Bước đầu tìm hiểu về phong tục cưới xin của người mông ở huyện si ma cai tỉnh lào cai - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

VÀNG THỊ DẾ

BƢỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ PHONG TỤC CƢỚI XIN
CỦA NGƢỜI MÔNG Ở HUYỆN SI MA CAI - TỈNH LÀO CAI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, năm 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

VÀNG THỊ DẾ

BƢỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ PHONG TỤC CƢỚI XIN
CỦA NGƢỜI MÔNG Ở HUYỆN SI MA CAI - TỈNH LÀO CAI

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: ThS. Phí Thị Toan

Sơn La, năm 2015


LỜI CẢM ƠN

5. Đóng góp của khóa luận .................................................................................... 4
6. Cấu trúc của khóa luận ...................................................................................... 5
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC VÀ VĂN HÓA CỦA NGƢỜI
MÔNG .................................................................................................................. 6
1.1. Khái quát về dân tộc Mông ............................................................................ 6
1.1.1.Địa vực cư trú ............................................................................................... 6
1.1.2. Nguồn gốc lịch sử và tên gọi....................................................................... 8
1.2. Khái quát về văn hóa của người Mông ........................................................ 11
1.2.1. Đời sống kinh tế (văn hóa mưu sinh) ........................................................ 11
1.2.2. Đặc điểm văn hóa vật chất và tinh thần .................................................... 12
CHƢƠNG 2: PHONG TỤC CƢỚI XIN CỦA NGƢỜI MÔNG Ở HUYỆN
SI MA CAI - TỈNH LÀO CAI ......................................................................... 16
2.1. Quan niệm của người Mông về phong tục cưới xin và lựa chọn vợ chồng
............................................................................................................................. 16
2.1.1. Quan niệm về phong tục cưới xin ............................................................. 16
2.1.2. Quan niệm khi chọn vợ, chồng ................................................................. 17
2.2. Những tác động ảnh hưởng đến tình yêu và hôn nhân ................................ 18
2.2.1. Tác động từ gia đình.................................................................................. 18


2.2.2. Tác động từ kinh tế - xã hội ...................................................................... 20
2.3. Những nghi lễ trong phong tục cưới xin của người Mông ở huyện Si Ma Cai
- tỉnh Lào Cai....................................................................................................... 21
2.3.1. Lễ ăn hỏi .................................................................................................... 21
2.3.2. Chuẩn bị Lễ cưới ....................................................................................... 24
2.3.2. Lễ cưới ở nhà trai (tub tog) ....................................................................... 26
2.3.3. Lễ cưới ở nhà gái (txhai tog) ..................................................................... 29
2.3.4. Lễ lại mặt (rov rooj) .................................................................................. 34
CHƢƠNG 3: PHONG TỤC CƢỚI XIN CỦA NGƢỜI MÔNG Ở HUYỆN
SI MA CAI - TỈNH LÀO CAI SO VỚI CÁC ĐỊA PHƢƠNG KHÁC ........ 35

cũng có một nền văn hóa mang đậm đà bản sắc dân tộc với những nét văn hóa
riêng, đặc trưng riêng của mình như phong tục cưới, tục ma chay, thờ cúng tổ
tiên, lễ hội… Trong sự phát triển chung ấy không thể không kể đến sự đóng góp
của người Mông ở huyện Si Ma Cai - tỉnh Lào Cai, do đó việc tìm hiểu đời sống
kinh tế vật chất và đời sống văn hóa tinh thần của người Mông là một điều vô
cùng quan trọng, nó không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ về đời sống của họ mà còn
góp phần nâng cao hiểu biết của mình một cách toàn diện và sâu sắc cũng như
nhìn nhận đánh giá chính xác hơn về dân tộc Mông ở huyện Si Ma Cai - tỉnh
Lào Cai nói riêng và người Mông nói chung. Phong tục cưới xin của người
Mông ở huyện Si Ma Cai là một phong tục đẹp mang đậm bản sắc riêng của dân
1


