ĐỀ CƯƠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI - Pdf 38

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI
I. Những vấn đề cơ bản của quản lí hành chính nhà nước
1. Khái quản lí hành chính nhà nước:
* Khái niệm quản lí hành chính nhà nước: là hoạt động thực thi quyền hành
pháp của Nhà nước. Đó là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực
pháp luật nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của con người do các
cơ quan quản lí hành chính nhà nước thực hiện, nhằm duy trì và phát triển cao các
mối quan hệ và trật tự pháp luật, thoả mãn nhu cầu hợp pháp của con người trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
3. Bản chất và đặc điểm của quản lí hành chính nhà nước:
* Bản chất:
- Là hoạt động chấp hảnh và điều hành. Điều hành là việc chỉ đạo trực tiếp đối
tượng bị quản lí, chấp hành thể hiện ở việc thực hiện và ban hành các văn bản
pháp luật của nhà nước.
* Đặc điểm:
- Mang tính chất quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao và tính mệnh lệnh đơn
phương
+ Quyên lực hành chính nhà nước bắt nguồn từ quyền lực nhà nước.
+ Tính mệnh lệnh đơn phương: khách thể quản lí phải phục tùng mệnh lệnh của
chủ thể quản lí 1 cách nghiêm túc, nếu không phải truy cứu trách nhiệm và xử lí
theo pháp luật 1 cách nghêm minh, bình đẳng.
- Có mục tiêu chiến lược, có chương trình và có kế hoạch để thực hiện mục tiêu:
+ Trong quản lí, hoạt động đề ra mục tiêu được coi là chức năng đầu tiên và cơ
bản.
+ Có mục tiêu tổng hợp: chính trị, kinh tế, quốc phòng an ninh, văn hoá, xã hội,
ngoại giao → mang tính chất lâu dài, có tính thứ bậc hành chính tạo thành 1 hệ
thống mục tiêu từ trung ương đến cơ sở.
- Có tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt cao. Thể hiện ở hoạt động xây dựng các
văn bản pháp quy hành chính điều chỉnh các hoạt động quản lí, những quan hệ
mới phát sinh chưa ổn định và chưa được luật điều chỉnh.
- Có tính lien tục và tương đối ổn định.

thông tin chính xác và kết luận khoa học.
- Chức năng kế hoạch hoá: là xác định mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể về tý lệ, tốc độ,
phương hướng và chỉ tiêu về số lượng, chất lượng cụ thể.
- Chức năng tổ chức: là hoạt động tạo lập hệ thống quản lí và bị quản lí.
- Chức năng điều chỉnh: là chức năng có mục đích thiết lập chế độ cho hoạt động
nào đó mà không tác động trực tiếp đến nội dung hoạt động, nó được thực hiện
bằng việc ban hành các văn bản pháp quy.
- Chức năng lãnh đạo: là chức nằng định hướng cho hoạt động quản lí, xác định
các xử sự của các đối tượng bị quản lí thông qua hình thức ban hành các chủ
trương đường lối có tính chất chiến lược.
- Chức năng điều hành: là hoạt động chỉ đạo trực tiếp hành vi của đối tượng bị
quản lí thông qua qua việc ban hành các quyết định cá biệt, cụ thể có tính chất tác
nghiệp. Đây là chức năng đặc trưng của các chủ thể quản lí cấp “vĩ mô”.
- Chức năng phối hợp: là sự phối hợp các hoạt động riêng rẽ của từng người, cơ
quan, tổ chức thừa hành để thực hiện các nhiệm vụ chung. Trong điều kiện khoa
học – kĩ thuật phát triển, quá trình chuyên môn hoá sâu sắc, nhiều quá trình diễn ra
đồng thời với xu hướng ngày càng xuất hiện nhiều vấn đề phải giải quyết theo
quan điểm tổng thể thì hoạt động điều hoà phối hợp càng có ý nghĩa quan trọng.
- Chức năng kiểm tra: là chức năng quản lí có ý nghĩa xác định xem thực tế hoạt
động của đối tượng bị quản lí phù hợp hay không với trạng thái định trước. Nó cho
phép phát hiện và loại bỏ các lệch lạc có thể có của các đối tượng bị quản lí hoặc
chỉnh lí lại các quyết định đã ban hành trước đây cho phù hợp với thực tế và yêu
cầu của nhiệm vụ quản lí.
Các chức năng quản lí nằm trong 1 hệ thống thống nhất liên quan chặt chẽ với
nhau, chức năng này có thể là khách thể của chức năng khác và ngược lại

