Sự tham gia của người nhập cư vào hoạt động đoàn thể (qua nghiên cứu trường hợp tại địa bàn phường phúc đồng, quận long biên, thành phố hà nội) - Pdf 38

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

TRỊNH THỊ THÙY DUNG

SỰ THAM GIA CỦA NGƢỜI NHẬP CƢ
VÀO HOẠT ĐỘNG ĐOÀN THỂ
(Nghiên cứu trường hợp tại phường Phúc Đồng, quận Long Biên,
thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

TRỊNH THỊ THÙY DUNG

SỰ THAM GIA CỦA NGƢỜI NHẬP CƢ
VÀO HOẠT ĐỘNG ĐOÀN THỂ
(Nghiên cứu trường hợp tại phường Phúc Đồng, quận Long Biên,
thành phố Hà Nội)

Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Mặc dù tác giả đã cố gắng để hoàn thiện luận văn, nhưng do hạn chế về
thời gian nghiên cứu nên luận văn sẽ không tránh khỏi những sai sót. Tác giả
mong muốn nhận được sự góp ý của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và
đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 29 tháng 12 năm 2015
Tác giả

TRỊNH THỊ THÙY DUNG


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƢỜNG ĐH KHXH&NV

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

GIẤY XÁC NHẬN
Về việc đồng ý cho học viên sử dụng dữ liệu nghiên cứu
PGS.TS Phạm Văn Quyết - Chủ nhiệm đề tài “Hoà nhập xã hội của người
nhập cư”, đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia năm 2014 - 2015, xác nhận:
Học viên Trịnh Thị Thùy Dung là học viên cao học khoa XHH khoá 2013 2015 được sử dụng dữ liệu sơ cấp của đề tài để thực hiện luận văn cao học với đề
tài: “Sự tham gia của người nhập cư vào hoạt động đoàn thể (Qua nghiên cứu
trường hợp tại phường Phúc Đồng – quận Long Biên – thành phố Hà Nội)
Hà Nội, ngày 5 tháng 6 năm 2015
Chủ nhiệm đề tài

PGS. TS Phạm Văn Quyết

1.4. Tổng quan địa bàn nghiên cứu ...................................................................28


CHƢƠNG 2. MỨC ĐỘ THAM GIA HOẠT ĐỘNG ĐOÀN THỂ CỦA NGƢỜI
LAO ĐỘNG NHẬP CƢ TẠI ĐỊA PHƢƠNG CƢ TRÚ ......................................30
2.1. Hoạt động mang tính chất cộng đồng chung .............................................33
2.2. Hoạt động mang tính chất hƣớng riêng đến nhóm cộng đồng nhất định .....41
CHƢƠNG 3. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC ĐỘ THAM GIA HOẠT
ĐỘNG ĐOÀN THỂ CỦA NGƢỜI NHẬP CƢ TẠI ĐỊA PHƢƠNG CƢ TRÚ ....44
3.1. Các yếu tố từ ngƣời nhập cƣ. ......................................................................44
3.2. Yếu tố xuất phát từ chính quyền địa phƣơng ............................................66
3.3. Yếu tố xuất phát từ ngƣời dân sở tại ..........................................................73
PHẦN 3. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ.........................................................79
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................82
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Mức độ tham gia vào các hoạt động đoàn thể tại địa phương cư trú
của người nhập cư ........................................................................................... 32
Bảng 3.1 Nghề nghiệp ảnh hưởng mức độ tham gia hoạt động quyên góp, từ thiện 55
Bảng 3.2. Số lượng bạn bè có thể tin tưởng được của người nhập cư ............ 65
Bảng 3.3. Mức độ thăm hỏi của chính quyền đại phương sở tại ảnh hưởng tới
mức độ tham gia hoạt động bầu cử của người nhập cư .................................. 68
Bảng 3.4. Mức độ thăm hỏi của chính quyền địa phương ảnh hưởng mức độ tham
gia hoạt động bầu cử tại đị phương nơi đnag sinh sống của người nhập cư........... 70
Bảng 3.5 Mức độ đến thăm của người dân sở tại ảnh hưởng mức độ tham gia của
người dân nhập cư vào các hoạt động lễ hội tại địa phương nơi đang sinh sống.... 74