tộc Mông, vì thế cần được nghiên cứu, tìm hiểu, khôi phục làm rõ nét đặc sắc
trong cưới xin của người Mông để giúp cho nền văn hóa nước ta thêm đa dạng
và phong phú. Cho đến nay cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về dân tộc
Mông đã được công bố nhưng cũng do nhiều lí do khác nhau nên hiện tại vẫn
chưa có công trình nào nghiên cứu về phong tục cưới xin của người Mông ở
huyện Si Ma Cai - tỉnh Lào Cai một cách hệ thống, cụ thể, chi tiết. Nên tôi đã
quyết định chọn đề tài: “Bƣớc đầu tìm hiểu về phong tục cƣới xin của ngƣời
Mông ở huyện Si Ma Cai - tỉnh Lào Cai” là khóa luận của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu
Đất nước Việt Nam ta là một nước đa dân tộc với 54 dân tộc anh em cùng
nhau chung sống đã có sự hài hòa về mặt kinh tế xã hội, trong đó đặc biệt là
trong lĩnh vực văn hóa thì mỗi một dân tộc lại có những nét đặc trưng của dân
tộc mình nên đã tạo nên một văn hóa mang đậm đà bản sắc dân tộc tạo nên văn
hóa Việt. Do đó việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa của các
dân tộc đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Chính vì vậy mà việc nghiên cứu về đời sống của các dân tộc, đặc biệt là đời
sống văn hóa của tất cả các dân tộc nói chung và dân tộc Mông nói riêng đã thu

3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: “phong tục cưới xin của người Mông ở huyện Si Ma
Cai - tỉnh Lào Cai”.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận sẽ đi sâu và tập trung vào nghiên cứu về “phong tục cưới xin của
người Mông ở huyện Si Ma Cai - tỉnh Lào Cai”, trong phạm vi tập trung vào
nghiên cứu ở các xã Sín Chéng, Nàn Sín, Thào Chư Phìn, Bản Mế, Cán Cấu,
Mản Thẩn, Lử Thẩn, Sán Chảy, Cán Hồ, … với diện tích là 234,54 km2. Có sự
so sánh với các địa phương khác.
3.3. Mục đích nghiên cứu
Việc tìm hiểu “phong tục cưới xin của người Mông ở huyện Si Ma Cai tỉnh Lào Cai”, góp phần tìm hiểu những nét đặc trưng trong văn hóa truyền
thống của người Mông. Khóa luận nhằm tái hiện lại và dựng lại bức tranh đám
cưới của dân tộc Mông và ở mỗi nơi thì phong tục cưới của người Mông lại
mang những nét đặc trưng riêng, để mọi người trong và ngoài nước hiểu được
3


phong tục cưới của người Mông một cách sâu sắc chi tiết và để thấy được bản
sắc, những nét độc đáo trong tục cưới xin của người Mông. Khóa luận giới thiệu
những nét văn hóa của người Mông, trên cơ sở đó phát huy những giá trị đặc
sắc, những mặt tiến bộ tích cực trong “phong tục cưới xin của người Mông”
đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm loại bỏ những phong tục tập quán hủ tục
không phù hợp với xu thế phát triển của xã hội.
4. Cơ sở tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở tƣ liệu
- Khóa luận được thực hiện trên cơ sở các nguồn tài liệu lưu trữ ở Trung
ương và địa phương bằng tiếng việt.
- Tài liệu điền dã địa phương ở huyện Si Ma Cai - tỉnh Lào Cai
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở nền tảng của phương pháp luận sử học Mác xít và tư tưởng Hồ

Chương 1: Khái quát về dân tộc và văn hóa của người Mông
Chương 2: Phong tục cưới xin của người Mông ở huyện Si Ma Cai - tỉnh
Lào Cai
Chương 3: Phong tục cưới xin của người Mông ở huyện Si Ma Cai - tỉnh
Lào Cai so với các địa phương khác

