NGUYỄN THỊ HƯƠNG
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
--------------
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY
CỔ PHẦN XÂY DỰNG HẠ TẦNG NAM ĐỊNH
QUẢN TRỊ KINH DOANH
KHÓA: 2010 - 2012
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. CAO TÔ LINH
HÀ NỘI - 2013
Luận văn Thạc sĩ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
LỜI CẢM ƠN
1.1 Tổng quan về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế ............... 3
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh ......................................................................... 3
1.1.2 Các loại hình cạnh tranh ......................................................................... 4
1.1.2 Chỉ tiêu đánh giá kết quả cạnh tranh của doanh nghiệp.......................... 8
1.1.3 Các công cụ cạnh tranh........................................................................... 9
1.1.4 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ................................................. 14
1.2 Phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng Việt Nam ..... 16
1.2.1 Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của sản xuất xây dựng ảnh hưởng tới năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp. .................................................................. 16
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng .... 18
1.2.3 Nội dung phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng Việt
Nam............................................................................................................... 23
1.2.4 Các công cụ cạnh tranh chủ yếu của doanh nghiệp xây dựng................ 31
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG HẠ TẦNG NAM ĐỊNH ......... 37
2.1 Giới thiệu tổng quát về công ty cổ phần xây dựng hạ tầng Nam Định ..... 37
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty...................................... 37
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của công ty ................................ 37
2.1.3 Đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần xây dựng hạ
tầng Nam Định trong những năm gần đây ..................................................... 40
2.2 Phân tích năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xây dựng hạ tầng Nam
Định .............................................................................................................. 42
2.2.1 Năng lực tài chính của Công ty ............................................................. 42
Học viên: Nguyễn Thị Hương
ii
Luận văn Thạc sĩ QTKD
iii
Luận văn Thạc sĩ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty
cổ phần xây dựng hạ tầng Nam Định............................................................. 84
3.2.1. Giải pháp 1: Đầu tư và phát triển nguồn nhân lực của công ty cổ phần
xây dựng hạ tầng Nam Định .......................................................................... 84
3.2.2 Gải pháp 2: Nâng cao năng lực tài chính. ............................................. 89
3.2.3 Giải pháp 3: Đầu tư cho công tác quản lý chất lượng đồng bộ theo quá
trình kể từ khi bắt đầu thi công đến khi nghiệm thu, bàn giao........................ 93
3.2.4 Giải pháp 4: Đầu tư máy móc hiện đại và ứng dụng khoa học công nghệ ...96
KẾT LUẬN ................................................................................................ 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................. 101
Học viên: Nguyễn Thị Hương
iv
Luận văn Thạc sĩ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty cổ
v
Luận văn Thạc sĩ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu 2.1: Biểu đồ so sánh sản lượng và doanh thu của công ty cổ phần xây dựng hạ
tầng Nam Định từ năm 2008 - 2011 ........................................................................ 41
Biểu 2.2: Đồ thị biến đổi quy mô và cơ cấu nguồn vốn công ty cổ phần xây dựng hạ
tầng Nam Định trong tương quan với giá trị sản lượng thực hiện giai đoạn 2008 2011 ....................................................................................................................... 45
Biểu đồ 2.3: Biểu đồ cơ cấu nợ ngắn hạn của công ty cổ phần xây dựng hạ tầng
Nam Định năm 2008 và 2011 ................................................................................. 46
Biểu 2.5: Biểu đồ so sánh cá hệ số lợi nhuận trên doanh thu của công ty giai đoạn
2008 – 2011............................................................................................................ 50
Biểu đồ 2.6: Biểu đồ so sánh các hệ số lợi nhuận trên vốn của công ty cổ phần xây
dựng hạ tầng Nam Định giai đoạn 2008 – 2011 ...................................................... 51
Biểu 2.7: Thị phần của công ty trên thị trường xây dựng Nam Định ....................... 61
Học viên: Nguyễn Thị Hương
vi
Luận văn Thạc sĩ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
DT
:
Doanh thu
LN
:
Lợi nhuận
XDGT
:
Xây dựng giao thông
CP
:
Cổ phần
XL
:
Xây lắp
Nhằm phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần
xây dựng hạ tầng Nam Định trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm tìm ra các
điểm mạnh, điểm yếu, các cơ hội, thách thức và từ đó đề xuất các giải pháp cũng
như các kiến nghị nhằm nâng cao năng lực canh tranh của công ty trong hoạt động
sản xuất kinh doanh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung đánh giá và nghiên cứu năng
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng nói chung và công ty cổ phần xây
dựng hạ tầng Nam Định nói riêng.
