Phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã hội từ thực tiễn các cơ sở dạy nghề tỉnh long an - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN BON

PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
TỪ THỰC TIỄN CÁC CƠ SỞ DẠY NGHỀ
TỈNH LONG AN

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60. 90. 01. 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS. TS. VÕ KHÁNH VINH

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã hội từ
thực tiễn các cơ sở dạy nghề tỉnh Long An” là công trình nghiên cứu của bản thân
tôi. Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực, được
trích từ các nguồn công khai, hợp pháp, không sao chép từ bất lỳ công trình nào
khác.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này./.


MỤC LỤC


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ASXH

An sinh xã hội

BCH TW

Ban chấp hành Trung ương

CĐN

Cao đẳng nghề

CNH-HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CTXH

Công tác xã hội

CSDN

Cơ sở dạy nghề

ĐBSCL

Đồng bằng sông Cửu Long


Lao động-Thương binh và xã hội

NVCTXH

Nhân viên công tác xã hội

TCN

Trung cấp nghề


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1:

Danh sách các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh Long An đến
cuối năm 2015

Bảng 2.2:

Thống kê kết quả tuyển sinh các cơ sở dạy nghề tỉnh Long An

Bảng 2.3:

Thống kê số lượng giáo viên CTXH năm 2015

Bảng 2.4:

Thực trạng phẩm chất đạo đức, tư tưởng, chính trị của
GVCTXH.

1. Tính cấp thiết của đề tài
CTXH là một nghề chuyên nghiệp đã được thừa nhận ở nhiều Quốc gia trên
thế giới và ngành CTXH đã được đưa vào giảng dạy ở nhiều trường đại học từ đầu
thế kỷ 19.Hiện nay, ở Việt Nam CTXH là một nghề được pháp luật công nhận, có
vị trí ngày càng quan trọng trong mục tiêu và chiến lược phát triển KT-XH của đất
nước. CTXH góp phần giải quyết công bằng và sự tiến bộ của xã hội.
Để phát triển CTXH thành một nghề ở Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã
quyết định thành lập Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010-2020 (Quyết định
32/2010/QĐ-TTg), còn gọi là Đề án 32. Một trong những nội dung quan trọng của đề
án là: Trong giai đoạn 2010 - 2020, tổ chức đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tập huấn kỹ năng để nâng cao năng lực cho
60.000 cán bộ, nhân viên và cộng tác viên CTXH.
Long An triển khai thực hiện Đề án 32, hầu hết cán bộ, nhân viên và cộng tác
viên làm việc trong lĩnh vực này còn thiếu và chưa được đào tạo bài bản cả ở khâu
hoạch định chính sách cũng như khâu tác nghiệp cụ thể, nhất là cán bộ làm việc trực
tiếp với đối tượng. Đội ngũ nhân viên này phát triển có tính tự phát chủ yếu là của
các tổ chức đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Người cao tuổi, Hội
Cựu chiến binh, cán bộ phường, xã đôi khi là những người dân tự nguyện. Họ làm
việc chủ yếu theo kinh nghiệm. Việc đào tạo, tập huấn cho cán bộ, nhân viên CTXH
của các CSDN của tỉnh mới dừng lại ở giai đoạn đầu, thiếu giáo viên, kinh nghiệm
đào tạo ít; Chương trình, giáo trình và tài liệu giảng dạy CTXH còn thiếu, nhiều bất
cập. Điều này đã ảnh hưởng tới hiệu quả thực hiện Đề án 32.
Đội ngũ giáo viên là yếu tố đặc biệt quan trọng có tính chất quyết định tới chất
lượng và hiệu quả, tới sự thành công của sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo. Để các
CSDN tỉnh Long An phát triển ngành CTXH, một trong những yếu tố có ý nghĩa
quan trọng đó chính là phát triển ĐNGVCTXH. Trong khi đó các GVCTXH hiện có
đều dược đào tạo từ các ngành gần với ngành CTXH, hoặc chuyên môn khác
CTXH, các giáo viên này chỉ tập huấn, bồi dưỡng lớp GVCTXH do Bộ LĐTBXH

1

nghiên cứu đánh giá về thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên, đề xuất các giải

