VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ CÔNG VINH
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI II
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ CÔNG VINH
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI II
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
2.3. Thực trạng hoạt động về công tác xã hội của Trung tâm Bảo trợ xã
hội II Hà Nội ............................................................................................. 39
2.4. Đánh giá chung về thực trạng tổ chức và hoạt động về công tác xã hội
của Trung tâm Bảo trợ xã hội II Hà Nội................................................... 46
Chƣơng 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG VỀ
CÔNG TÁC XÃ HỘI TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI II
HÀ NỘI ........................................................................................................... 51
3.1. Nhu cầu hoàn thiện tổ chức và hoạt động về công tác xã hội từ thực
tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội II Hà Nội .................................................. 51
3.2. Giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động về công tác xã hội từ thực
tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội II Hà Nội .................................................. 52
KẾT LUẬN...................................................................................................... 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................... 65
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CTXH
Công tác xã hội
NVXH
Nhân viên xã hội
UBND
Ủy ban nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới Công tác xã hội là một nghề chuyên môn, với mục đích
giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, thúc đẩy chất lƣợng cuộc sống và hạnh
phúc của con ngƣời. Gần một thế kỷ qua công tác xã hội đã giải quyết đƣợc
nhiều vấn đề xã hội, tăng cƣờng phúc lợi xã hội, mang lại công bằng cho con
ngƣời và xã hội thông qua việc hỗ trợ, tác động đối với cá nhân, gia đình,
nhóm và cộng đồng.
Tại Việt Nam, ngày 25 tháng 3 năm 2010 Thủ tƣớng Chính phủ đã ký
ban hành Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nghề
công tác xã hội. Đây đƣợc xem là một đề án có ý nghĩa chiến lƣợc phát triển
nghề công tác xã hội nhằm góp phần phát triển kinh tế- xã hội của đất nƣớc.
Để triển khai và thực hiện Đề án phát triển nghề công tác xã hội cần phải xây
dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công
tác xã hội đủ về số lƣợng, đáp ứng yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ để phát
triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại cộng đồng dân cƣ và
các cơ sở bảo trợ xã hội đang thực hiện nhiệm vụ quản lý, chăm sóc nuôi
dƣỡng đối tƣợng bảo trợ xã hội là một công việc cần đƣợc triển khai nhanh
chóng, kịp thời ở tất cả các tỉnh thành phố trên phạm vi cả nƣớc.
Cơ sở xã hội nói chung, trong đó có các cơ sở có sử dụng các phƣơng
pháp công tác xã hội nói riêng đều cần đến kiến thức kỹ năng và phƣơng pháp
quản lý, đặc biệt là quản lý trong ngành công tác xã hội. Cũng nhƣ các ngành
nghề khác, ngành công tác xã hội bao gồm các các cơ sở, nơi có đội ngũ nhân
viên công tác xã hội chuyên nghiệp làm việc, vì vậy nhà quản lý các cơ sở này
phải sử dụng đến kiến thức quản lý để điều hành công việc có hiệu quả.
Quản lý công tác xã hội là công cụ quan trọng để tối đa hóa tính hiệu
quả của các chƣơng trình hoạt động công tác xã hội để giải quyết các vấn đề
xã hội và cải thiện điều kiện xã hội tốt hơn.
1
2
hội thêm hăng say nghiên cứu, giúp cho lý luận công tác xã hội thêm hoàn
thiện. Bên cạnh đó là cơ sở cho hoạt động thực tiễn, hoạt động hỗ trợ đối
tƣợng yếu thế thêm hiệu quả.
Để thuận lợi cho việc theo dõi, tôi phân loại các công trình nghiên cứu,
các bài viết khoa học tiêu biểu theo các nội dung chính sau:
Thứ nhất, các nghiên cứu về cơ sở pháp lý về nghề công tác xã hội
Quyết định phê duyệt Đề án phát trển nghề công tác xã hội ở Việt Nam
giai đoạn 2010-2020 của Chính phủ đã đặt nền móng vững chắc về cơ hội
phát triển cho nghề công tác xã hội. Mục tiêu của Đề án phát triển công tác xã
hội trở thành một nghề ở Việt Nam, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về
nghề công tác xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng
tác viên công tác xã hội đủ về số lƣợng, đạt yêu cầu về chất lƣợng gắn với
phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, góp
phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến.