5


CHƢƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC VÀ VĂN HÓA CỦA NGƢỜI MÔNG
1.1. Khái quát về dân tộc Mông
1.1.1. Địa vực cƣ trú
Trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, dân tộc Mông đứng hàng thứ sáu,
sau các dân tộc Kinh, Tày, Thái, Mường, Khơ-me và chiếm 1,2443% dân số cả
nước với 1068189 người (theo số liệu Tổng điều tra dân số 1/4/2009).
Dân tộc Mông sống rải rác trong các tỉnh dọc biên giới Việt - Trung và Việt
- Lào, đồng bào sống tập trung ở các tỉnh như: Hà Giang, Lào Cai, Lạng Sơn,
Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Yên Bái, Hòa Bình, Nghệ
An,… Những năm gần đây có một số người Mông đã di cư vào làm ăn sinh sống
ở các tỉnh thuộc Tây Nguyên.
Dân tộc Mông sống ở vùng cao. Có những tỉnh toàn bộ là miền núi như Hà
Giang, Tuyên Quang, Lai Châu, Sơn La. Song cũng có những tỉnh có phần đất là
đồng bằng, nhưng người Mông cũng chỉ có sống ở vùng núi cao như huyện Kỳ
Sơn (Nghệ An), huyện Quan Hóa (Thanh Hóa), huyện Mai Châu (Hòa Bình).
Đồng bào Mông thường sinh sống ở độ cao từ 800 m đến 1500 m so với mặt
nước biển. Ở những nơi này, khí hậu mát mẻ, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm
thường là từ 50C đến 70C. Ở các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La,…
hàng năm vào mùa đông rét hơn nhiều so với đồng bằng. Nhiệt độ trung bình
mùa đông là từ 80C đến 140C, sương muối, mây mù là hiện tượng phổ biến, mùa

hướng Đông Bắc - Tây Nam. Phía Đông Bắc xã Sán Chải, mạch núi khu Tây
Bắc chạy theo hướng chính là Đông Bắc - Tây Nam. Ngoài hai mạch núi chính
trên khu Đông Nam còn có dãy núi nhỏ chạy từ Bắc Hà sang theo hướng Đông
Bắc - Tây Nam.
Địa hình có độ dốc khá lớn, trên 25 độ chiếm 53% diện tích; từ 15 độ đến 25
độ chiếm 32% diện tích; dưới 15 độ chiếm 15% diện tích.
Khí hậu: Địa hình Si Ma Cai bị chia cắt mạnh nên khí hậu diễn biến khá
phức tạp, hình thành nên các tiểu vùng khí hậu khác biệt. Có hai tiểu vùng khí
hậu chính là cận nhiệt đới và nhiệt đới, vùng ven sông Chảy bao gồm các vùng
đất thấp gồm các xã Lùng Sui, Cán Cấu, Sán Chải, Nàn Sán, Bản Mế, Nàn Sín là
vùng khí hậu nhiệt đới không điển hình. Phần đất cao trên 800 m thuộc các xã
Quan Thần Sán, Sín Chéng, Cán Hồ, Sán Chải, Nàn Sín, Thào Chư Phìn có khí
7


hậu cận nhiệt đới. Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 18,90C, tháng lạnh nhất
khoảng 100C, nhiệt độ có sự thay đổi rõ rệt giữa hai mùa, thậm chí khác biệt
trong phạm vi một xã. Ở vùng ven sông Chảy và trong các thung lũng, nhiệt độ
thường cao, cường độ chiếu sáng lớn hơn so với khu vực các đai cao trên 800 m.
Lượng mưa trung bình cả năm đạt từ 1.300 mm đến 2.000 mm. Mưa tập trung
vào các tháng 6, 7, 8 độ ẩm không khí trung bình cả năm đạt từ 83% đến 87%.
Độ ẩm có tỉ lệ lớn về mùa mưa và thay đổi theo từng vùng.
Thủy văn : Sông Chảy bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) chảy vào
miền Bắc nước ta qua địa phận huyện Si Ma Cai với tổng chiều dài 43 km, có ý
nghĩa quan trọng đối với chiến lược phòng thủ biên giới của huyện. Ngoài sông
Chảy, Si Ma Cai còn có hệ thống khe suối tương đối dày đặc chảy từ dãy núi
cao xuống thung lũng, song phần lớn các suối bị cạn nước vào mùa khô. Do địa
hình có độ dốc lớn, độ chia cắt mạnh, khí hậu lượng mưa không đồng đều gây
khó khăn trong việc phát triển kinh tế xã hội.
Nhưng hiện nay xã hội phát triển, cùng với các chính sách của Đảng và Nhà