2


pháp để nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên CTXH của Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội. Tác giả chưa đề cập đến thực trạng đội ngũ giáo viên Công tác xã hội ở các
cơ sở dạy nghề của các tỉnh, thành phố hiện nay ở Việt Nam.
“Phát triển nguồn nhân lực xã hội đáp ứng nhu cầu thực tiễn và hội nhập”
công trình nghiên cứu của Tiến sĩ, Nguyễn Hải Hữu, Chủ tịch Hội các trường đào
tạo CTXH Việt Nam, (trích tài liệu hội thảo CTXH phát triển bền vững ) phát hành
tháng 12 năm 2014. Tác giả nêu ra yêu cầu cần thiết phải phát triển nguồn nhân lực
CTXH, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn của nước ta và yêu cầu hội nhập.
“Chương trình đào tạo lấy thực hành làm thước đo cho chất lượng đào tạo
Công tác xã hội” của Phó giáo sư, Tiến sỹ, Đỗ Hạnh Nga, Trưởng khoa CTXH,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (trích trong tài liệu hội thảo quốc tế :
Nâng cao chất lượng đào tạo công tác xã hội với chuyên nghiệp hóa dịch vụ CTXH,
tháng 02 năm 2016), nội dung bài viết về Chương trình đào tạo Khoa CTXH trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn –Đại học Quốc Gia Hồ Chí Minh, đây là
chương trình đào tạo lấy thực hành làm thước đo chất lượng đào tạo cử nhân
CTXH. Tác giả cho rằng đào tạo cử nhân CTXH phải bố trì một thời gian, thời
lượng đáng kể về số lượng tín chỉ vào việc tổ chức hoạt động thực hành, thực tập
cho người học. Tác giả khẳng định những kiến thức, kỹ năng và thái độ của sinh
viên thông qua thực tập chính là thước đo việc đào tạo cử nhân CTXH của trường.
“Đào tạo, bồi dưỡng giảng viên ngành CTXH ở Việt Nam” của TS Nguyễn
Văn Thủ, Học viện Hành Chính thành phố Hồ Chí Minh tham khảo tại trang
(lib.education.vnu.edu.vn:8121/bitstream/123456789/.../NguyenVanThu.doc),
nghiên cứu cho thấy tác giả đã nêu ra vấn đề cần thiết phải đào tạo đội ngũ nhân
viên công tác xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là cần thiết, muốn nâng
cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực Công tác xã hội thì việc làm trước tiên là

tai

trang

http://lib.education.vnu.edu.vn:8121/bitstream/123456789/6347. Tác giả cho rằng
việc Đào tạo nguồn nhân lực CTXH sẽ góp phần phát triển bền vững vùng ĐBSCL,
là một trong những giải pháp thực hiện chính sách ASXH, hỗ trợ cộng đồng và nâng
cao chất lượng sống cho người dân ở đây. Đây còn là một mục tiêu phát triển bền
vững. Trong thời gian tới, vấn đề đào tạo nhân viên xã hội có kiến thức và kĩ năng
là một yêu cầu lớn ở các địa phương Tây Nam Bộ khi có nhiều vấn đề xã hội đang
đặt ra và cần có sự giải quyết mang tính chuyên nghiệp. Do vậy, chất lượng đào tạo
nguồn lực này là một trong chìa khóa then chốt để ngành CTXH phát triển, đóng
góp vào công cuộc phát triển toàn diện và bền vững ĐBSCL trong bối cảnh hội
nhập hiện nay.
Những những công trình nghiên cứu trên đã góp phần không nhỏ vào việc
khẳng định tầm quan trọng và ý nghĩa của việc phát triển đội ngũ giảng viên,
GVCTXH, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho nghề CTXH theo đề án
32 của Chính Phủ, nó làm cơ sở định hướng cho những nghiên cứu về phát triển
ĐNGV ở các cơ sở đào tạo CTXH. Tuy nhiên những nghiên cứu trên chưa đề cập
đến thực trạng ĐNGVCTXH ở các CSDN trực thuộc tỉnh, thành phố hiện nay của
Việt Nam
Đến thời điểm hiện nay ở Việt Nam chỉ có những hội thảo, những bài viết của
các nhà nghiên cứu về phát triển đội ngũ giảng viên, GVCTXH, chưa có một đề tài
khoa học nghiên cứu sâu về đội ngũ giảng viên, GVCTXH, đặc biệt là các CSDN
tỉnh Long An thì chưa có đề tài nào đề cập đến. Do đó tài liệu tham khảo rất khan
hiếm, đây cũng là khó khăn trong quá trình nghiên cứu cần phải khắc phục.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn của việc phát
triển đội ngũ giáo viên nói chung, phát triển đội ngũ giáo viên CTXH nói riêng; đề

rút ra những vấn đề về lí luận và đề xuất những giải pháp khả thi để tăng cường phát
triển ĐNGVCTXH ở các CSDN tỉnh Long An.