Để góp phần hoàn thiện khung pháp lý cho nghề công tác xã hội cũng
nhƣ các quy định có liên quan đến nhân viên xã hội và đối tƣợng xã hội, đã có
nhiều ý kiến đánh giá, góp ý, xây dựng để hoàn thiện hơn khung pháp lý này
từ thực tế nghề công tác xã hội trong những năm vừa qua, tiêu biểu là bài viết
“ Đánh giá kết quả thực hiện Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn
2010 - 2014” của tác giả Nguyễn Văn Hồi, Cục trƣởng Cục Bảo trợ xã hội có
đề cập một số khó khăn tồn tại: “Khuôn khổ pháp lý phát triển nghề công tác
xã hội chƣa đƣợc hoàn chỉnh, đặc biệt là vai trò, nhiệm vụ của cán bộ, viên
chức, nhân viên công tác xã hội chƣa đƣợc xác định cụ thể trong một số bộ
Luật, Luật liên quan nhƣ Bộ Luật Lao động, Bộ Luật Dân sự, Luật hôn nhân
và gia đình, Luật Phòng chống bạo lực gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em,… Đây là các quá trình rất phức tạp, cần
nhiều thời gian và liên quan đến nhiều Bộ, ngành khác nhau. Chế độ phụ cấp
5
việc dành thời gian bên con, trò chuyện với con nhằm kích thích sự phát triển
sớm của trẻ, tạo cơ hội cho trẻ giao lƣu với bạn cùng lứa. Nếu thấy con có
biểu hiện không bình thƣờng nên cho con đi kiểm tra đánh giá tại những cơ
quan uy tín để có thể phát hiện sớm và can thiệp kịp thời nhằm đảm bảo
tƣơng lai tốt đẹp của trẻ.
Việc làm cho người khuyết tật tại Việt Nam - từ chính sách đến thực
tiễn và vai trò của công tác xã hội của tác giả Phạm Huy Cƣờng. Ngoài nội
dung liên quan đến ngƣời khuyết tật, bài viết có đề cập đến vai trò của công
tác xã hội, đặc biệt là nội dung nhấn mạnh quá trình nỗ lực tự thân của những
ngƣời làm công tác xã hội, bên cạnh đó cần hết sức quan tâm đến các hoạt
động giao lƣu quốc tế, những kinh nghiệm của bạn bè quốc tế, cũng nhƣ các
hỗ trợ kỹ thuật hay vật chất có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy nhanh và mạnh
lĩnh vực công tác xã hội ở Việt Nam, sớm đáp ứng nhu cầu của xã hội nói
chung, cũng nhƣ nhu cầu của ngƣời khuyết tật, vấn đề việc làm nói riêng.
Với mỗi đối tƣợng, mỗi hoàn cảnh, mỗi vấn đề thì nhân viên xã hội có
những vai trò hỗ trợ khác nhau, điều này đòi hỏi nhân viên xã hội luôn trang
bị cho mình những yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp, ham
học hỏi, năng động và sống nhiệt huyết với tình yêu nghề lớn để tận tâm, tận
lực hỗ trợ cho những đối tƣợng yếu thế có một cuộc sống ấm no, bình an và
hạnh phúc.
Thứ tư, nghiên cứu thực trạng triển khai các đề án, chương trình của
Chính phủ liên quan đến công tác xã hội.
Bài viết “Phát triển công tác xã hội ở Việt Nam về phương diện pháp
luật” của tác giả Hà Đình Bốn tại Hội thảo quốc tế về chia sẻ kinh nghiệm về
an sinh xã hội và công tác xã hội, ngày hội công tác xã hội 2012 tại trƣờng
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội. Bài viết đƣa ra một số hạn chế
về công tác xã hội ở Việt Nam, đối với những nội dung đã đƣợc pháp luật quy
7
Nhƣ vậy, có thể thấy các hoạt động công tác xã hội quy mô và phạm vi
hoạt động các dịch vụ xã hội của hoạt động công tác xã hội còn hạn chế, chƣa
hình thành ở trong các ngành y tế, giáo dục, tƣ pháp,… Bên cạnh đó, các hình
thức trợ giúp, các dịch vụ công tác xã hội chƣa phong phú và chất lƣợng cũng
nhƣ hiệu quả chƣa cao. Các hoạt động hiện tại mang nặng tính quản lý nhà
nƣớc hơn là hƣớng dẫn hỗ trợ cung cấp các dịch vụ công cho đối tƣợng có
hoàn cảnh đặc biệt nhằm giúp họ tự giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh,
phƣơng thức can thiệp giải quyết vấn đề chủ yếu là xử lý vấn đề khi sự việc
xảy ra chứ chƣa chú trọng đến cả biện pháp phòng ngừa, do vậy kết quả chƣa
đƣợc thực sự hiệu quả.