bị mất tổ quốc, sau đó người Mông tiếp tục dời Tứ Xuyên vào phía Nam để khỏi
sự tàn sát của người Hán. Dần dần như vậy người Mông mới thiên di vào miền
Bắc Việt Nam, Lào, Myanma và Đông Bắc Thái Lan sống rải rác thành các
nhóm ở nước này. Theo các điều tra thì người Mông có mặt sớm nhất ở Việt
Nam vào khoảng thế kỉ XVII, với nhiều đợt lớn nhỏ vào Việt Nam.
“Người Mông thiên di vào Việt Nam theo ba đợt lớn khác nhau.
Đợt thiên di lần thứ nhất, người Mông vào Việt Nam cách đây khoảng 14 15 đời. Khoảng 80 gia đình người Mông họ Vù và họ giàng từ Qúy Châu thiên
di đến Đồng Văn (Hà Giang).
Đợt thiên di lớn thứ hai đến Việt Nam cách đây khoảng 9 - 10 đời. Đợt
thiên di này đi theo hai đường: đến Đồng Văn (Hà Giang), ước chừng 100 gia
đình, gồm các họ: Vàng, Lý; đến Si Ma Cai (Lào Cai) ước chừng 80 gia đình,
gồm các họ: Vàng, Lù, Chấu, Sùng, Vù, Mùa. Từ đây một số gia đình sau này đã
di sang Tây Bắc.
Đợt thiên di lớn thứ ba của người Mông đến Việt Nam là đợt thiên di đông
hơn cả và đi theo các đường vào Hà Giang, Lào Cai và trực tiếp đến Tây Bắc
nước ta”. [5; tr.17]

9


Lịch sử thiên di của người Mông vào Việt Nam gắn liền với quá trình đi
tìm nơi sinh sống ổn định, tự do và ấm no. Khi di cư đến Việt Nam, người Mông
thấy ở đây là nơi có quả bí to như cái vạc, mà lợn rừng có thể khoét lỗ chui vào
để đẻ. Qủa bí vừa là ổ, vừa là thức ăn cho lợn: nơi trồng cây lương thực gốc có
củ, thân có bắp, ngọn trổ bông lúa. Người Mông coi Việt Nam là quê hương
mình, thể hiện qua bài ca:
…“Con cá ở dưới nước,
Chim bay ở trên trời,
Chúng ta sống ở vùng cao.
Và con chim có tổ,

1.2.1. Đời sống kinh tế (văn hóa mƣu sinh)
Lịch sử cư trú sống chủ yếu ở vùng núi cao, đã để lại cho người Mông khác
hẳn so với các dân tộc khác ở vùng chân núi và thung lũng. Người Mông sống
trên rừng núi nhiều nên chủ yếu sống dựa vào nền kinh tế nương rẫy, chăn nuôi,
thủ công, săn bắn và hái lượm, cuộc sống tự cung tự cấp.
Nương rẫy: người Mông sống chủ yếu dựa vào diện tích đất nương đồi. Điều
kiện sản xuất khó khăn vất vả, nhưng người Mông nói chung và người Mông Si
Ma Cai nói riêng, họ vẫn luôn yêu quý mảnh đất của mình. Cần cù sáng tạo là
truyền thống quý báu. Người Mông có kĩ thuật và kinh nghiệm thâm canh cây
ngô và lúa nương. Ngô là cây lương thực chính của đồng bào dân tộc Mông,
gieo trồng cả trên núi cao, núi đá. Hiện nay, với kĩ thuật canh tác và sử dụng
phân bón rất khoa học, đồng bào Mông đã tạo nên những nương ngô tươi tốt cho
năng suất, sản lượng rất cao. Cây lúa nương được trồng nhiều ở Tây Bắc, đây là
cây lương thực chính của đồng bào. Ngoài ra còn có một số loại cây ăn quả như
mơ, mận, lê, hồng cũng đang phát triển về diện tích và sản lượng góp phấn thúc
đẩy kinh tế hộ gia đình. Ở vùng đất thấp, tập trung khai khẩn thung lũng thành
những cánh đồng lúa màu mỡ.
Nghề thủ công: đồng bào dân tộc Mông còn sáng tạo các làng nghề thủ công
có giá trị. Điển hình là nghề rèn đúc với kĩ thuật tôi thép cao tạo ra các sản phẩm
công cụ sản xuất có giá trị, kỹ thuật nổi bật nhất trong nghề rèn của người Mông
là kỹ thuật khoan ống thép làm nòng súng kíp, rèn những dụng cụ dùng trong gia
đình như dao, quốc, lưới cày,... Bên cạnh nghề đúc rèn còn có nghề dệt, thêu, vải

11


Lanh của người Mông có từ rất sớm đã trở thành loại vải quý hiếm. Người
Mông thường đánh giá về phẩm chất của những chàng trai, cô gái qua thơ ca:
“Gái đẹp mà không biết làm Lanh cũng xấu
Trai khỏe không biết làm nương cũng hèn”.[6; tr.12]

