VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
––––––––––––
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƢỢC VÀ CHÍNH SÁCH
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
––––––––––––
CHU VĂN QUANG
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
QUY TRÌNH QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ - TÀI TRỢ
CÁC NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA
QUỸ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ QUỐC GIA
Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số
: 60.34.04.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Nguyễn Thành Huy
Hà Nội, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân
3.2. Thực trạng quy hoạt động hỗ trợ - tài trợ các nhiệm vụ khoa học và công
nghệ tại Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia ...................................................... 55
3.3 Thực trạng quy trình quản lý hoạt động hỗ trợ - tài trợ các nhiệm vụ khoa
học và công nghệ tại Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia .................................. 58
3.4. Đánh giá quy trình quản lý hoạt động hỗ trợ - tài trợ các nhiệm vụ khoa
học và công nghệ tại Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia .................................. 62
Chƣơng 4. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY TRÌNH QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG HỖ TRỢ - TÀI TRỢ CÁC NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA
QUỸ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ QUỐC GIA ................................................................... 66
4.1. Quan điểm và bối cảnh hoàn thiện ........................................................... 66
4.2. Một số giải pháp hoàn thiện quy trình quản lý hoạt động hỗ trợ - tài trợ
các nhiệm vụ khoa học và công nghệ tại Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia... 69
4.3. Các giải pháp đề xuất khác....................................................................... 75
4.4. Điều kiện để thực hiện giải pháp.............................................................. 76
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ....................................................................... 78
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 80
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CGCN
Chuyển giao công nghệ
KH&CN
Khoa học và công nghệ
BVMT
R&D
Nghiên cứu và Phát triển
JST
Cục Khoa học và Công nghệ Nhật Bản
KT-XH
Kinh tế xã hội
NSNN
Ngân sách Nhà nước
LFA
Khung logic đánh giá nghiệm thu đề tài
OECD
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
UNESCO
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
hành Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Quỹ thể hiện sự quyết tâm của
Chính phủ cũng như của Bộ KH&CN trong việc tập trung các nỗ lực nhằm
nâng cao chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng
1
trưởng theo hướng lấy khoa học công nghệ và hoạt động đổi mới sáng tạo làm
nền tảng, tạo động lực cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Quỹ Đổi mới công nghệ Quốc gia đi vào hoạt động là sự kiện có ý nghĩa
quan trọng đối với cộng đồng khoa học và các doanh nghiệp đang tìm kiếm
các giải pháp đổi mới công nghệ nhằm phát triển các sản phẩm mới, nâng cao
giá trị gia tăng của sản phẩm và dịch vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế. Trong đó, việc quản lý ngân sách nhà
nước đầu tư và quản lý kinh phí của các Quỹ đóng vai trò hết sức quan trọng
ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của Quỹ. Tuy nhiên, do mới đi
vào hoạt động nên các quy trình trong việc quản lý kinh phí của Quỹ rất cần
có sự nghiên cứu và cải tiến nhằm đem lại hiệu quả hoạt động phù hợp với
thực tế xã hội.