Việt Nam, một dân tộc vốn giàu truyền thống nhân đạo, trong quá trình
hội nhập quốc tế đã, đang hình thành và phát triển công tác xã hội nhƣ một
ngành, nghề, một khoa học trong hệ thống khoa học xã hội và nhân văn. Cũng
nhƣ nhiều nƣớc khác trên thế giới, công tác xã hội ở Việt Nam đã sớm hình
thành từ lịch sử hàng nghìn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc. Truyền thống “Lá
lành đùm lá rách”, “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”,… thấm đƣợm
trong đời sống của mỗi ngƣời dân Việt Nam. Đó là tiền đề cho công tác xã hội
đƣợc công nhận và phát triển cùng với sự phát triển của thời đại, là điều kiện
tiên quyết góp phần nâng cao trình độ, chuyên môn của nhân viên xã hội theo
hƣớng chuyên nghiệp hơn. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu cụ thể về vấn đề
trên hiện chƣa đƣợc đề cập nhiều mà chủ yếu chỉ là các bài báo, các phóng sự,
hội thảo thể hiện ở góc độ nhìn nhận, đánh giá khái quát về đội ngũ nhân viên
xã hội trong hoạt động công tác xã hội ở các cấp nói chung.
Với tình hình thực tế về nguồn nhân lực trong công tác xã hội còn yếu
và thiếu nhƣ hiện nay cần có nhiều hơn nữa các công trình nghiên cứu nhằm
nâng cao cả về chất lƣợng và số lƣợng đội ngũ hoạt động công tác xã hội.
Chính vì thế đề tài này tôi đi sâu tìm hiểu về nhân viên xã hội trong hoạt động
9
4.2. Phạm vi nghiên cứu
a. Phạm vi không gian
Phạm vi về đối tƣợng: Nghiên cứu công tác tổ chức hoạt động của các
nhân viên xã hội trong hoạt động công tác xã hội. Cụ thể là các yêu cầu của
nhân viên xã hội nhƣ yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp;
Nghiên cứu vai trò của nhân viên xã hội trong hoạt động công tác xã hội.
Phạm vi khách thể: gồm 2 nhóm khách thể, cụ thể:
Nhân viên xã hội và cán bộ lãnh đạo là 69 ngƣời (Ban Giám đốc, các
phòng ban chức năng của trung tâm)
Đối tƣợng xã hội/thân chủ: 230 ngƣời
b. Phạm vi thời gian: Từ tháng 6 năm 2015 đến tháng 6 năm 2016
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: Từ những đánh giá thực
trạng tổ chức và hoạt động về công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ
xã hội II, thành phố Hà Nội làm cơ sở đƣa ra giải pháp nhằm góp phần nâng
cao chất lƣợng tổ chức và hoạt động công tác xã hội tại các cơ sở bảo trợ xã
hội nói chung, tại trung tâm Bảo trợ xã hội II Hà Nội nói riêng.
Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: Nghiên cứu hệ thống những
lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố liên quan nhƣ:
Đề án phát triển nghề công tác xã hội Việt Nam giai đoạn 2010-2020 (Quyết
định số 32/2010/QĐ-TTg) ngày 25/3/2010 của Thủ tƣớng Chính phủ, hệ
thống các văn bản hƣớng dẫn thực hiện nghề công tác xã hội …
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phƣơng pháp phân tích tài liệu: Sử dụng phƣơng pháp này nhằm thu
thập, tổng hợp, phân tích tài liệu từ sách, báo, tạp chí, các báo cáo khoa học
để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu. Qua đó cũng xác định đƣợc
11
Phƣơng pháp quan sát: Với phƣơng pháp này, tôi tiến hành làm việc
với các phòng, ban trong trung tâm là nơi trực tiếp chăm sóc, triển khai các
dịch vụ nhiều lần vào nhiều khoảng thời gian khác nhau, cùng tham gia vào
các hoạt động của trung tâm và các nhóm đối tƣợng để quan sát, nắm bắt. Để
đạt đƣợc mục đích nghiên cứu, tôi chú trọng quan sát những hoạt động diễn ra
tại trung tâm; các hoạt động hàng ngày của các đối tƣợng; môi trƣờng vật
chất; các phƣơng tiện, kỹ thuật, trang thiết bị; các công trình công cộng đáp
ứng nhu cầu của đối tƣợng trong sinh hoạt hàng ngày.