Si Ma Cai.
Văn hóa dân tộc ở Si Ma Cai phản ánh ở chợ phiên, chợ phiên không chỉ là
trung tâm trao đổi kinh tế mà còn là nơi giao lưu văn hóa. Nếu như ở Sa Pa, Bắc
Hà và nhiều nơi khác yếu tố văn hóa bị ảnh hưởng mạnh bởi yếu tố thị trường
thì ở Si Ma Cai vẫn còn giữ nguyên được sắc thái bản địa. Thể hiện người đến
chợ giao lưu tình cảm, hỏi thăm tin tức họ hàng, kinh nghiệm làm ăn trên bàn
“Thắng Cố” với bát rượu ngô nồng nàn thắm tình dân tộc. Cũng từ đây mà họ có
thêm bạn bè, anh em kết nghĩa khi đã thổ lộ hết tâm can, đặc biệt là những
chàng trai, cô gái họ gặp gỡ nhau hẹn hò và kết duyên vợ chồng.
Huyện Si Ma Cai là một trong những cái nôi bảo vệ văn hóa truyền thống
độc đáo của các dân tộc gồm: Văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, y học dân
gian và chữ viết, tiếng nói.
Nhà cửa: Nhà cửa của người Mông là đất khung gỗ được làm bằng nhiều
loại gỗ khác nhau nhưng phải là loại gỗ bền, lâu năm, kết hợp với kèo, gồm hai
mái lớn và hai mái nhỏ nhà có ba gian, gian giữa là gian để thờ cúng tổ tiên.
Nguyên liệu lập nhà chủ yếu là cỏ gianh và ngói. Trong nhà có cột ma, đây là
cột được coi là thiêng liêng nhất, người lạ và phụ nữ không được treo bất cứ thứ
gì vào cột.
Trang phục: trang phục truyền thống của người Mông nơi đây được làm
bằng sợi lanh. Kĩ thuật, thời gian nguyên liệu để làm được một bộ quần áo và
váy phải qua rất nhiều công đoạn. Đó là bắt đầu từ trồng lanh, rồi chặt cây tước
vỏ lấy sợi, quá trình xe tuy không mấy phức tạp nhưng đòi hỏi nhiều thời gian
và sự tranh thủ ở mọi lúc, mọi nơi của người phụ nữ. Trang phục phụ nữ Mông
không khoe vẻ đẹp cơ thể qua kĩ thuật cắt khâu mà chủ yếu thể hiện vẻ đẹp qua
các mô típ trang trí và màu sắc hoa văn. Phụ nữ Mông là tác giả nghệ thuật tạo
hình trên nền trang phục. Cả cuộc đời người phụ nữ gần như gắn bó với công
việc thêu dệt và in hoa văn. Em bé gái Mông mới có 9, 10 tuổi đã được các mẹ,
các chị tập cho thêu thùa. Nét đẹp của đức tính đó thể hiện rất rõ trong thơ ca
của đồng bào Mông:
13

Tín ngưỡng tôn giáo: mỗi dân tộc lại có những tôn giáo tín ngưỡng riêng,
đối với người Mông cũng có rất nhiều tín ngưỡng tôn giáo đặc biệt là tục thờ
14


