NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC
TRONG MỘT SỐ TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRƯỚC YÊU CẦU TÁI CƠ
CẤU
PGS.TS. Lê Thanh Hà
Ths. Nguyễn Thị Hồng
Đại học Lao động - Xã hội
Theo Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày 17/7/2012 của Thủ tướng Chính phủ, các
Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước phải thực hiện tái cơ cấu. Trong quá trình thực hiện tái
cơ cấu này, tính hiệu quả của việc cải tiến tổ chức bộ máy và giải quyết lao động dôi dư
phụ thuộc nhiều vào năng lực của bộ phận chuyên trách quản trị nguồn nhân lực
(QTNNL). Bài viết sau đây sẽ giới thiệu khái quát kết quả khảo sát năng lực cán bộ
QTNNL trong một số tập đoàn kinh tế nhà nước và đề xuất một số khuyến nghị nhằm
tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ này trước yêu cầu tái cơ cấu.
1.
Khái quát về các tập đoàn kinh tế nhà nước.
Tập đoàn kinh tế nhà nước là nhóm các công ty liên kết chủ yếu dưới hình thức công
ty mẹ - công ty con, có từ 2 cấp doanh nghiệp trở lên, gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế,
công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác. Trong các tập đoàn này, doanh
nghiệp do nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ giữ vai trò chi phối hoặc ảnh hưởng
trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các doanh nghiệp thành viên. Trước năm 2011, Việt Nam
có 13 tập đoàn kinh tế nhà nước. Sau một giai đoạn tái cơ cấu, đến nay, số tập đoàn kinh
tế nhà nước còn 9 tập đoàn, gồm: Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam; Tập đoàn
Công nghiệp Cao su Việt Nam; Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản; Tập đoàn Dầu
khí Quốc gia Việt Nam; Tập đoàn Dệt - May Việt Nam; Tập đoàn Điện lực Việt Nam;
Tập đoàn Bảo Việt; Tập đoàn Viễn thông quân đội; Tập đoàn Hóa chất Việt Nam.
2.
Thực trạng năng lực đội ngũ cán bộ QTNNL tại các tập đoàn kinh tế.
QTNNL.
Ở phạm vi trụ sở chính của tập đoàn - Công ty mẹ, tỷ lệ cán bộ QTNNL cấp tập đoàn
chiếm 4,98% so với số lao động làm việc ở trụ sở chính và chiếm 0,027% so với tổng số
lao động toàn tập đoàn. Tuy nhiên, con số này rất chênh lệnh đáng kể giữa các tập đoàn.
Có tập đoàn tỷ lệ cán bộ nhân sự so với số lao động tại trụ sở chính chiếm tới 9,73%;
trong khi ở tập đoàn khác tỷ lệ này chỉ đạt 1,3%. Trên thực tế số lượng cán bộ QTNNL
cần có ở trụ sở chính phụ thuộc vào quan điểm của lãnh đạo tập đoàn về công tác
QTNNL và mức độ phân cấp, phân quyền giữa cấp tập đoàn và các đơn vị thành viên.
Nếu QTNNL được tiếp cận theo một mô hình chính thống gắn với hệ thống chính sách cơ
bản đồng bộ trong toàn tập đoàn, thì đội ngũ cán bộ QTNNL ở cấp tập đoàn sẽ đảm
nhiệm chức năng xây dựng mô hình QTNNL của tập đoàn, hệ thống chính sách cơ bản ở
phạm vi tập đoàn và hướng dẫn triển khai, quản lý thống nhất trong toàn tập đoàn. Thêm
vào đó, chức năng phát triển nguồn nhân lực cho toàn tập đoàn nếu được đặt ở công ty
mẹ thì khối lượng công việc ở cấp tập đoàn tăng và cần nhiều cán bộ QTNNL cấp tập
đoàn - công ty mẹ.
Về năng lực, 100% cán bộ QTNNL cấp tập đoàn trong các tập đoàn được khảo sát có
trình độ đại học và trên đại học. 83,33% có thâm niên trên 10 năm. Số cán bộ được đào
tạo đúng chuyên ngành chỉ chiếm 25,93% (cao hơn 3.97% so với phạm vi toàn tập đoàn).