nhập giữa thành thị và nông thôn gia tăng khoảng cách giàu nghèo. Chính vì
vậy mà rất nhiều người trong độ tuổi lao động đã di cư từ nông thôn ra thành
thị với mong muốn tìm kiếm cơ họi việc làm, gia tăng mức thu nhập bản thân
và giảm mức chênh lệch giàu nghèo.
Hà Nội là một trong những đô thị có mật độ dân cư đông đúc nhất trong
nước (2087 người/km2) nhưng hàng năm vẫn có một lượng lớn người lao
động từ ngoại tỉnh nhập cư đến đây. Sở dĩ người dân thường đổ về Hà Nội vì
những nguyên nhân sau: Thứ nhất, do nông nghiệp nước ta có những bước
phát triển vượt bậc trong việc tăng năng suất và sản lượng, dẫn tới “dư thừa”
lao động. Đặc biệt là vùng đồng bằng sông Hồng “đất chật người đông”, thời
gian lao động dư thừa nhiều, đồng thời mặt độ dân số đông, diện tích canh tác
thì có hạn. Điều đó tất yếu dẫn đến việc một bộ phận người lao động phải ra
đi tìm việc ở các thành phố lớn nhằm tăng thêm thu nhập. Sự khác biệt về tiền
lương và thu nhập giữa các vùng, đặc biêt giữa nông thôn và thành thị là yếu
tố thúc đẩy quá trình di dân tới đô thị. Họ chấp nhận những công việc nặng
nhọc, vất vả để mưu sinh và để có tiền gửi về cho gia đình. Thứ hai, Hà Nội
(cũng như thành phố Hồ Chí Minh và các đô thị lớn khác) là miền đất hứa của
nhiều người về môi trường giáo dục và đào tạo, có điều kiện y tế và chăm sóc
sức khỏe, có đời sống văn hóa tinh thần cao hơn, có các phương tiện thông tin
đại chúng và các dịch vụ tiện ích khác…
Một lực lượng lớn lao động từ các vùng miền đổ đến các đô thị để làm
việc đem đến những thuận lợi và khó khăn nhất định. Về mặt thuận lợi có thể

1


kể đến như lực lượng lao động dồi dào, luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu lao
động, gia tăng vốn văn hóa, đa dạng đời sống tinh thần… Nhưng kèm theo đó
cũng là rất nhiều khó khăn như dư thừa lực lượng lao động, tệ nạn xã hội, khó
quản lý nhân khẩu… Trong đó có một vấn đề nổi bật đó là vấn đề hòa nhập

địa phương nơi nhập cư nói chung và đến thành phố Hà Nội nói riêng (xét ở
địa bàn phường Phúc Đồng, Long Biên). Trong đó ta thấy được những khó
khăn, trở ngại họ phải vượt qua, cũng như những điều mà họ làm được để tạo
dựng trong môi trường cuộc sống mới. Đồng thời, kết quả của đề tài góp phần
làm giàu cơ sở thực tiễn giúp cho các nhà hoạch định chính sách và quản lý
kinh tế, xã hội có cái nhìn xác thực hơn, từ đó có thể đưa ra chính sách và
biện pháp quản lý hữu hiệu hơn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài đi sâu vào nghiên cứu sự tham gia của người lao động nhập cư
vào hoạt động đoàn thể tại phường Phúc Đồng – quận Long Biên – thành phố
Hà Nội hiện nay từ đó có cái nhìn tổng quan về sự hòa nhập cộng đồng người
nhập cư. Trên cơ sở đó, đề tài đi vào những mục tiêu cụ thể như sau:
 Tìm hiểu mức độ tham gia của người lao động nhập cư vào các hoạt
động đoàn thể được tổ chức tại địa bàn mà họ đang sinh sống và làm việc.
 Tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia của người lao
động nhập cư vào hoạt động đoàn thể. Những yếu tố bắt nguồn từ bản thân
người nhập cư, chính quyền địa phương và cư dân bản địa.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu sự tham gia của lao động
nhập cư vào các hoạt động đoàn thể tại địa phương cư trú