cúng tổ tiên và các vị thần, có ý nghĩa vô cùng quan trọng, vừa thể hiện niềm tin,
vừa thể hiện tín ngưỡng thiêng liêng sự gắn kết dòng họ và văn hóa cội nguồn.
Thờ cúng tổ tiên được mỗi dòng họ quy định rất rõ ràng, nếu đó là một gia đình
thì dưới mái nhà phải có nơi thờ cúng tổ tiên, nơi thờ cúng tổ tiên là vách tường
giữa ngôi nhà tức là gian giữa của ngôi nhà. Nơi thờ này người Mông gọi là chỗ
nghỉ chân của tổ tiên, cho hai tấm ván gỗ ngắn làm bàn thờ, tấm đặt cao hơn gọi
là tấm phụ, tấm thấp hơn là tấm chính. Trên hai tấm ván có ba ống tre ngắn để
thắp hương. Tấm chính đặt một ống tre, tấm phụ đặt hai ống tre. Theo phong tục
tập quán chỉ có người trong nhà mới được quyền thực hiện các nghi lễ thờ cúng
tổ tiên. Thờ cúng tổ tiên không chỉ thể hiện lòng biết ơn đối với cha ông ta với
những người đã khuất mà còn thể hiện sự cầu mong gia đình bình an hòa thuận.
Lễ được thực hiện vào các dịp: mừng năm mới tết, lễ gọi vía, lễ thả hồn, gia
đình có người ốm, ăn cơm mới.
Y học dân gian: là một phần không thể thiếu trong cuộc sống du canh du cư
của người Mông ở nơi đây. Người Mông tự tìm cho mình thuốc riêng để chữa
bệnh và những thuốc này lấy từ tự nhiên. Như thuốc bó xương hay thuốc bong
gân, thuốc chữa đau bụng, thuốc chữa viên dạ dày, thuốc trị độc khi bị rắn độc
cắn và nhiều loại thuốc khác.
Chữ viết, tiếng nói: người Mông có hệ thống chữ viết riêng, chữ viết của
người Mông là chữ La tinh ghép và biến thành chữ Mông. Hiện nay loại chữ này
được sử dụng rộng rãi và phổ biến đến từng bản người Mông và trên thế giới.
Chữ được sử dụng viết truyện, ghi nhớ lại các phong tục tập quán, các nghi lễ
viết thư thăm hỏi nhau. Người Mông có hệ thống tiếng mẹ đẻ của mình rất đa
dạng và phong phú.
Như vậy, ta thấy người Mông ở Si Ma Cai nói riêng và dân tộc Mông nói

lấy xa thì không hi vọng gì, họ cho rằng có khi bố mẹ mất còn không đến nên
mới thách cao coi như không có con gái đó, người Mông còn có câu nói “muag
tuag” nghĩa là bán đi không coi là con của mình nữa, thậm chí còn kiên quyết
không cho lấy. Nhưng đó chỉ là những quan niệm ngày xưa đã lạc hậu hiện nay
không còn nữa, ngày nay thì người Mông cũng quan niệm thoáng tùy con cái lấy
ở đâu cũng được chỉ cần con mình cảm thấy hạnh phúc.

16


Người Mông cũng rất coi trọng tục cưới xin nếu nhà nào mà không tổ chức
được thì sẽ bị xã hội chê bai, để tổ chức được một đám cưới thì người Mông
cũng có quan niệm như bao dân tộc khác, phải chọn ngày lành tháng tốt, chọn
ngày thì sẽ do nhà trai chọn họ sẽ hỏi những người thầy cúng hoặc những người
biết tính để chọn ngày cưới, đồng thời cũng phải căn cứ vào tuổi của đôi trai gái
và cả hai bên gia đình, thường người người Mông không tổ chức đám cưới vào
các ngày 7, 8, 18, 27, 28, 29, 30 (âm lịch) trong tháng họ cho rằng đây là những
ngày không tốt, còn trong một năm thì người Mông thường cũng không tổ chức
đám cưới vào giữa năm từ tháng 4, 5, 6, 7, 8 (âm lịch) vì đây là những tháng có
sấm sét nên không tốt để tổ chức đám cưới. Người Mông cho rằng mùa xuân là
mùa của vạn vật sinh sôi nảy nở mà con người không nằm ngoài quy luật đó nên
họ thường chọn những tháng 1, 2 (âm lịch) là những tháng tốt để tổ chức cưới,
sau khi mùa thu hoạch xong mọi người cũng rảnh và cũng là những dịp để các
chàng trai và cô gái đến với nhau thành vợ thành chồng nên vào những tháng 9,
10, 11 (âm lịch) người Mông cũng tổ chức đám cưới rất nhiều. Cưới xin là ngày
rất quan trọng trong cuộc đời của con cái nên phải chọn ngày lành tháng tốt,
được tổ chức rất long trọng.
2.1.2. Quan niệm khi chọn vợ, chồng
Trong truyền thống cũng như hiện tại người Mông ở huyện Si Ma Cai nói
riêng và người Mông ở các nơi khác nói chung, đều có những quan niệm gần

