự mình phải tự cường, phải đấu tranh” [18, tr.
301]. Năm 1956, Hồ Chí Minh nói: “Chiến sĩ phụ nữ còn ít, phụ nữ chiếm nửa số dân tộc mà
cái gì cũng hiếm. Ta phải giúp đỡ. Nhưng không phải phụ nữ cứ ngồi khoanh tay ngồi chờ giúp
đỡ, mà phải cố gắng” [20, tr. 295]. Hồ Chí Minh cũng sớm thấy “phụ nữ chúng ta còn một số
nhược điểm như bỡ ngỡ, lúng túng, tự ti, thiếu tin tưởng vào khả năng của mình” [20, tr. 59].
Trong bài nói chuyện tại “Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ III”, một lần nữa Người nhấn
mạnh: “phụ nữ ta phải xóa bỏ cái tâm lý tự ti và ỷ lại; phải có ý chí tự cường, tự lập; phải nâng
cao lên mãi trình độ chính tri, văn hóa, kỹ thuật” [21, tr.59].
Như vậy, Hồ Chí Minh không những rất tin vào năng lực phụ nữ, mà còn thức tỉnh chị
em phụ nữ, giúp họ tin vào bản thân mình, xóa bỏ tâm lý tự ti, mặc cảm. Bởi vì, hơn ai hết Hồ
Chí Minh hiểu rằng, để phụ nữ ý thức được vai trò, vị trí của mình trong xã hội, gia đình, cũng
như đạt được sự bình đẳng, tự do, phát triển, phát huy năng lực và khả năng của bản thân thì
ngoài nhận thức, tiếp thu và thực hiện của những người trong xã hội còn phải từ chính nhận