Học viên: Nguyễn Thị Hương
1
Luận văn thạc sĩ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu: Phân tích khả năng cạnh tranh của công ty cổ phần
xây dựng hạ tầng Nam Định về các sản phẩm xây dựng công trình giao thông, thủy
lợi, xây dựng dân dụng,... Từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh của công ty
- Phạm vi thời gian: Luận văn chọn mốc thời gian từ năm 2009 đến
hết năm 2011.
4. Đóng góp của đề tài
Những kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần vào bổ sung và hệ thống
hoá các vấn đề về lý luận cạnh tranh và năng lực cạnh tranh. Đánh giá thực trạng
năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xây dựng hạ tầng Nam Định so với một số
đối thủ cạnh tranh trên địa bàn tỉnh Nam Định. Đưa ra những giải pháp để nhằm
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường được xem là nền kinh tế năng động
nhất, đã mang lại nhiều thành tựu đóng góp cho sự phát triển của văn minh nhân
loại. Kinh tế thị trường vận động dưới sự tác động tổng hợp của các quy luật kinh tế
khách quan, trong đó phải kể đến quy luật cạnh tranh. Cạnh tranh đã, đang và sẽ là
vấn đề được quan tâm nghiên cứu trên cả lý luận và trong thực tiễn nhằm vận dụng
ngày càng hiệu quả quy luật này phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh
nghiệp nói riêng, mỗi quốc gia nói chung. Sự cạnh tranh trên thị trường của các
thành phần kinh tế ngày càng gay gắt, khốc liệt vì vậy, nâng cao năng lực cạnh
tranh cho các doanh nghiệp Việt Nam là một vấn đề cấp thiết cần được quan tâm
trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay.
Theo Các Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các
nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng
hóa để thu được những lợi nhuận siêu ngạch”
Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam: “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt
động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà
kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành
các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”.
Trong cuốn sách “Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh và
kiểm soát độc quyền kinh doanh”, cạnh tranh được định nghĩa: “Cạnh tranh là sự
ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc
khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được mục tiêu
kinh doanh cụ thể, ví dụ như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần”.
Học viên: Nguyễn Thị Hương
3
Luận văn thạc sĩ QTKD
Học viên: Nguyễn Thị Hương
4
Luận văn thạc sĩ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quy luật cung cầu. Khi một loại hàng hoá, dịch
vụ nào đó mà mức cung cấp nhỏ hơn nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh sẽ trở
nên quyết liệt và giá dịch vụ hàng hoá đó sẽ tăng. Kết quả cuối cùng là người bán sẽ
thu được lợi nhuận cao, còn người mua thì mất thêm một số tiền. Đây là một cuộc
cạnh tranh mà những người mua tự làm hại chính mình.
* Cạnh tranh giữa những người bán với nhau:
Đây là cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất, nó có ý nghĩa sống còn đối
với bất kì một doanh nghiệp nào. Khi sản xuất hàng hoá phát triển, số người bán
càng tăng lên thì cạnh tranh càng quyết liệt bởi vì doanh nghiệp nào cũng muốn
giành lấy lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần của đối thủ và kết quả đánh giá
doanh nghiệp nào chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này là việc tăng doanh số tiêu
thụ, tăng thị phần và cùng với đó sẽ là tăng lợi nhuận, tăng đầu tư chiều sâu và mở
rộng sản xuất. Trong cuộc chạy đua này những doanh nghiệp nào không có chiến
lược cạnh tranh thích hợp thì sẽ lần lượt bị gạt ra khỏi thị trường nhưng đồng thời
nó lại mở rộng đường cho những doanh nghiệp nào nắm chắc được "vũ khí" cạnh
tranh và dám chấp nhận luật chơi phát triển.
1.1.2.2 Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế
Người ta chia cạnh tranh thành hai loại:
* Cạnh tranh trong nội bộ ngành:
Là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất hoặc tiêu thụ một loại hàng
hoá hoặc dịch vụ nào đó. Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau. Những
Người ta chia cạnh tranh thành 2 loại:
* Cạnh tranh hoàn hảo:
Là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường có rất nhiều người bán, người
mua nhỏ, ở đó không có người sản xuất hay người tiêu dùng nào có quyền hay khả
năng khống chế thị trường, làm ảnh hưởng đến giá cả. Cạnh tranh hoàn hảo được
mô tả: Tất cả các hàng hóa trao đổi được coi là giống nhau; tất cả những người bán
và người mua đều có hiểu biết đầy đủ về các thông tin liên quan đến việc mua bán,
trao đổi; không có gì cản trở việc gia nhập hay rút khỏi thị trường của người mua
hay người bán. Để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh các doanh nghiệp phải tự tìm
cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc tạo nên sự khác biệt về sản phẩm của mình so
với các đối thủ khác
* Cạnh tranh không hoàn hảo:
Nếu một hãng có thể tác động đáng kể đến giá cả thị trường đối với đầu ra
của hãng thì hãng ấy được liệt vào "hãng cạnh tranh không hoàn hảo". Như vậy
Học viên: Nguyễn Thị Hương
6
Luận văn thạc sĩ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh trên thị trường không đồng nhất với nhau.