2

2


- Tạo ra khả năng phát huy sức lực và trí tuệ của nhân dân, ngăn chặn tệ quan liêu,
thói cửa quyền của bộ máy nhà nước.
- Là nguyên tắc hiến định: Điều 53 Hiến Pháp 1992 ghi rõ: “Công dân có quyền
tham gia quản lí nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả
nước và địa phương, kiến nghị với các cơ quan, biểu quyết khi nhà nước trưng cầu
ý kiến”.
- Nhân dân tham gia QLNN dưới các hình thức:
+ Trực tiếp bỏ phiếu quyết định các vấn đề của địa phương.
+ Trực tiếp làm việc với cơ quan nhà nước.
3

3


+ Tham gia thảo luận các dự án pháp luật.
+ Giám sát hoạt động của các đại biểu do mình bầu ra, các nhân viên, các cơ quan
nhà nước.
* Nguyên tắc pháp chế: là nguyên tắc hiến định Điều 12 Hiến Pháp 1992 quy
định: “Nhà nước quản lí xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế
XHCN…”.- Đòi hỏi tổ chức và hoạt động QLHCNN hải dựa trên cơ sở pháp luật.
- Pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp
luật. Nếu có hành vi vi phạm pháp luật phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và
chịu xét xử theo pháp luật.
- Đề làm tốt nguyên tắc này cần phải thực hiện tốt các nội dung sau:
+ Xây dựng và hoàn chỉnh hê thống pháp luật.
+ Tổ chức thực hiện tốt pháp luật đã ban hành.
+ Xử lí nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật.
+ Tằng cường giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân.
* Nguyên tắc công khai: tổ chức hoạt động HCNN nhằm phục vụ lợi ích của
quốc gia và lợi ích hợp pháp của công dân nên cần công khai hoá, thực hiện đúng

- Quyết định hành chính: quyết định hành chính nhà nước là sự biêỷ thị ý chí của
nhà nước, là kết quả thực hiện quyền hành pháp, mang tính mệnh lệnh đơn phương
4

4


của quyền lực nhà nước.
II. Những vấn đề cơ bản của quản lí nhà nước về đất đai.
1. Khái niệm
* Khái niệm: Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu
của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử
dụng đất; phân phối và phân phối lại quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch;
kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi
từ đất đai.
2. Nguyên tắc QLHCNN về đất đai:

- Đảm bảo sự quản lý tập trung và thống nhất của Nhà nước: đất đai là tài
nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân. Vì vậy, không thể có bất kỳ
một cá nhân hay một nhóm người nào chiếm đoạt tài sản chung thành tài sản riêng
của mình được. Chỉ có Nhà nước - chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp cho toàn
dân mới có toàn quyền trong việc quyết định số phận pháp lý của đất đai, thể hiện
sự tập trung quyền lực và thống nhất của Nhà nước trong quản lý nói chung và
trong lĩnh vực đất đai nói riêng. Vấn đề này được quy định tại Điều 18, Hiến pháp
1992 "Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật,
bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả" và được cụ thể hơn tại Điều 5,
Luật Đất đai 2003 "Đất đai thuộc sởhữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở
hữu", "Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai", "Nhà nước thực hiện
quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất thông qua các chính sách tài chính về đất đai”.