3


Làm rõ mức độ tham gia vào các hoạt động đoàn thể của người dân tại
địa bàn đang sinh sống từ đó tìm hiểu những khó khăn của người nhập cư khi
hòa nhập vào cộng đồng mới.
Chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của lao động nhập cư vào
các hoạt động đoàn thể tại nơi cư trú.

vào hoạt động đoàn thể tại địa phương nơi cư trú:
+ Yếu tố xuất phát từ người dân nhập cư: tuổi, nghề nghiệp, giới tính,
kinh tế chi phối thời gian tham gia các hoạt động đoàn thể, trở ngại văn hóa
vùng miền…
+ Yếu tố xuất phát từ chính quyền sở tại: chính quyền sở tại chưa tích
cực trong việc mời gọi người nhập cư tham gia vào các hoạt động đoàn thể tại
địa phương
+ Yếu tố đến từ người dân sở tại: sự kỳ thị người nhập cư của người
dân sở tại dẫn đến người lao động nhập cư cảm thấy thiếu sự liên kết với đời
sống tại địa phương nơi cư trú
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1.

Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát là phương pháp thực nghiệm được tác giả sử
dụng trong quá trình sử dụng thu thập kết quả cho phương pháp phỏng vấn
trưng càu ý kiến và phỏng vấn sau. Qua phương pháp này tác giả muốn thu
nhận hình ảnh trực quan về đời sống của người lao động nhập cư tại phường
Phúc Đồng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội cũng như quan sát được
thái độ của họ khi nhắc đến việc tham gia hoạt động tập thể từ đó có cái
nhìn tổng quan, khách quan về các hoạt động tập thể ở đây và mức độ
mong muốn tham gia.

5


7.2. Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp phân tích tài liệu trong đề tài nghiên cứu này sẽ sử dụng để
tìm hiểu về người lao động nhập cư và khó khăn của người nhập cư khi đến

khẩu chính thức của Ủy ban nhân dân phường Phúc Đồng, quận Long Biên,
thành phố Hà Nội. Tổng số đơn vị mẫu lựa chọn là 200 đơn vị. Nhóm này rất
đa dạng bao gồm rất nhiều các cá nhân đến từ các vùng khác nhau, học vấn,
trình độ tay nghề, công việc… có thể đã từng tham gia hoặc chưa từng tham
gia các hoạt động đoàn thể tại địa phương cư trú. Việc tiếp cận các đối tượng
được thực hiện dưới sự giúp đỡ của cán bộ UBND phường và các đồng chí
phụ trách khu dân cư trên địa bàn phường, đảm bảo đúng đối tượng và đủ số
lượng mẫu khảo sát.
8.2. Giới thiệu mẫu nghiên cứu
Đặc diểm mẫu khảo sát

Số lƣợng

Tỷ lệ

 Nam

111

55,5%

 Nữ

89

44,5%

114

57%




Khác

17

8,5%

* Về giới tính:

* Về nghề nghiệp


Công nhân trong các công ty, các

khu công nghiệp

xuất nhỏ

7


* Quê quán


Bắc Giang

9


12

6%



Hải Dƣơng

6

3%



Nam Định

24

12%



Hải Phòng

5

2,5%






Quảng Ninh

4

0,2%



Nghệ An

22

11%



Ninh Bình

3

1,5%



Phú Thọ

7


Yếu tố ảnh hưởng đến sự tham vào hoạt động
tập thể của người nhập cư tại địa phương cư trú

Đặc điểm lao
động nhập cư

Sự tiếp nhận
của chính quyền sở
tại

Sự hợp tác của
cư dân bản địa

ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - VĂN HÓA – XÃ HỘI

9


NỘI DUNG CHÍNH
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Hai tác giả Lê Ngọc Lân, Phùng Thị Kim Anh, khi phân tích về “Chính
sách việc làm cho lao động nữ nông thôn trong thời kỳ đổi mới” – Tạp chí Xã
hội học cho rằng, tình trạng thiếu việc làm và thu nhập thấp cũng tạo nên
dòng chảy lao động từ nông thôn ra thành thị, trong đó có nhiều phụ nữ. Họ
làm đủ các ngành nghề từ giúp việc gia đình, buôn bán phế liệu đến bán hàng
rong, thậm chí còn có một số chị em tham gia vào các hoạt động bị xã hội
ngăn cấm… Tuy nhiên, việc di chuyển lao động tự do từ các vùng nông thôn
ra thành thị, đặc biệt là các đô thị lớn đang là vấn đề nổi cộm, nảy sinh nhiều
vấn đề phức tạp, nhất là các tệ nạn xã hội.