Xuất phát từ các lý do nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu
đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình quản lý hoạt động hỗ trợ - tài trợ
các nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Quỹ đổi mới công nghệ quốc
gia” để viết luận văn thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực đổi mới sáng
tạo của các doanh nghiệp Việt Nam, thúc đẩy thương mại hóa các ý tưởng
sáng tạo thành các sản phẩm mới, dịch vụ mới,… được Nhà nước quan tâm,
là vấn đề đã và đang thu hút nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu dưới
nhiều góc độ khác nhau. Một số công trình nghiên cứu cụ thể như:
- Đề án “Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ (Ban hành theo
Quyết định của Thủ tướng chính phủ số 171/2004/QĐ-TTg, ngày
- PGS.TS. Nguyễn Hồng Sơn (2012), Cơ chế tài chính cho hoạt động
khoa học và công nghệ ở Việt Nam: Một số hạn chế và giải pháp hoàn thiện;
- Triệu Uyên (2014), Tài chính cho khoa học và công nghệ: Kinh nghiệm
từ Hàn Quốc, theo nguồn Chinhphu.vn;
3
- TS. Nguyễn Trường Giang, Vụ Hành chính sự nghiệp, Bộ Tài chính
(2015), Đổi mới cơ chế quản lý – Thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ,
Tạp chí tài chính điện tử;
- Nguyễn Hữu Xuyên, Nguyễn Đình Bình (2014), Kinh nghiệm phát
triển công nghệ trong một số ngành công nghiệp hỗ trợ của Thái Lan và bài
học cho Việt Nam, Tạp chí Chính sách và quản lý khoa học và công nghệ; tập
3, số 1 năm 2014;
- Hoàng Văn Châu và các tác giả (2010), Chính sách phát triển công
nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam đến năm 2020, Báo cáo đề tài cấp Nhà nước;
- Hà Thị Hương Lan (2014), Công nghiệp hỗ trợ trong một số ngành
công nghiệp ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ;
- Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF, 2005), Triển vọng công nghiệp
phụ trợ Việt Nam theo đánh giá của doanh nghiệp Nhật Bản;
- Nguyễn Việt Hòa và các tác giả (2011), Nghiên cứu, phân tích và đánh
giá chính sách đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp ngành công nghiệp, Báo
cáo đề tài cấp Bộ;
- Nguyễn Văn Thu (2007), Về chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho
doanh nghiệp vừa và nhỏ, Tạp chí hoạt động khoa học công nghệ, số tháng
2/2007;
- Hoàng Văn Tuyên (2008), Về nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới
hoạt động NC&PT của doanh nghiệp;
- Trần Văn Tùng (2007), Đổi mới công nghệ ở một số nước Đông Á,
+ Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu quy trình hoạt động hỗ
trợ, tài trợ các nhiệm vụ tham gia Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia.
+ Về thời gian: giai đoạn 2015 – 2020.
5
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Xuất phát từ cơ sở lý luận của các nhà kinh điển,
nhà khoa học trong và ngoài nước, các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà
nước và Bộ KH&CN về đổi mới công nghệ thông qua hoạt động của Quỹ đổi
mới công nghệ quốc gia. Luận văn có sự kế thừa những thành tựu đạt được
trong việc quản lý hoạt động hỗ trợ, tài trợ thúc đẩy đổi mới công nghệ theo
cơ chế quỹ của các công trình nghiên cứu trước đó.
- Phương pháp nghiên cứu: Để chứng minh cho các luận điểm khoa
học, luận văn sử dụng các phương pháp sau:
+ Phương pháp phân tích tài liệu: phân tích và tổng hợp các tài liệu liên
quan đến nội dung luận văn;
+ Sử dụng phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến chuyên gia trong quá
trình đề xuất tiêu chí đánh giá đề xuất, xét chọn nhiệm vụ KH&CN.
+ Phương pháp thu thập, xử lý số liệu liên quan đến thực trạng và quy
trình quản lý hoạt động hỗ trợ, tài trợ tại Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần hệ thống hóa các cơ sở lý luận liên quan đến quy trình
quản lý hoạt động hỗ trợ, tài trợ các nhiệm vụ KH&CN theo mô hình quỹ;
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy trình quản lý hoạt động hỗ trợ, tài
trợ tại Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia; Làm rõ các kết quả đạt được, những
hạn chế tồn tại cần khắc phục và nguyên nhân dẫn đến hạn chế, tồn tại trong
quản lý hoạt động hỗ trợ, tài trợ của Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia;
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình quản lý hoạt động hỗ trợ,
học và công nghệ thông qua mô hình quỹ
Hoạt động KH&CN
Theo UNESCO và OECD, hoạt động KH&CN là hoạt động có hệ thống, có
liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức
KH&CN vào đời sống, xã hội. Hoạt động KH&CN bao gồm hoạt động giáo dục
và đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (NC&PT) và dịch vụ
KH&CN. Theo nghĩa hẹp hoạt động KH&CN bao gồm hoạt động NC&PT và
dịch vụ KH&CN [27, tr. 44].