Phƣơng pháp đàm thoại: Tiến hành đàm thoại với 5 cán bộ và 15 đối
tƣợng tại Trung tâm. Thông qua các cuộc trò chuyện để khai thác thêm thông
tin, hỗ trợ các phƣơng pháp khác trong việc xử lý phân tích và đƣa ra kết luận
khách quan. Nội dung đàm thoại là những hoạt động CTXH đang triển khai trợ
giúp cho đối tƣợng, đánh giá kết quả đạt đƣợc thông qua can thiệp CTXH với
các nhóm đối tƣợng, nhu cầu về CTXH của trung tâm hiện nay, những khó
khăn của trung tâm trong việc triển khai, tổ chức hoạt động công tác xã hội.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Về mặt lý luận nghiên cứu về tổ chức và hoạt động về công tác xã hội
từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội II thành phố Hà Nội có ý nghĩa khoa
học quan trọng. Các kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho
công tác tổ chức và hoạt động công tác xã hội tại các trung tâm bảo trợ xã hội.
Đồng thời chúng còn có ý nghĩa tham khảo cho những ai đang nghiên cứu,
quan tâm đến lĩnh vực này.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài giúp chúng tôi có cái nhìn đúng đắn về tổ chức và hoạt động
công tác xã hội từ thực tiễn Trung tâm Bảo trợ xã hội II Hà Nội hiện nay. Kết
quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích tại các cơ sở đào tạo
1.1. Các khái niệm tổ chức và hoạt động về công tác xã hội
1.1.1. Khái niệm tổ chức và hoạt động
- Khái niệm tổ chức:
Có nhiều định nghĩa khác nhau về tổ chức, một định nghĩa có ý nghĩa
triết học sâu sắc: Tổ chức, nói rộng, là cơ cấu tồn tại của sự vật. Sự vật không
thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội
dung. Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật.
Định nghĩa này bao quát cả phần tự nhiên và xã hội loài ngƣời. Thái
dƣơng hệ là một tổ chức, tổ chức này liên kết mặt trời và các thiên thể có
quan hệ với nó, trong đó có trái đất. Bản thân trái đất cũng là một tổ chức, cơ
cấu phù hợp với vị trí của nó trong thái dƣơng hệ. Giới sinh vật cũng có một
tổ chức chặt chẽ bảo đảm sự sinh tồn và thích nghi với môi trƣờng để không
ngừng phát triển. Từ khi xuất hiện loài ngƣời, tổ chức xã hội loài ngƣời cũng
đồng thời xuất hiện. Tổ chức ấy không ngừng hoàn thiện và phát triển cùng
với sự phát triển của nhân loại. Theo nghĩa hẹp đó, tổ chức là một tập thể của
con ngƣời tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt
tới một mục tiêu xác định của tập thể đó.
- Khái niệm hoạt động
Theo tâm lý học: Hoạt động là phƣơng thức tồn tại của con ngƣời trong
thế giới. Hoạt động tạo nên mối quan hệ tác động qua lại giữa con ngƣời với
thế giới khách quan và với chính bản thân mình, qua đó tạo ra sản phẩm cả về
phía thế giới (khách thể), cả về phía con ngƣời (chủ thể).
1.1.2. Khái niệm tổ chức và hoạt động về công tác xã hội
- Khái niệm công tác xã hội:
14
Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH (NASW): Công tác xã hội là hoạt
động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng
phải sử dụng đến kiến thức quản trị để điều hành công việc có hiệu quả.
Quản lý công tác xã hội là phƣơng pháp quan trọng để tối đa hóa tính
hiệu quả của các chƣơng trình hoạt động công tác xã hội và cải thiện điều
kiện xã hội tốt hơn.