tự an toàn xã hội trong lĩnh vực đất đai. Trong hoạt động xã hội, vấn đề đất đai gắn
chặt với lợi ích vật chât và tinh thân của mọi chủ thể sử dụng đất nên vấn đề này
dễ này sinh nhiều mâu thuẫn, trong các mâu thuẫn đó có những mâu thuẫn phải sử
dụng đến pháp luật mới giải quyết được.
+ Pháp luật là công cụ bắt buộc các tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ thuế đối
với nhà nước và các nghĩa vụ khác. Trong sử dụng đất đai, nghĩa vụ nộp thuế là
nghĩa vụ bắt buộc nhưng không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách đầy
đủ, có những trường hợp phải dùng biện pháp cưỡng chế và bắt buộc thì nghĩa vụ
đó mới được thực hiện.
+ Pháp luật là công cụ mà qua đó nhà nước đảm bảo sự bình đẳng,công bằng giữa
những người sử dụng đất. Nhờ những điều khoản bắt buộc, thông qua những chính
sách miễn giảm, thưởng phạt cho phép nhà nước thực hiện được sự bình đẳng
cũng như giải quyết mối quan hệ về lợi ích trong lĩnh vực sử dụng đất đai giữa
những người sử dụng đất.
+ Pháp luật là công cụ tạo điều kiện cho các công cụ quản lí khác, các chế độ
chính sách của nhà nước được thực hiện có hiệu quả hơn.
- Các công cụ pháp luật liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quản lí đất đai: Hiến
pháp, Luật đất đai, Luật dân sự, nghị định, quyết định, thông tư,…
* Công cụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
- Là công cụ quan trọng và là 1 nội dung không thể thiếu trong công tác quản lí
nhà nước về đất đai. Vì vậy Luật đất đai 2003 quy định "Nhà nước quản lí đất đai
theo quy hoạch và pháp luật".
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai phải đảm bảo cho sự lãnh đạo, chỉ đạo 1
cách thống nhất trong quản lí nhà nước về đất đai.
- Thông qua quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt, việc sử dụng đất đai được bố
trí sắp xếp 1 cách hợp lí.
- Nhà nước kiểm soát được mọi diễn biến về tình hình đất đai.
- Ngăn chặn được việc sử dụng đất sai mục đích, lãng phí.
- Hạn chế việc sử dụng đất đai bừa bãi, không đúng mục đích, việc giao đất mà
thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất không đúng thẩm quyền; đảm bảo

b) Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản
đồ hành chính;
c) Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện
trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất;
d) Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
đ) Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng
đất;
e) Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất;
g) Thống kê, kiểm kê đất đai;
h) Quản lý tài chính về đất đai;
i) Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động
sản;
k) Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất;
l) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử
lý vi phạm pháp luật về đất đai;
m) Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong
việc quản lý và sử dụng đất đai;
n) Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai.
3. Nhà nước có chính sách đầu tư cho việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà
nước về đất đai, xây dựng hệ thống quản lý đất đai hiện đại, đủ năng lực, bảo đảm
quản lý đất đai có hiệu lực và hiệu quả.
III. Hệ thống cơ quản quản lí nhà nước về đất đai
1. Sơ đồ Bộ Tài Nguyên và Môi Trường
7

7


2. Nhiệm vụ quyền hạn Phòng Tài Nguyên và Môi Trường:

theo quy định của pháp luật;
12.Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, thong tin về tài nguyên và môi
trường;
13.Báo cáo định kỳ 3 tháng, 6 tháng, 1 năm và đột xuất tình hình thực hiện nhiệm
vụ về các lĩnh vực công tác được giao cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện và Sở Tài
nguyên và Môi trường;
14.Quản lý cán bộ, công chức, viên chức; hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn,
nghiệp vụ đối với cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn. Tham gia với Sở Tài
nguyên và Môi trường trong việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức,
viên chức làm công tác quản lý tài nguyên và môi trường và cán bộ địa chính xã,
phường, thị trấn.
8

8


Căn cứ Khoản 3, Điều 1, Nghị định số 12/2001/NĐ-CP của Chính phủ và nhiệm
vụ được giao, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định về tổ chức cơ quan
chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về tài nguyên và
môi trường trên địa bàn.
Biên chế của cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà
nước về tài nguyên và môi trường do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết
định theo phân cấp của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
3. NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN, CỦA CÁN BỘ ĐỊA CHÍNH XÃ, PHƯỜNG,
THỊ TRẤN.
Cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn (gọi chung là cán bộ địa chính xã) giúp Ủy
ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) thực hiện
quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường trong phạm vi xã, chịu sự chỉ đạo,
hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Tài nguyên và Môi trường
và cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về tài



1. Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội,
quốc phòng, an ninh;
2. Được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp dưới
phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên; kế hoạch sử dụng
đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền quyết định, xét duyệt;
3. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp trên phải thể hiện nhu cầu sử dụng đất
của cấp dưới;
4. Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả;
5. Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường;
6. Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh;
7. Dân chủ và công khai;
8. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của mỗi kỳ phải được quyết định, xét duyệt
trong năm cuối của kỳ trước đó.
* Căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
1. Căn cứ để lập quy hoạch sử dụng đất bao gồm:
a) Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh
của cả nước; quy hoạch phát triển của các ngành và các địa phương;
b) Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước;
c) Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và nhu cầu của thị trường;
d) Hiện trạng sử dụng đất và nhu cầu sử dụng đất;
đ) Định mức sử dụng đất;
e) Tiến bộ khoa học và công nghệ có liên quan đến việc sử dụng đất;
g) Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất kỳ trước.
2. Căn cứ để lập kế hoạch sử dụng đất bao gồm:
a) Quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định,
xét duyệt;
b) Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm năm và hàng năm của Nhà nước;

huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn là mười năm.
2. Kỳ kế hoạch sử dụng đất của cả nước, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương,
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn là năm năm.
* Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
1. Chính phủ tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả
nước.
2. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức thực hiện việc
lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương.
3. Uỷ ban nhân dân huyện thuộc tỉnh tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất của địa phương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của thị trấn
thuộc huyện.
Uỷ ban nhân dân huyện, quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương, Uỷ ban
nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất của địa phương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các
đơn vị hành chính cấp dưới, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.
4. Uỷ ban nhân dân xã không thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị trong kỳ
quy hoạch sử dụng đất tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
của địa phương.
5. Quy hoạch sử dụng đất của xã, phường, thị trấn được lập chi tiết gắn với thửa
đất (sau đây gọi là quy hoạch sử dụng đất chi tiết); trong quá trình lập quy hoạch
sử dụng đất chi tiết, cơ quan tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch sử dụng đất phải
lấy ý kiến đóng góp của nhân dân.
Kế hoạch sử dụng đất của xã, phường, thị trấn được lập chi tiết gắn với thửa đất
(sau đây gọi là kế hoạch sử dụng đất chi tiết).
6. Uỷ ban nhân dân cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất trước khi trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
7. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải được trình đồng thời với kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội.
11

4. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất của cấp nào thì có thẩm quyền quyết định, xét duyệt điều chỉnh quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp đó.
*Công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Trong thời hạn không quá ba mươi ngày làm việc, kể từ ngày được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quyết định hoặc xét duyệt, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
phải được công bố công khai theo quy định sau đây:
1. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm công bố công khai quy
hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết của địa phương tại trụ sở
Uỷ ban nhân dân;
2. Cơ quan quản lý đất đai các cấp có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất của địa phương tại trụ sở cơ quan và trên các phương tiện
thông tin đại chúng;
3. Việc công bố công khai tại trụ sở Uỷ ban nhân dân và cơ quan quản lý đất đai
12

12


được thực hiện trong suốt thời gian của kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có
hiệu lực.
* Thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
1. Chính phủ tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của
cả nước; kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương.
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
của địa phương; kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa
phương cấp dưới trực tiếp.
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn tổ chức, chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế

1. Đất mà Luật này cho phép người sử dụng đất có một trong các quyền chuyển
đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất;
thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất;
2. Đất thuê mà trên đó có tài sản được pháp luật cho phép tham gia vào thị trường
bất động sản.
Đất được tham gia thị trường bất động sản nếu người sử dụng đất đó có đủ các
điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 106 của Luật này.
Đối với trường hợp đất mà Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện các dự án đầu tư
thì phải đầu tư vào đất theo đúng dự án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
xét duyệt.
- Điều kiện để quyền sử dụng đất được tham gia thị trường bất động sản là người
sử dụng đất đó có đủ các điều kiện sau: có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đất
không có tranh chấp; quyền sử dụng đất không bị kế biên để bảo đảm thi hành án;
trong thời hạn sử dụng đất.
- Khi đất đã đủ các điều kiện trên, với các trường hợp cụ thể sau, đất sẽ được tham
gia thị trường bất động sản:
+ Đối với đất nông nghiệp: Đất sản xuất nông nghiệp, đất rừng sản xuất không
phải là rừng tự nhiên, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối của hộ gia đình, cá
nhân được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất hoặc được Nhà nước công
nhận quyền sử dụng đất; đất nông nghiệp được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng
đất hoặc cho thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê đối với đối với tổ
chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân
nước ngoài.
+ Đất ở được Nhà nước giao hoặc công nhận quyền sử dụng đất đối với hộ gia
đình, cá nhân để làm nhà ở; đất ở được Nhà nước giao cho tổ chức kinh tế, người
Việt Nam định cư ở nước ngoài để đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở, đất ở được
nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê đối với người
Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài để đầu tư
xây dựng kinh doanh nhà ở.
+ Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng

pháp của mình;
-Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp
pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.
Ngoài ra, tuỳ trường hợp cụ thể người sử dụng đất có thể có các quyền sau:
chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử
dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền được
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất; quyền lựa chọn hình thức giao đất, thuê đất.
* Nghĩa vụ của người sử dụng đất:
- Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng quy định về sử dụng
độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công trình công cộng
trong lòng đất và tuân theo các quy định khác của pháp luật;
- Đăng ký quyền sử dụng đất, làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển nhượng,
cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh,
góp vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật;
-Thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật;
-Thực hiện các biện pháp bảo vệ và làm tăng khả năng sinh lợi của đất; tuân theo
các quy định về bảo vệmôi trường, không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của
người sử dụng đất có liên quan;
- Tuân theo các quy định của pháp luật về việc tìm thấy vật trong lòng đất;
- Giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất hoặc khi hết thời hạn sử
dụng đất.
* Quyền và nghĩa vụ của tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử
dụng đất
1. Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất có các quyền và
nghĩa vụ quy định tại Điều 105 và Điều 107 của Luật này.
2. Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất không có quyền
chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo
lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
3. Tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để xây
dựng các công trình không bằng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước được quyền

* Quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế sử dụng đất thuê
1. Tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 105 và Điều 107 của Luật này;
b) Thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại
các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam để vay vốn sản xuất, kinh
doanh theo quy định của pháp luật;
c) Bán tài sản, góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê;
người mua tài sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác
định;
d) Cho thuê lại đất đã được xây dựng xong kết cấu hạ tầng trong trường hợp được
phép đầu tư xây dựng kinh doanh kết cấu hạ tầng tại khu công nghiệp, khu công
nghệ cao, khu kinh tế;
đ) Tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất trước ngày Luật này có hiệu lực
thi hành mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất
cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là năm năm thì
có các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 110 của Luật này trong thời hạn đã trả
tiền thuê đất; trường hợp có nhu cầu chuyển sang hình thức giao đất có thu tiền sử
dụng đất thì phải nộp tiền sử dụng đất trừ đi tiền thuê đất đã trả và có các quyền,
nghĩa vụ quy định tại Điều 110 của Luật này.
2. Tổ chức kinh tế thuê lại đất trong khu công nghiệp thì có các quyền và nghĩa vụ
quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Tổ chức kinh tế sử dụng đất thuê của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân không thuộc
trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì có các quyền và nghĩa vụ theo quy
định của pháp luật về dân sự.
* Quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất
thuê
16

16


đây:
17

17


a) Các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 105 và Điều 107 của Luật này;
b) Bán, để thừa kế, tặng cho tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê;
người mua, người nhận thừa kế, người được tặng cho tài sản được Nhà nước tiếp
tục cho thuê đất theo mục đích đã được xác định;
c) Thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại
tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế hoặc cá
nhân để vay vốn sản xuất, kinh doanh;
d) Góp vốn bằng tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê trong thời
hạn thuê đất với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài để hợp tác sản xuất, kinh doanh.
2. Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất trước ngày Luật này có hiệu
lực thi hành mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền
thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là năm
năm thì có các quyền và nghĩa vụ quy định tại các khoản 1, 3, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều
113 của Luật này trong thời hạn đã trả tiền thuê đất; trường hợp có nhu cầu chuyển
sang hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất thì phải nộp tiền sử dụng đất trừ đi
tiền thuê đất đã trả và có các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 113 của Luật này.
3. Hộ gia đình, cá nhân thuê lại đất trong khu công nghiệp thì có các quyền và
nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này.
4. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân không
thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này thì có quyền và nghĩa vụ theo quy
định của pháp luật về dân sự.