Hỗ trợ, tài trợ là hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận hoặc không đặt
nặng vấn đề về kinh tế để đạt được mục tiêu hoặc kỳ vọng cụ thể nào đó. Tuy
nhiên việc hỗ trợ, tài trợ nên được dựa trên nghĩa vụ hợp đồng giữa nhà tài trợ và
được tài trợ. Các nhà tài trợ và bên được tài trợ nên đưa ra các điều khoản và
điều kiện rõ ràng với các bên liên quan khác, để xác định các kì vọng của họ liên
quan tới các khía cạnh của việc hỗ trợ, tài trợ.
Nhiệm vụ KH&CN
Theo Luật KH&CN 2013, Nhiệm vụ khoa học và công nghệ là những vấn
đề khoa học và công nghệ cần được giải quyết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát
triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển khoa học và công
nghệ [24, tr.2].
Quản lý hoạt động KH&CN
8
Các hoạt động quản lý liên quan đến hoạt động KH&CN là tạo ra tri
thức, ý tưởng kỹ thuật nhằm đưa ra các sản phẩm, quy trình mới, phát triển
các sản phẩm mẫu thử, chuyển giao sang hoạt động sản xuất, phân phối, quản
lý hoạt động sản xuất, kinh doanh, trong đó lĩnh vực đổi mới công nghệ là
một phần của hoạt động này. Mục tiêu chung là duy trì khả năng cạnh tranh,
lợi nhuận, thị phần,…
khai thực hiện một sản phẩm mới hoặc sản phẩm được nâng cấp một cách rõ
rệt (vật chất hoặc dịch vụ) hoặc quy trình, phương pháp marketing mới hoặc
một phương pháp tổ chức mới trong thực tiễn sản xuất kinh doanh, tổ chức
giao tiếp với các đối tác hoặc quan hệ với bên ngoài [27, tr.11].
Hoạt động đổi mới công nghệ: Là tất cả các bước về khoa học, công nghệ,
tổ chức, tài chính và thương mại được tiến hành hoặc chủ định sẽ tiến hành để
thực hiện các đổi mới. Có một số hoạt động đổi mới tự nó là đổi mới, một số hoạt
động là hoạt động không có tính mới nhưng lại cần thiết cho việc thực hiện đổi
mới. Như vậy, hoạt động đổi mới công nghệ bao gồm cả hoạt động NC&PT mà
bản thân nó không trực tiếp dẫn đến triển khai một đổi mới riêng biệt nào [27,
tr.12].
Như vậy, để nhận dạng và đánh giá được đổi mới công nghệ trong doanh
nghiệp, cần phải nhận dạng và đo lường được toàn bộ quá trình diễn ra hoạt
động đổi mới trong doanh nghiệp đó, bắt đầu từ hoạt động NC&PT (bao gồm
cả việc tự nghiên cứu hoặc thuê nghiên cứu) cho đến hoạt động thương mại
hoá sản phẩm, quy trình trên thị trường.
Vậy quản lý hoạt động hỗ trợ - tài trợ nhiệm vụ KH&CN thông qua mô
hình quỹ là hình thức Nhà nước kiểm soát, điều khiển, hướng dẫn việc đầu tư
cho KH&CN qua một tổ chức định chế trung gian theo mô hình quỹ. Việc đầu
tư không nhằm mục đích lợi nhuận (phi lợi nhuận) qua các hình thức hỗ trợ tài trợ theo quy định.
1.1.2. Vai trò của Nhà nước trong quản lý hoạt động hỗ trợ - tài trợ nhiệm
vụ khoa học và công nghệ thông qua mô hình quỹ
10
Chính phủ quản lý các hoạt động xã hội dựa trên hệ thống pháp luật,
thông qua các cơ chế, chính sách cụ thể để thay đổi hoặc điều chỉnh các tổ
chức trong xã hội. Trong lĩnh vực KH&CN, vai trò của Nhà nước được thể hiện ở
nhiều cách thức khác nhau, có thể trực tiếp, gián tiếp, có thể đan xen trong các tổ
Nguồn lực về tài chính: quyết định khả năng hỗ trợ - tài trợ về tài chính
của quỹ. Tuy nhiên, hiện cơ chế về tài chính nói chung tại Việt Nam chưa
được tháo gỡ hoặc giải quyết chưa được triệt để nên còn nhiều điểm vướng
mắc dẫn tới việc tiền có nhưng không thể thực hiện giải ngân được.