thành phố. Cả nam lẫn nữ, phần nhiều đến với công việc ban đầu nơi thành
phố là do người thân quen, họ hàng hoặc người đồng hương giới thiệu. Tại
các cơ sở sản xuất nhỏ, đặc điểm lao động mang tính địa phương và cộng
đồng rất cao. Vì rằng, họ đã dựa vào “quan hệ thân quen” để giới thiệu cộng
việc cho người mới. Có những tỉnh thành, thanh niên về thành phố làm thợ hồ
(thợ xây dựng) rất nhiều, có tỉnh thì thanh niên nam cũng như nữ về thành phố
làm nghề may, có tỉnh thanh niên về thành phố bán quán ăn, quán cà phê hay
làm ở các cơ sở… Xét ở nhiều khía cạnh, việc phân nhóm này có những khía
cạnh tích cực là tính cộng đồng, sự tương trợ nhau nhiều. Những mặt khác,
khi những người cùng địa phương đến thành phố làm cùng ngành nghề, khiến
họ có tâm lý chấp nhận công việc, môi trường làm việc bằng mọi giá… Đời
sống xã hội của thanh niên nhập cư xét trên điều kiện quan hệ với chủ cơ sở,
với các đồng nghiệp còn nặng về “tình cảm”, “cảm tính”, “quan hệ thân
thuộc”, đồng tộc, đồng hương. Với những đặc tính này, trong môi trường đô
thị có những hạn chế nhất định. Thanh niên không có sự năng động, họ dễ
dàng “ngủ quên” trong cộng đồng của mình. Khi đó, nếu các “tiểu văn hoá”

11


này có lối sống tiêu cực, thì ngoài cộng đồng của họ ra, ít có nhân tố hay lực
lượng xã hội nào kiểm soát được. Đời sống của thanh niên công nhân chịu sự
ràng buộc, tác động nhiều từ trách nhiệm “cảm tính” của các chủ cơ sở sản
xuất nhỏ. Họ không dễ dàng độc lập, không dễ dàng “thăng tiến’ khi suốt 24
giờ làm việc, ăn uống và ngủ nghỉ tại nhà của chủ cơ sở sản xuất. Có thể nói,
họ có được việc làm nơi thành phố, nhưng lại không thể tổ chức được đời
sống xã hội cho mình. Xét khía cạnh đời sống văn hóa, giải trí và khả năng
tiếp cận các dịch vụ y tế còn nghèo nàn. Các cơ sở sản xuất chưa có chính
sách hay kế hoạch gì để cải thiện vấn đề này trong chiến lược đầu tư, phát
triển kinh tế của họ. Một khi người lao động tai nạn lao động hay bệnh tật, tất

thuận lợi hơn so với ở Hà Nội. Hai tác giả cũng đưa ra nhận định về nội dung
các mô hình trợ giúp người lao động di cư ở Việt Nam hiện nay bên cạnh việc
quan tâm giải quyết các vấn đề liên quan đến các chiều cạnh kinh tế như việc
làm, thu nhập, đào tạo nghề…, cũng rất cần quan tâm đến giải quyết những
vấn đề về sự tham gia của người di cư vào đời sống văn hóa, xã hội tại cộng
đồng nơi cư trú; thúc đẩy hơn nữa vai trò, trách nhiệm của cộng đồng, chính
quyền, đoàn thể các địa phương trong việc tạo dựng môi trường xã hội cho
hòa nhập cộng đồng. Mặt khác, cũng rất cần tạo điều kiện cần thiết để người
di cư ý thức được môi trường sống là nguồn lực quan trọng cho việc khắc
phục những khó khắn vướng mắc trong đời sống của họ; làm tăng hơn nữa
niềm tin xã hội ở họ. Trong các mô hình cũng rất cần quan tâm đến những đặc
trưng mang màu sắc vùng miền.
Trong bài viết “Social Inclusion of the Poor Migrants in the
Contemporary Vietnamese Urban Life: A Quantitative Analysis” (tạm dịch
Hòa nhập xã hội của những người di cư nghèo hiện nay - Cuộc sống đô thị
Việt: Một phân tích định lượng) của hai tác giả Phạm Văn Quyết và Trần Văn
Kham là bài viết về các chính sách dành cho người di cư trong thởi điểm hiện
tại, các xu hướng di cư cũng như tác động của dòng chảy di cư tới đời sống xã