Mỗi loại sản phẩm có thể có nhiều loại nhãn hiệu khác nhau, mỗi loại nhãn hiệu lại
có hình ảnh và uy tín khác nhau mặc dù xem xét về chất lượng thì sự khác biệt giữa
các sản phẩm là không đáng kể. Các điều kiện mua bán cũng rất khác nhau. Những
người bán có thể cạnh tranh với nhau nhằm lôi kéo khách hàng về phía mình bằng
nhiều cách như: Quảng cáo, khuyến mại, những ưu đãi về giá và dịch vụ trước,
trong và sau khi mua hàng. Đây là loại hình cạnh tranh rất phổ biến trong giai đoạn
vào thị trường của các đối thủ cạnh tranh thường là rất Trong thực tế có thể tình
trạng độc quyền xảy ra nếu không có sản phẩm nào thay thế sản phẩm độc quyền
hoặc các nhà độc quyền liên kết với nhau.
Độc quyền gây trở ngại cho sự phát triển sản xuất và làm phương hại đến
người tiêu dùng. Vì vậy ở một số nước đã có luật chống độc quyền nhằm chống lại
sự liên minh độc quyền giữa các nhà kinh doanh.
1.1.2 Chỉ tiêu đánh giá kết quả cạnh tranh của doanh nghiệp
Chỉ tiêu đánh giá kết quả cạnh tranh của một doanh nghiệp được thể hiện
bằng thị phần của doanh nghiệp đó. Có 3 cách tính thị phần doanh nghiệp như sau:
- Thị phần sản phẩm của doanh nghiệp so với toàn ngành: là phần trăm về số
lượng hoặc giá trị hàng hóa của doanh nghiệp đã bán ra so với tổng số lượng hoặc
tổng giá trị của tất cả hàng hoá cùng loại đã bán ra trên thị trường:
Số lượng sản phẩm (doanh thu, sản lượng) của DN
Thị phần DN =
Số lượng sản phẩm (doanh thu, sản lượng) của toàn ngành
- Thị phần so với đối thủ cạnh tranh: là phần trăm về số lượng hoặc giá trị
hàng hóa của doanh nghiệp đã bán ra so với số lượng hoặc giá trị của hàng hóa cùng
loại của đối thủ cạnh tranh đã bán trên thị trường.
Số lượng sản phẩm (doanh thu, sản lượng) của DN
Thị phần DN =
Số lượng sản phẩm (doanh thu, sản lượng) của đối
- Chỉ tiêu tăng trưởng thị phần: là chỉ tiêu đánh giá sự tăng trưởng thị phần
của doanh nghiệp của năm sau so với năm trước, được đánh giá bằng việc so sánh
hiệu số thị phần của năm sau so với năm trước.
Tăng trưởng thị phần = Thị phần năm sau – Thị phần năm trước
Học viên: Nguyễn Thị Hương
8
gian là khác nhau do vậy các sản phẩm của doanh nghiệp cũng phải tương ứng với
các nhu cầu đó. Đồng thời đa dạng hóa còn sẽ giúp doanh nghiệp giảm bớt rủi ro,
san sẻ rủi ro cho các dòng sản phẩm khác nhau, lợi nhuận của mặt hàng này có thể
bù đắp cho mặt hàng khác.