5


Luận văn cũng nghiên cứu một cách hệ thống các lý thuyết về giáo viên, đội
ngũ GV, về phát triển, công tác đào tạo, bồi dưỡng, hệ thống chính sách liên quan
đến ĐNGV dạy nghề nói chung và GVCTXH nói riêng.
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật lịch sử: đối tượng được nghiên cứu đánh giá theo
một trục thời gian nhất định và mang tính lịch sử rõ nét. Như vậy những vấn đề liên
quan trong đề tài nghiên cứu có so sánh đối chiếu theo lịch sử.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp phân tích tài liệu là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên
môn nhằm thu thập thông tin, số liệu từ các nguồn tài liệu những thông tin cần thiết
phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
Đọc và phân tích các tài liệu, báo cáo của các cấp quản lý như báo cáo tổng
kết năm của các CSDN, phòng dạy nghề, Sở LĐTBXH tỉnh Long An.
Tìm hiểu, đánh giá nhận xét tài liệu có liên quan đến chính sách đào tạo của
tỉnh Long An.
5.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp mà người được hỏi, trả lời
với hình thức tụ viết vào bảng hỏi để đưa cho người được hỏi dưới dang bảng hỏi.
5.2.3. Phương pháp chuyên gia
Lấy ý kiến các chuyên gia (Ban giám hiệu, cấp ủy, trưởng phó khoa các
CSDN) về công tác tổ chức, công tác cán bộ ở các CSDN để có những thông tin
nhận xét, đánh giá về chất lượng thực trạng của ĐNGVCTXH ở các CSDN tỉnh
Long An.
5.2.4. Phương pháp hệ thống hóa

NHŨNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
CÔNG TÁC XÃ HỘI
1.1. Khái niệm, vai trò, vị trí, nhiệm vụ và yêu cầu đối với giáo viên công
tác xã hội ở các cơ sở dạy nghề
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1. Công tác xã hội
Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH (NASW): CTXH là hoạt động nghề nghiệp
giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm
năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội
phù hợp với các mục tiêu của họ [6, tr.3].
Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế
Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã
hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và
giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và
dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội.
CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ.
Theo tài liệu nghề CTXH – Nền tảng triết lý và kiến thức: CTXH là một nghề,
một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng
nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc
đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia
đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần đảm bảo
ASXH [6, tr.3].
1.1.1.2. Khái niệm giáo viên
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Giáo viên được hiểu là người dạy học ở các
Nhà trường, các cơ sở giáo dục hoặc tương đương” [32, tr.380] để chỉ những người
dạy học ở các cấp, bậc học.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục Việt Nam (Luật số
44/2009/QH12 của Quốc hội) cũng đã quy định cụ thể tên gọi đối với từng đối

8


9


một nhà giáo cùng thực hiện các nhiệm vụ và được định hướng các quyền lợi theo
Luật giáo dục và các Luật khác được Nhà nước quy định.
GVCTXH là người dạy lý thuyết, dạy thực hành hoặc vừa dạy lý thuyết vừa
dạy thực hành trong các CSDN về CTXH.GV dạy lý thuyết trình độ sơ cấp CTXH
phải có bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên ngành CTXH trở lên; GV dạy thực hành
phải là người có bằng tốt nghiệp trung cấp CTXH trở lên.GV dạy lý thuyết trình độ
trung cấp CTXH phải có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành về CTXH; GV dạy
thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp CĐN về thực hành chuyên ngành
CTXH; GV dạy lý thuyết trình độ CĐN phải có bằng tốt nghiệp đại học chuyên
ngành CTXH trở lên; GV dạy thực hành phải là người có bằng tốt đại học nghiệp
chuyên ngành CTXH. Trường hợp GVCTXH nêu trên không có bằng tốt nghiệp
cao đẳng sư phạm kỹ thuật hoặc đại học sư phạm kỹ thuật thì phải có chứng chỉ đào
tạo sư phạm.
ĐNGVCTXH là tập hợp các nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu
khoa học ở các CSDN, họ gắn kết với nhau thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu đào tạo
nghề CTXH, cùng trực tiếp giảng dạy và giáo dục học sinh, sinh viên theo ràng buộc
của những nguyên tắc có tính chất hành chính của ngành dạy nghề và của nhà nước.
1.1.1.5. Phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã hội
Phát triển được hiểu là sự thay đổi, chuyển biến tạo ra cái mới theo hướng tích
cực, tốt hơn hay nói cách khác phát triển là xu thế đi lên của sự vật hiện tượng ngày
càng hoàn thiện hơn. Phát triển còn là sự biểu hiện hàng loạt sự biến đổi kế tiếp của
sự vật và hiện tượng qua các giai đoạn khác nhau, từ khi bắt đầu đến khi kết thúc sự
biến đổi.Quá trình đó cũng chính là quá trình thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về
chất, cấu trúc của sự vật, hiên tượng.
Việc phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề nói chung và phát triển giáo viên
Công tác xã hội nói riêng, là cơ sở, là điều kiện của việc tạo ra những "máy cái" để

quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục”.
- Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 xác định 8 giải pháp phát triển
giáo dục giai đoạn 2011-2020, trong đó giải pháp 1 “Đổi mới quản lý giáo dục” là

11


giải pháp đột phá và giải pháp 2 “Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo
dục” là giải pháp then chốt.
- Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020 xác định 9 giải pháp phát
triển dạy nghề trong đó giải pháp 1 “Đổi mới quản lý Nhà nước về dạy nghề” và
giải pháp 2 “Phát triển đội ngũ giảng viên, giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề” là
hai giải pháp đột phá.
Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 xác định mục tiêu
tổng quát là đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế cạnh tranh quan
trọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội,
nâng trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương các
nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước phát
triển trên thế giới.
Các yếu tố quan trọng tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo nhân lực ở các
CSDN gồm: ĐNDVDN; chương trình đào tạo nghề; nguồn lực vật chất (cơ sở vật
chất, trang thiết bị dạy nghề) và nguồn lực tài chính. Trong các yếu tố trên thì
ĐNGV giữ vai trò vô cùng quan trọng, là nhân tố quyết định chất lượng đàotạo và
phát triển nhân lực.
Tóm lại, ĐNGV dạy nghề nói chung, GVCTXH nói riêng có vai trò là chủ thể
tham gia phát triển nhân lực, là nhân tố quyết định chất lượng đào tạo nhân lực và
phát triển KT - XH của vùng và cả nước, do đó phát triển ĐNGVCTXH ở các
CSDN tỉnh Long An góp phần đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực CTXH cho tỉnh
Long An và vùng ĐBSCL.
1.1.3. Nhiệm vụ của giáo viên công tác xã hội

Yêu nghề, tâm huyết với nghề; có ý thức giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín,
lương tâm nhà giáo; đoàn kết, hợp tác, cộng tác với đồng nghiệp, có ý thức xây
dựng tập thể tốt để cùng thực hiện mục tiêu dạy nghề; thương yêu, tôn trọng người
học, giúp người học khắc phục khó khăn để học tập và rèn luyện tốt, bảo vệ quyền
và lợi ích chính đáng của người học.
Giáo viên ngành CTXH cần có tinh thần vị tha, biết hướng về người nghèo, biết
gần gũi, quan tâm, hỗ trợ và sẵn sàng chia sẻ những khó khăn với những người có
hoàn cảnh khó khăn (PGS.TS. Nguyễn Văn Thủ, Học viện Hành chính tại TP. HCM).