18

cơ quan nhà nước, người sử dụng đất và các đối tượng khác có liên quan cung cấp
tài liệu và giải trình những vấn đề cần thiết cho việc thanh tra; quyết định tạm thời
đình chỉ việc sử dụng phần đất không đúng pháp luật và chịu trách nhiệm trước
pháp luật về quyết định đó, đồng thời báo cáo ngay với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền quyết định.
- Xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử
lý các vi phạm pháp luật về đất đai; các quyền khác theo quy định của pháp luật về
thanh tra.
- Các quyền theo quyết điịnh của pháp luật về thanh tra.
* Trách nhiệm: đoàn thanh tra và thanh tra viên đất đai khi tiến hành thanh tra có
trách nhiệm: xuất trình quyết định thanh tra, thẻ thanh tra viên với đối tượng thanh
tra; thực hiện chức năng, nhiệm vụ và trình tự, thủ tục thanh tra theo quy định của
pháp luật; chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận, quyết định của mình; thực
hiện các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật về thanh tra.
19

19


3. Nguyên tắc và thời hiệu xử phạt
*Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
- Mọi hành vi xử phạt vi phạm hành chính phải được phát hiện, đình chỉ, xử lí kịp
thời gắn với chính quyền cấp cơ sở, công tác thanh tra, kiểm tra đất đai. Việc xử
phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi
hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo quy định của
pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính và quy định của pháp luật có liên quan.
- Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai khi có vi
phạm hành chính quy định tại Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực này.
- Một vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính một lần. Nhiều người

đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính.
• Tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm hành chính mặc dù người có thẩm
quyền đã yêu cầu chấm dứt hành vi đó.
• Sau khi vi phạm có hành vi trốn tránh, che giấu vi phạm hành chính.
* Thời hiệu xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai.
- Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là 2 năm kể từ ngày
vi phạm hành chính thực hiện.
20

20


- Đối với cá nhân đã bị khởi tố hoặc đã có quyết định đưa ra xét xử theo thủ tục tố
tụng hình sự nhưng đã có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án mà hành
vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành
chính là 3 tháng kể từ ngày người có thẩm quyền xử phạt nhận được quyết định
đình chỉ và hồ sơ vụ vi phạm.
- Trường hợp hết thờ hiệu xử phạt vi phạm hành chính mà người vi phạm hành
chính chưa bị xử phạt thì người có thẩm quyền không thực hiện xử phạt vi phạm
hành chính mà áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quyết định quy định của
luật.
- Trong thời hạn quy định mà người có hành vi vi phạm lại có hành vi vi phạm
mới hoặnc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời hiệu xử phạt được tính
lại từ thời điểm có hành vi vi phạm mới hoặc kể từ thời điểm chấm dứt hành vi
trốn tránh, cảm trở việc xử phạt.

21

21


Bên cạnh việc hoà giải theo đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước, hoà giải viên cần phải kết hợp với các quy phạm đạo đức,
phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân. Pháp luật được thể hiện ở hệ
thống các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền ban hành. Phong tục, tập quán thường được thể hiện hoặc bằng
ngôn ngữ như luật tục của đồng bào các dân tộc thiểu số, các hương ước,
quy ước làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư, tổ dân phố, hoặc bằng các thói
quen ứng xử dưới dạng các hành động cụ thể. Phong tục, tập quán được
áp dụng phải là phong tục tập quán tốt đẹp, không trái với pháp luật và quy
tắc xây dựng nếp sống mới. Nếu phong tục, tập quán đã được quy định
trong các hương ước, quy ước làng thì phải được Chủ tịch Uỷ ban nhân
22