Học viên: Nguyễn Thị Hương
9
Luận văn thạc sĩ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Khác biệt hóa sản phẩm: Khác biệt hóa sản phẩm là tạo ra các đặc điểm
riêng biệt độc đáo so với các đối thủ trong ngành. Đó có thể là các đặc tính riêng
biệt của sản phẩm, sự điển hình về thiết kế, danh tiếng sản phẩm hay sự khác biệt về
công nghệ sản xuất
1.1.3.2 Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính của sản phẩm
thể hiện mức độ thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định, phù
hợp với công dụng lợi ích của sản phẩm. Nếu như trước kia giá cả được coi là quan
trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay nó phải nhường chỗ cho tiêu chuẩn chất
lượng sản phẩm. Khi có cùng một loại sản phẩm, chất lượng sản phẩm nào tốt hơn,
đáp ứng và thoả mãn được nhu cầu của người tiêu dùng thì họ sẵn sàng mua với
mức giá cao hơn. Nhất là trong nền kinh tế thị trường cùng với sự phát triển của sản
xuất, thu nhập của người lao động ngày càng được nâng cao, họ có đủ điều kiện để
thoả mãn nhu cầu của mình, cái mà họ cần là chất lượng và lợi ích sản phẩm đem
lại. Nếu nói rằng giá cả là yếu tố mà khách hàng không cần quan tâm đến là hoàn
toàn sai bởi giá cả cũng là một trong những yếu tố quan trọng để khách hàng tiêu
lượng sản phẩm sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp, mở rộng thị trường tiêu thụ
sản phẩm của doanh nghiệp. Do vậy cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm là một
yếu tố rất quan trọng và cần thiết mà bất cứ doanh nghiệp nào dù lớn hay nhỏ đều
phải sử dụng
1.1.3.3 Cạnh tranh bằng giá cả
Giá cả được hiểu là số tiền mà người mua trả cho người bán về việc cung
ứng một số hàng hoá dịch vụ nào đó. Thực chất giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của
giá trị hao phí lao động sống và hao phí lao động vật hoá để sản xuất ra một đơn vị
sản phẩm chịu ảnh hưởng của quy luật cung cầu. Trong nền kinh tế thị trường có sự
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, khách hàng được tôn vinh là “Thượng đế” họ có
quyền lựa chọn những gì họ cho là tốt nhất, khi có cùng hàng hoá dịch vụ với chất
lượng tương đương nhau thì thường họ sẽ lựa chọn mức giá thấp hơn, để lợi ích họ
thu được từ sản phẩm là tối ưu nhất. Do vậy mà từ lâu giá cả đã trở thành một biến
số chiến thuật phục vụ mục đích kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp thành công trong
việc cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường là do sự khéo léo, tinh tế chiến thuật giá cả.
Giá cả đã thể hiện như một vũ khí để cạnh tranh thông qua việc định giá sản phẩm:
định giá thấp hơn giá thị trường, định giá ngang bằng giá thị trường hay chính sách
giá cao hơn giá thị trường.
Với một mức giá ngang bằng với giá thị trường: giúp doanh nghiệp đánh giá
được khách hàng, nếu doanh nghiệp tìm ra được biện pháp giảm giá mà chất lượng
Học viên: Nguyễn Thị Hương
11
Luận văn thạc sĩ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
12
Luận văn thạc sĩ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
kênh phân phối dựa trên đặc điểm của sản phầm và nghiên cứu các đặc trưng của thị
trường, của khách hàng. Từ đó có các chính sách phân phối sản phẩm hợp lý, hiệu
quả, đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Chính sách phân phối sản phẩm hợp lý sẽ
tăng nhanh vòng quay của vốn, thúc đẩy tiêu thụ, tăng khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp.
Tuỳ theo từng mặt hàng kinh doanh, tuỳ theo vị trí địa lý, tuỳ theo nhu cầu
của người mua và người bán, tuỳ theo quy mô kinh doanh của doanh nghiệp mà sử
dụng các kênh và cách thức phân phối khác nhau cho hợp lý và mang lại hiệu quả
bởi nhiều khi kênh phân phối có tác dụng như những người môi giới nhưng đôi khi
nó lại mang lại những trở ngại rườm rà.
1.1.3.5 Cạnh tranh bằng chính sách xúc tiến bán hàng
Theo quan niệm của marketing, đây là một trong 4 nhóm công cụ chủ yếu
của marketing - mix mà doanh nghiệp có thể sử dụng để tác động vào thị trường
mục tiêu nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Xúc tiến bán hàng
được hiểu là: các hoạt động có chủ đích trong lĩnh vực marketing của các doanh
nghiệp nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ. Nội
dung của xúc tiến bán hàng được xác định bao gồm các: quảng cáo bán hàng,
khuyến mại, tham gia hội chợ triển lãm, bán hàng trực tiếp và quan hệ công chúng.
Xúc tiến bán hàng là công cụ hữu hiệu trong việc chiếm lĩnh thị trường và
tăng tính cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp trên thị trường.