Mặc dù ở cấp tập đoàn, cán bộ QTNNL có nhiệm vụ tham mưu cho lãnh đạo về tổ chức
bộ máy, xây dựng chính sách và phổ biến chính sách trong toàn tập đoàn và nhiều nhiệm
vụ khác ở tầm cao, có những đòi hỏi cao về năng lực chuyên môn, song phần lớn đội ngũ
cán bộ QTNNL cấp tập đoàn lại không được đào tạo đúng chuyên ngành. Đây là một khó
khăn cho đội ngũ cán bộ nhân sự của tập đoàn. Khảo sát nguyên nhân, có tới 70% tập
đoàn được khảo sát trả lời “không yêu cầu đúng chuyên môn QTNNL hoặc kinh tế lao
động khi tiến hành tuyển dụng cán bộ QTNNL”. Chỉ có một tập đoàn có quy định “ưu
tiên cho ứng viên đúng chuyên ngành”. Như vậy, các tập đoàn được khảo sát chưa thực
sự coi trọng yêu cầu về chuyên môn của cán bộ QTNNL.
Về các hoạt động mà tập đoàn đã thực hiện nhằm nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ
trình rà soát và đánh giá này nên có sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo tập đoàn. Kết quả
đánh giá sẽ khó đảm bảo tính khách quan nếu không có sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo
tập đoàn và định hướng tâm lý cán bộ. Mục tiêu của quá trình này trước hết là xây dựng
nhóm cán bộ chủ chốt tham gia triển khai đề án tái cơ cấu. Sau đó là tạo cơ sở để đề xuất
hướng đi tiếp theo trong tái cơ cấu đội ngũ cán bộ làm nhân sự toàn tập đoàn và cải thiện
năng lực đội ngũ cán bộ trước tình hình mới.
Hai là, các tập đoàn nên tiến hành tổ chức tập huấn cho nhóm cán bộ nhân sự chủ chốt
(bao gồm lãnh đạo bộ phận nhân sự, những người có năng lực chuyên môn khác) về cách
thức thực hiện nhiệm vụ tái cơ cấu và những khó khăn, thách thức trước yêu cầu tái cơ
cấu. Với kinh nghiệm và các kiến thức chuyên môn cơ bản, nhóm cán bộ chủ chốt vẫn
cần nắm rõ thêm về chủ trương, bối cảnh, thách thức và những khó khăn trong nhiệm vụ
của mình cũng như cách thức vượt qua chúng.
Ba là, mời các chuyên gia về kinh tế và QLNNL trong và ngoài nước trao đổi về các
hoạt động nghiệp vụ cơ bản liên quan đến tổ chức bộ máy, tái cơ cấu tổ chức bộ máy, tái
cơ cấu nguồn nhân lực và vấn đề lao động dôi dư cho nhóm cán bộ nhân sự chủ chốt, qua
đó giúp cán bộ QTNNL vững hơn về nghiệp vụ, cải thiện tầm nhìn, có cách tiếp cận hệ
thống mang tính chiến lược. Quá trình trao đổi với chuyên gia cần giúp cho đội ngũ cán
bộ tham gia đề án tái cơ cấu nhận thức rõ lộ trình và các kỹ thuật nghiệp vụ trong từng
bước triển khai cũng nhưng dự đoán các khó khăn có thể gặp phải và hướng tháo gỡ.
Bốn là, kịp thời rà soát nhân lực trong tập đoàn có chuyên môn về QTNNL để thuyên
chuyển bổ sung nhằm cải thiện năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ QTNNL hoặc
tuyển mới một số cán bộ có năng lực để bổ sung lực lượng. Đổi mới, tái cơ cấu tiềm ẩn
nhiều nguy cơ bất ổn. Bởi vậy, đội ngũ tham mưu tư vấn từ cấp tập đoàn đến các đơn vị
trực thuộc cần phải là những người vững chuyên môn có “trái tim nóng” và “cái đầu
lạnh” mới đảm đương được cái nhiệm vụ đầy thách thức này.
Năm là, cùng với quá trình triển khai tái cơ cấu tập đoàn, các tập đoàn cần cơ cấu lại đội
ngũ cán bộ QTNNL trên cơ sở thông tin sau rà soát đánh giá năng lực và phân cấp trong
công tác QTNNL trước yêu cầu của tình hình mới. Muốn đảm bảo tính chủ động, sức