tìm hiểu. Họ sẽ thường hỏi qua người thân của mình hay bạn bè ở trong bản đó
xem người mình muốn lấy làm vợ hoặc làm chồng đó có chăm chỉ, sức khỏe,
biết cách thêu thùa, may mặc,…nếu có đủ các tiêu chuẩn trên sẽ lấy làm vợ,
chồng tổ chức cưới xin cho cả hai bên gia đình.
2.2. Những tác động ảnh hƣởng đến tình yêu và hôn nhân
2.2.1. Tác động từ gia đình
Theo quan niệm của ngày xưa thì tình yêu và hôn nhân của con cái hầu như
do bố mẹ sắp xếp, bố mẹ chọn người nào thì phải lấy người đó. Với quan điểm
như vậy, thì bố mẹ sẽ đi tìm con dâu cho con trai mình, họ thường chọn những
cô gái chăm chỉ, biết thêu thùa, có hiếu với cha mẹ họ hàng, hòa thuận với mọi
người, ăn nói nhẹ nhàng… Trong làng của mình để cho con trai mình, có khi vợ
lớn tuổi hơn chồng đến 4, 5 tuổi, còn con gái thì không được lựa chọn. Vì vậy
gia đình có sự ảnh hưởng rất lớn đối với tình yêu, hôn nhân hay nói cách khác
18


“cha mẹ đặt đâu con người đấy”, với quan niệm như vậy, gia đình có tác động
đến tình yêu hôn nhân của con cái theo các tục sau:
Người Mông có tục “đính hôn” nói tiếng mông gọi là “qhaib” nghĩa là đạt
quan hệ thông gia trước, quyết định sau này hai con lớn lên phải lấy nhau,
thường họ sẽ đạt theo mỗi quan hệ là con của anh trai với con của em gái ruột
hay của hai chị em ruột mà đi lấy chồng khác họ với nhau, vì họ cho rằng chỉ có
con của anh em thì mới yêu thương mình như bố mẹ đẻ và bố mẹ cũng mới yêu
con của anh chị em mình như con đẻ của mình, giữ được tài sản của dòng họ,
mối quan hệ thân thiết của hai bên gia đình không bị mất, khi nào con cái lớn thì
nhà trai sẽ chọn ngày lành tháng tốt sang thưa chuyện với nhà gái rồi hai bên
thảo thuận ăn hỏi rồi tiến đến hôn nhân.
Người Mông còn có tục “kéo vợ” rất phổ biến, đó là bố mẹ sẽ chọn một cô
gái cho con trai mình dù con gái đó không thích con trai mình hay chỉ cần người
con trai đó thích là họ cùng đi kéo, nhà trai sẽ đi mời bạn bè hay họ hàng đến

2.2.2. Tác động từ kinh tế - xã hội
Hôn nhân là một hiện tượng văn hóa. Nó được quy định bởi hình thái kinh
tế - xã hội. Người Mông coi việc dựng vợ gả chồng cho con cái là việc hệ trọng
nên nhiều khi bố mẹ họ hàng phải định đoạt cho các con, nhất là các con còn trẻ,
chưa đủ hiểu biết cần thiết trong việc kén chồng, chọn vợ…. Người Mông rất
coi trọng kinh tế gia đình: vì vậy, biết bao nhiêu cô gái phải chịu những cảnh ép
duyên trái đời chỉ vì nhà mình nghèo phụ thuộc vào gia đình khá giả, người
Mông chủ yếu sinh sống bằng nông nghiệp nên cần nhiều người lao động, cuộc
sống rất nhiều khó khăn và khổ cực. Từ đó ảnh hưởng đến việc chọn vợ chồng,
ngày xưa người Mông thường chọn những người vợ lớn tuổi hơn con trai mình
để về làm được nương rẫy. Với cảnh cuộc sống thiếu thốn, có nhà không đủ ăn
phải chịu cảnh đói khổ nên bố mẹ cũng chỉ muốn con mình đỡ nghèo khổ nên
khi có nhà khá giả đến hỏi dù con mình không đồng ý thì bố mẹ cũng ép lấy.
Người Mông còn quan niệm, tập quán sinh con nhiều, vì sinh đẻ con cái là
điều mong ước chính đáng của những người đã thành vợ thành chồng. Trong
hoàn cảnh khó khăn, nhiều thiếu thốn khó khăn, điều mong ước con đàn cháu
đống dễ gì mà đạt được, nên người Mông rất quan tâm đến vấn đề sinh đẻ. Đặc
biệt ảnh hưởng bởi chế độ phong kiến trọng nam khinh nữ, sinh con trai để nối
dòng dõi tổ tiên, nên có gia đình không sinh được con trai thì cứ sinh lúc nào
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status