Quản lý công tác xã hội cung cấp nền tảng để thực hành công tác xã hội
liên quan đến các chức năng của cơ sở xã hội. Chất lƣợng thực hành công tác
xã hội phần lớn phụ thuộc vào cách quản lý công tác xã hội.
- Khái niệm hoạt động về công tác xã hội:
Hoạt động công tác xã hội là việc triển khai các công việc để thực hiện
chức năng quản lý công tác xã hội, liên quan đến việc cung ứng, phân phối
các nguồn tài nguyên xã hội giúp con ngƣời đáp ứng nhu cầu của họ và phát
huy tiềm năng bản thân.
Các hoạt động về công tác xã hội: Hoạt động về công tác xã hội bao
gồm các hoạt động:
- Khảo sát cộng đồng.
- Xác định mục đích của cơ sở để chọn lựa.
- Cung cấp các nguồn tài chính, lập ngân sách và kế toán.
- Triển khai các chính sách của cơ sở, các chƣơng trình và biện pháp
thực hiện.
- Làm việc với ban lãnh đạo cơ sở, nhân viên chuyên nghiệp và không
chuyên nghiệp, ban điều hành, các ủy ban chuyên môn và những ngƣời tình
nguyện.
- Cung cấp bảo trì máy móc, thiết bị hàng hóa vật dụng.
- Triển khai kế hoạch, thiết lập và duy trì các mối quan hệ hiệu quả với
cộng đồng và các chƣơng trình tăng cƣờng sự hiểu biết với cộng đồng.
16
- Giữ gìn đầy đủ và chính xác các tƣ liệu hoạt động của cơ sở và lập
báo cáo đều đặn.
cảnh bần cùng hóa. Nhƣ vậy ở Việt Nam bảo trợ xã hội có nội hàm hẹp hơn
so với an sinh xã hội và đƣợc triển khai dƣới hình thức trợ cấp xã hội trên
thực tế. Từ điển thuật ngữ an sinh xã hội của Bộ Lao động-Thƣơng binh và
Xã hội không có thuật ngữ “bảo trợ xã hội” mà chỉ có khái niệm “trợ giúp xã
hội” là “sự trợ giúp bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật của nhà nƣớc (lấy từ
nguồn thuế, không phải đóng góp từ ngƣời dân) nhằm bảo đảm mức sống tối
thiểu cho đối tƣợng đƣợc nhận.
Mặc dù các tổ chức phát triển quốc tế đều sử dụng định nghĩa riêng về
bảo trợ xã hội song tất cả đều nhấn mạnh bản chất của bảo trợ xã hội thông
qua các can thiệp chính sách cần thiết của nhà nƣớc và các hoạt động tình
nguyện ở cộng đồng. Lấy ví dụ, Ngân hàng Thế giới (WB) nhấn mạnh vào
việc kiềm chế nguy cơ gây tổn thƣơng, làm mất nguồn sinh kế. Trong khi
đó, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) lại hƣớng vào khả năng duy trì mức
sống thông qua việc làm nhƣ một quyền của ngƣời lao động, đặc biệt trong
khu vực phi chính thức. Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) lại chú trọng
đến tính dễ tổn thƣơng của ngƣời dân khi gặp rủi ro nếu không có sự bảo trợ
xã hội. Nhƣng cho dù theo định nghĩa nào, các tổ chức quốc tế đều thống
nhất trong cách tiếp cận coi bảo trợ xã hội nhƣ một biện pháp kiềm chế nguy
cơ bị tổn thƣơng, duy trì đƣợc thu nhập, sinh kế, tránh rơi vào đói nghèo.
Mục đích của bảo trợ xã hội nhằm đảm bảo thu nhập và các điều kiện sống
thiết yếu đối với các trƣờng hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ sức lo
liệu đƣợc cuộc sống.
Đối với Việt Nam, bảo trợ xã hội nhƣ một lƣới an toàn nhằm bảo đảm
sự an toàn về đời sống của ngƣời dân khi họ bị rơi vào hoàn cảnh rủi ro và tự
bản thân không khắc phục đƣợc. Các hoạt động cứu trợ xã hội, giảm nghèo
18
nhằm hạn chế nguy cơ dễ bị tổn thƣơng ở những đối tƣợng yếu thế, mất
nguồn thu nhập và sinh kế, và không có điều kiện tiếp cận đƣợc các dịch vụ