13


Lối sống, tác phong
Sống có lý tưởng, có mục đích, ý chí vươn lên, có tinh thần phấn đấu liên tục
với động cơ trong sáng và tư duy sáng tạo; thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí
công vô tư theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; có lối sống lành mạnh, văn minh,
phù hợp với bản sắc dân tộc và thích ứng với sự tiến bộ của xã hội; có thái độ ủng
hộ, khuyến khích những biểu hiện của lối sống văn minh, tiến bộ và phê phán
những biểu hiện của lối sống lạc hậu, ích kỷ. Tác phong làm việc khoa học; trang
phục khi thực hiện nhiệm vụ giản dị, gọn gàng, lịch sự, không gây phản cảm và
phân tán sự chú ý của người học; có thái độ văn minh, lịch sự, đúng mực trong quan
hệ xã hội, trong giao tiếp với đồng nghiệp, với người học, với phụ huynh người học
và nhân dân; giải quyết công việc khách quan, tận tình, chu đáo; xây dựng gia đình
văn hoá; biết quan tâm đến những người xung quanh; thực hiện nếp sống văn hoá
nơi công cộng.
Giữ gìn, bảo vệ truyền thống đạo đức nhà giáo
Không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi trái pháp luật, quy
chế, quy định; không gây khó khăn, phiền hà đối với người học và nhân dân; không
gian lận, thiếu trung thực trong học tập, nghiên cứu khoa học và thực hiện nhiệm vụ
giảng dạy và giáo dục; không trù dập, chèn ép và có thái độ thiên vị, phân biệt đối

học phát hiện, biểu đạt vấn đề thuộc các lĩnh vực khác nhau, vạch hướng giải quyết,
thiết kế các nghiên cứu lý luận hay thực tiễn để giải quyết vấn đề và trên cơ sở vấn
đề được giải quyết, nêu hay phát hiện những vấn đề mới. Điểm nổi bật của các
phương pháp dạy học tích cực này là nâng cao tính thực tiễn của môn học, chủ
động, sáng tạo của người học, đảm bảo vị thế tích cực, phát triển hứng thú nhận
thức, thỏa mãn nhu cầu tìm tòi, khám phá của người học; nâng cao kỹ năng trình
bày, bảo vệ và phản biện ý kiến trước đám đông.
1.2. Khái niệm, nội dung phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã hội ở các
cơ sở dạy nghề
1.2.1. Qui hoạch phát triển đội ngũ giáo viên công tác xã hội
Là xây dựng kế hoạch dài hạn bố trí,sắp xếp ĐNGVCTXH trong phạm vi quản
lý của các CSDN. Qui hoạch phải thực hiện theo các nguyên tắc sau:
Căn cứ vào qui định hướng dẫn của các cơ có thẩm quyền và yêu cầu thực tế
của CSDN để xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch; kế hoạch phải xuất phát từ dự

15


báo nhu cầu phát triển và phù hợp với qui hoạch dạy nghề CTXH của địa phương.
Công tác quy hoạch phải xây dựng được các tiêu chuẩn về trình độ, phẩm chất và
năng lực đối với GVCTXH trong từng giai đoạn.Xây dựng được ĐNGVCTXH đủ
về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo chất lượng, xác định số lượng GVCTXH
đào tạo, bồi dưỡng từng năm học.Các điều kiện để triển khai công tác bồi dưỡng
GVCTXH.
Qui trình xây dựng qui hoạch phải đảm bảo các quy định và quy trình về công
tác quy hoạch, phải căn cứ từ về thựctrạng ĐNGVCTXH và nhu cầu phát triển của
ĐNGV các CSDN. Công tác quy hoạch được xem xét điều chỉnh hàng năm.
- Mục tiêu của qui hoạch về số lượng ĐNGVCTXH là: Đảm bảo duy trì đủ, ổn
định ĐNGVCTXH; Đảm bảo số lượng học sinh, sinh viên/ GV theo qui định; Đảm
bảo cho ĐNGVCTXH hoàn thành nhiệm vụ và tạo điều kiện cho ĐNGVCTXH có

thống và tương đối tổng hợp về tri thức, phương pháp, kỹ năng, kỹ xảo... Không chỉ
trong lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ mà rộng hơn là hoàn thiện nhân cách cho chủ
thể đào tạo để họ lao động, cống hiến cho xã hội với một nghề nghiệp nhất định.
Đào tạo lại: là cá nhân đã qua quá trình đào tạo với một trình độ nghề nghiệp
nhất định nay có nhu cầu được đào tạo nghề nghiệp mới hoàn toàn hoặc đào tạo mới
một phần để tham gia hoạt động trong lĩnh vực nghề nghiệp mới. Đào tạo diễn ra
dưới hình thức tập trung dài hạn, chính quy, không chính quy, văn bằng hai... ở các
trình độ đào tạo khác nhau.Mục tiêu của đào tạo, đào tạo lại GVCTXH nhằm chuẩn
hóa GV hoặc nângchuẩn GV (đào tạo sau đại học).
Bồi dưỡng: là quá trình cập nhật, bổ sung những kiến thức và kỹ năng đã lạc
hậu hoặc còn thiếu trong một cấp học, bậc học và thường được xác nhận bằng một
chứng chỉ. Bồi dưỡng và đào tạo lại có thể diễn ra ở bên ngoài quá trình giáo dục
đào tạo chính quy.
Bồi dưỡng GVCTXH: bồi dưỡng GVCTXH nhằm cập nhật những kiến thức,
kỹ năng chuyên ngành CTXH, những phương pháp mới, tiếp thu các kinh nghiệm
dạy tiên tiến, phù hợp với thế giới.
- Các hình thức bồi dưỡng GV dạy nghề: Bồi dưỡng do nhà trường thực hiện;
Tự bồi dưỡng của cá nhân giảng viên. Ngoài ra, còn các hình thức bồi dưỡng toàn
diện, bồi dưỡng từng phần hay theo các chuyên đề.