22


dân cấp huyện phê duyệt thực hiện. Đối với các hủ tục, tập quán lỗi thời
thì tuyệt đối không được vận dụng để hoà giải.
- Hoà giải phải tôn trọng sự tự nguyện của các bên, không bắt buộc,
áp đặt các bên tranh chấp phải tiến hành hoà giải
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoà giải ở cơ sở. Vì
bản chất của hoà giải ở cơ sở là việc hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các
bên tranh chấp đạt được thoả thuận trên cơ sở tự nguyện. Nguyên tắc này
nhằm bảo đảm quyền tự định đoạt của các bên có tranh chấp trong việc
giải quyết các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ.
Người làm công tác hoà giải phải hiểu được tâm lý của những người
đang có mâu thuẫn, tranh chấp, giữa họ ai cũng có những lý lẽ cho rằng
mình đúng và không chấp nhận lý lẽ của bên kia. Do đó, khi hoà giải, tổ
viên tổ hoà giải phải giúp họ bình tĩnh, tỉnh táo để nhìn nhận ra sự thật,
thấy rõ cái đúng, cái sai của cả hai bên. Chỉ khi nào họ hiểu đúng đắn và



trong từng trường hợp cụ thể hoà giải viên cần phải hiểu và nắm vững các
quy định của pháp luật để giải quyết sự việc và hướng dẫn các bên thực
hiện đúng quyền và nghĩa vụ của công dân theo quy định của pháp luật.
Việc tuân thủ nguyên tắc này chính là sự bảo đảm đạt được mục đích
của công tác hoà giải là giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố,
phát huy những tình cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp trong gia đình,
cộng đồng dân cư, phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm trật
tự, an toàn xã hội trong cộng đồng dân cư.
Trong quá trình thực hiện hoà giải, tổ viên Tổ hoà giải phải giữ bí mật
thông tin về đời tư của các bên tranh chấp. Khi đã được các bên tranh
chấp tin tưởng và thổ lộ thông tin thầm kín về đời tư của mình cho hoà giải
viên, thì hoà giải viên không được phép tiết lộ thông tin đó cho người khác.
Song cũng cần phân biệt giữa bí mật thông tin đời tư cá nhân và thông tin
bí mật của các bên tranh chấp về hành vi bất hợp pháp mà họ đã thực
hiện.
Bên cạnh đó, hoà giải phải tuân thủ nguyên tắc tôn trọng quyền và lợi
ích hợp pháp của người khác, không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi
ích công cộng. Nguyên tắc này mang tính pháp lý cao và thường được áp
dụng cho mọi loại hình hoà giải các tranh chấp kể cả việc hoà giải được
thực hiện bởi Toà án và tổ chức trọng tài. Đối với hoà giải ở cơ sở, các
tranh chấp, xích mích trong đời sống sinh hoạt hàng ngày liên quan đến
sử dụng lối đi qua nhà, sử dụng điện, nước sinh hoạt, vệ sinh môi
trường… thường liên quan đến nhiều người khác ngoài các bên tranh
chấp, do đó Tổ hoà giải không thể vì mục đích đạt được hoà giải thành mà
làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Việc hoà
giải phải tuân thủ nguyên tắc không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi
ích công cộng.
- Hoà giải phải kịp thời, chủ động, kiên trì nhằm ngăn chặn vi phạm

công tác hoà giải ở cơ sở là có nhiều việc tranh chấp trong cộng đồng dân
cư đòi hỏi tổ viên tổ hoà giải phải kiên trì việc hoà giải. Người hoà giải đến
gặp gỡ từng bên để lắng nghe, thuyết phục rồi sau đó tổ chức cho các bên
trực tiếp gặp nhau ở một nơi thuận tiện, giúp họ thông cảm với nhau. Cuộc
gặp gỡ phải tránh biến thành cuộc đối chất giữa hai bên trong bầu không
khí căng thẳng. Sau khi tìm hiểu đầy đủ sự việc, lắng nghe ý kiến của các
bên, người hoà giải phải bằng tất cả sự cảm thông, khéo léo phân tích,
thuyết phục cho các bên đạt tới thoả thuận phù hợp với pháp luật, đạo
đức, tập quán tốt đẹp của nhân dân và cùng nhau thực hiện những thoả
thuận
đó.
* Căn cứ để giải quyết tranh chấp đất đai:
* Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai: tranh chấp đất đai đã được hoà
giải tại UBND cấp xã mà 1 bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải
quyết như sau:
- Đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các Khoản 1, 2 và 5,
Điều 50 của Luật Đất đai 2003 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà
án nhân dân giải quyết.
- Đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các
Khoản 1, 2 và 5, Điều 50 của Luật Đất đai 2003 được giải quyết như sau:
+ Trường hợp Chủtịch UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết
lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải
quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương giải quyết; quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung
25

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status