13


hội nói chung. Bài viết mô tả đời sống của người di cư trong đô thị hiện đại
tại hai đô thị lớn là thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, trong đó
nhấn mạnh tới vấn đề chính sách xã hội, các dịch vụ xã hội mà người di cư
nghèo tại đô thị có thể được hưởng lợi, từ đó đưa ra thuận lợi và khó khăn của
người di cư nghèo gặp phải khi hòa nhập với đời sống đô thị.
Tác giả Douglas S.Massey trong bài viết “Các nguồn gốc xã hội và
kinh tế của nhập cư” (1994), đã chỉ ra rằng, di cư là một vấn đề của mọi xã
hội, quốc gia, di cư là một vấn đề cần được quan tâm, nghiên cứu để có những

là nhà xã hội học người Pháp Emile Durkheim (1789 - 1857). Quan điểm về
hội nhập xã hội của ông được trình bày trong sự gắn kết chặt chẽ với khái
niệm đoàn kết xã hội (social solidarity). Ông sử dụng khái niệm đoàn kết xã
hội để chỉ các mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa các cá nhân với nhau,
giữa cá nhân với nhóm xã hội. Nếu như không có sự đoàn kết xã hội thì các cá
nhân riêng lẻ, biệt lập không thể tạo thành xã hội với tư cách là một chỉnh thể
(Lê Ngọc Hùng, 2002). [9;3]
Về hội nhập xã hội, Durkheim cho rằng, xã hội dường như đã sử dụng
một sức mạnh bắt buộc đối với mỗi cá nhân. Chuẩn mực, niềm tin và các giá
trị mà ông gọi là ý thức tập thể được coi như cơ sở đạo đức của xã hội. Ý thức
tập thể liên kết các cá nhân với nhau tạo ra hội nhập xã hội. Ý thức tập thể là
chìa khóa quan trọng cho việc giải thích sự tồn tại của xã hội: Nó tạo ra và
duy trì xã hội. Trong khi đó, ý thức tập thể là sản phẩm của các cá nhân thông
qua hành động và tương tác của họ. Như vậy, xã hội là một sản phẩm có tính
xã hội được tạo ra bởi các hành động của cá nhân sau đó tác động trở lại bởi
một sức mạnh xã hội mang tính bắt buộc đối với mỗi cá nhân. Thông qua ý
thức tập thể của họ con người trở nên hiểu biết nhau như sinh vật xã hội, chứ
không phải như động vật (dẫn theo Kenneth D. Allan, 2005). [9;4]

15


Từ quan điểm của Durkheim, vấn đề hội nhập xã hội tiếp tục được
nghiên cứu và mở rộng trong quan điểm của các nhà chức năng luận. Theo đó
hội nhập xã hội gắn với những nguyên tắc mà qua đó các cá nhân hay các chủ
thể hành động được liên kết với nhau. Bên cạnh đó, các nhà chức năng luận
còn nhấn mạnh đến vấn đề hội nhập hệ thống xã hội. Nó được xem như
phương thức quan hệ của những yếu tố trong hệ thống xã hội, mà vì hệ thống
đó chúng hành động một cách tập thể để tránh phá vỡ hệ thống, đồng thời
chúng luôn hợp tác để thúc đẩy sự hoạt động của hệ thống xã hội như một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status