17


Việc đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV nhằm hình thành hệ thống kiến thức, năng lực
sư phạm, kỹ năng nghề, thái độ nghề nghiệp theo chuẩn và phải được xác định là
nhiệm vụ thường xuyên của cán bộ quản lý và ĐNGV dạy nghề nhằm đáp ứng yêu
cầu đào tạo nhân lực trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập quốc tế.
1.2.4. Thực hiện chính sách
Theo Điều 59, Luật Dạy nghề 2006 qui định quyền và nhiệm vụ của GV dạy
nghề, Quản lý nhà trường cần phân tích cho GV nhận rõ quyền và nhiệm vụ, đồng

Đào tạo và dạy nghề. Nghị quyết TW khóa VIII nhấn mạnh: “đầu tư cho Giáo dục –
Đào tạo là đầu tư cho phát triển”; thực hiện chính sách ưu tiên, ưu đãi đối với Giáo
dục –Đào tạo, đặc biệt là chính sách đầu tư và chính sách tiền lương, lương GV phải
được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp và có thêm
chế độ phụ cấp tùy theo tính chất của công việc, theo vùng do Chính phủ quy định”.
Nghị quyết TW2 cũng khẳng định đào tạo lao động kỹ thuật là đào tạo nhân tài cho
đất nước trong thế kỷ 21. Trên cơ sở tổng kết thực hiện nghị quyết TW2 (khóa VIII)
và cụ thể hóa nghị quyết đại hội IX của Đảng, hội nghị TW6 (khóa IX) đề ra nhiệm
vụ đến năm 2010, trong đó có nội dung: “Có chính sách thu hút cán bộ khoa học
trình độ cao của các viện nghiên cứu trong nước và các nhà khoa học Việt Nam ở
nước ngoài tham gia đào tạo lao động kỹ thuật; Tăng cường đầu tư cho Giáo dục –
Đào tạo đúng với yêu cầu quốc sách hàng đầu”. Các tư tưởng và quan điểm trên đã
từng bước được thể chế hóa và cụ thể hóa trong hệ thống pháp luật, chính sách của
Nhà nước, đặc biệt trong Bộ luật lao động, Luật giáo dục, Luật dạy nghề…cũng như
các văn bản dưới luật. Luật giáo dục đã xác định “giáo dục nghề nghiệp” là một cấu
phần quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó đã quy định những điều
khoản rất cụ thể về quyền lợi và trách nhiệm của các bên trong quan hệ giáo dục đào tạo nghề nghiệp (người học, người đào tạo, người sử dụng…) Quyết định số
70/1997/QĐ-TTg ngày 17/11/1997 của Thủ tướng Chính phủ đã quy định GV dạy
nghề được hưởng phụ cấp ưu đãi ở mức 35% lương theo ngạch, bậc.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy tỉnh Long An Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 03
tháng 4 năm 2007 về phát triển đào tạo nghề giai đoạn 2006 - 2010 và những năm
tiếp theo. Ngày 28 tháng 3 năm 2008 UBND tỉnh ban hành quyết định số
13/2008/QĐ-UBND về ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số
07-NQ/TU ngày 03 tháng 4 năm 2007 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển đào

19


tạo nghề giai đoạn 2008 - 2010 và những năm tiếp theo trên địa bàn tỉnh Long
An.ỦY Ban Nhân dân tỉnh Long An ban hành đề án “Đào tạo nghề tỉnh Long An



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status