Thông qua xúc tiến, các doanh nghiệp tiếp cận được với thị trường tiềm năng của
mình, cung cấp cho khách hàng tiềm năng những thông tin cần thiết, những dịch vụ
doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đấy là các
yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính băng các tiêu chí về
công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp,… một cách riêng biệt
mà đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh hoạt động trên cùng lĩnh vực, cùng
một thị trường.
Có quan điểm cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với
ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường.
Có quan điểm gắn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với thị phần mà nó
nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất với hiệu quả sản xuất kinh doanh,…
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào thực lực và lợi thế của mình e chưa đủ, bởi trong
điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, lợi thế bên ngoài đôi khi là yếu tố quyết định. Thực
tế chứng minh một số doanh nghiệp tận dụng được xu thế của thời đại để phát triển
một cách mãnh liệt như Google, Facebook...
Học viên: Nguyễn Thị Hương
14
Luận văn thạc sĩ QTKD
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Như vậy, “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng
thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm – dịch vụ hấp
dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và
cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường ”.
Năng lực cạnh tranh thể hiện ở việc làm tốt hơn với các công ty so sánh về
doanh thu, thị phần, khả năng sinh lời và đạt được thông qua các hành vi chiến lược,
được định nghĩa như là một tập hợp các hành động tiến hành để tác động tới môi
- Uy tín, thương hiệu
Trong phần Phân tích năng lực cạnh tranh ở mục sau, tác giả sẽ đi sâu phân
tích tác động ảnh hưởng của từng nhân tố đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2 1.2 Phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng Việt
Nam
1.2.1 Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của sản xuất xây dựng ảnh hưởng tới
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
* Sản xuất xây dựng chỉ được tiến hành khi có đơn đặt hàng của người
mua sản phẩm (chủ đầu tư công trình): Các doanh nghiệp xây dựng không thể sản
xuất nếu không có người đặt hàng. Khi hoàn thành không cần thiết phải tìm thị
trường để bán sản phẩm. Sản phẩm xây dựng được bán trước khi sản xuất và thường
theo giá định trước nên đơn vị xây dựng không thể nhận được tiền lãi lớn hơn dự
kiến do sự tác động của các yếu tố cung cầu mà giá bán có thể tăng lên. Song người
sản xuất kinh doanh luôn lấy lợi nhuận làm mục tiêu của mình, tức là sản xuất phải
có lãi, lãi để tồn tại và phát triển. Vì vậy, doanh nghiệp xây dựng muốn có lãi chỉ
còn cách duy nhất là sản xuất sản phẩm xây dựng với chất lượng tốt, giá thành hạ,
trên cơ sở hợp lý hóa quá trình sản xuất, tiết kiệm chi phí sản xuất
* Quá trình sản xuất luôn di động: Do sản phẩm gắn liền với nơi tiêu thụ,
nên địa điểm sản xuất không ổn định, thậm trí phải trải dài trên các tuyến đường dẫn
đến việc phải di chuyển lực lượng lao động và các phương tiện vật chất từ công
trình này đến công trình này đến công trình khác và nhiều khi trong cùng một công
trình sự di chuyển diễn ra liên tục. Các phương án tổ chức thi công ở các địa điểm
khác nhau luôn phải thay đổi điều kiện cụ thể của nơi xây dựng và theo giai đoạn
xây dựng. Đặc điểm này làm khó khăn cho công tác sản xuất, việc bố trí của công
trình tạm phục vụ thi công, việc phối hợp các phương tiện đi lại, thiết bị nảy sinh
nhiều vấn đề phức tạp. Và đặc điểm này đòi hỏi phải luôn chú ý tăng cường tính cơ
động trong doanh nghiệp về mặt trang thiết bị tài sản cố định, lựa chọn loại hình tổ
chức quản lý và chỉ đạo thực hiện kế hoạch tác nghiệp, lựa chọn địa điểm kho trung
Học viên: Nguyễn Thị Hương
về sử dụng. Do đó doanh nghiệp cần phải tính toán cụ thể và so sánh lựa chọn
phương án để đảm bảo máy móc thiết bị phục vụ sản xuất kịp thời, đầy đủ. Mặt
khác phải đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh.
* Công tác tổ chức quá trình sản xuất rất phức tạp: Quá trình thi công xây
dựng thường có nhiều đơn vị cùng tham gia thực hiện theo một trình tự nhất định về
thời gian và không gian trên một mặt bằng thi công chật hẹp. Điều này đòi hỏi các
doanh nghiệp xây dựng phải có trình độ tổ chức phối hợp cao trong sản xuất nhằm
Học viên: Nguyễn Thị Hương
17