Nguồn nhân lực: Nhân lực là yếu tố cốt lõi quyết định hiệu quả của hoạt
động nhất là trong hoạt động mang tính hỗ trợ - tài trợ mà vai trò quản lý của
NN là tối thượng.
- Mô hình áp dụng của quỹ: có rất nhiều các hình thức đầu tư quỹ khác
nhau (quỹ đầu tư của NN, quỹ tư nhân, quỹ tương hỗ, quỹ đầu tư mạo
hiểm,…). Tùy thuộc vào nguồn vốn đầu tư và mục tiêu đầu tư mà lựa chọn
hình thức quỹ cho phù hợp. Ví dụ như: các nhà đầu tư tham gia hoạt động
trong quỹ mở nhằm mong muốn lợi nhuận đầu tư được tăng trưởng nhanh do
quỹ mở có các chuyên gia đầu tư kinh nghiệm thay mặt các nhà đầu tư thực
hiện hoạt động đầu tư; nếu nguồn vốn đầu tư xuất phát từ nguồn ngân sách
NN thì rõ ràng việc thực hiện quản lý các hoạt động phải theo mô hình quản
lý quỹ NN tức là chịu các quy định ràng buộc tương ứng theo quy định của
pháp luật và theo cơ cấu tổ chức, chức năng, quyền hạn được giao,…
Do vậy có thể nói rằng mô hình hoạt động quỹ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến
quy trình quản lý hoạt động nói chung hoạt động hỗ trợ - tài trợ nhiệm vụ
KH&CN nói riêng.
- Chiến lược và định hướng của quỹ: Mỗi quỹ có chiến lược và kế hoạch
hoạt động khác nhau tùy theo lĩnh vực, ngành nghề, từng giai đoạn phát triển.
12
Trên cơ sở định hướng chung của Chính phủ, các kế hoạch và khả năng thực
thi của quỹ ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động.
- Ban Lãnh đạo quỹ:
Ban lãnh đạo sẽ quyết định những vấn đề liên quan đến hoạt động của
Việc xác định và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công
nghệ chưa thực sự xuất phát từ các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Chưa
định rõ quyền hạn, trách nhiệm của các ngành, các cấp trong việc xác định
nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Thiếu cơ chế hữu hiệu khắc phục tình trạng
trùng lặp nhiệm vụ khoa học và công nghệ giữa các ngành, các cấp, các địa
phương. Tiêu chuẩn lựa chọn và việc lựa chọn chuyên gia tham gia các hội
đồng tư vấn để xác định, tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ
khoa học và công nghệ, đánh giá kết quả nghiên cứu còn bất cập. Công tác
đánh giá kết quả nghiên cứu chưa tương hợp với chuẩn mực quốc tế.
Cơ chế quản lý các tổ chức khoa học và công nghệ chưa phù hợp với đặc
thù của lao động sáng tạo và cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Thiếu quy hoạch các tổ chức khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu
phát triển các ngành, lĩnh vực khoa học và công nghệ trọng điểm và nhu cầu
phát triển kinh tế, xã hội. Các tổ chức khoa học và công nghệ của Nhà nước
chưa được thực hiện đầy đủ quyền tự chủ về kế hoạch, tài chính, nhân lực và
hợp tác quốc tế để phát huy tính năng động, sáng tạo và gắn kết giữa nghiên
cứu, đào tạo và sản xuất, kinh doanh. Chưa xây dựng được các tiêu chí cụ thể
đánh giá chất lượng và hiệu quả của hoạt động khoa học và công nghệ nói
chung và các tổ chức khoa học và công nghệ nói riêng.
Cơ chế, chính sách tài chính chưa tạo động lực và điều kiện thuận lợi
cho tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ. Cơ chế tài chính còn
chưa tạo ra sự tự chủ cao đối với các tổ chức khoa học và công nghệ. Đầu tư
từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ còn dàn trải, thiếu tập
14
trung cho các lĩnh vực, công trình trọng điểm. Thiếu biện pháp hữu hiệu để
huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước cho khoa học và công
nghệ. Thiếu các nguồn vốn đầu tư mạo hiểm để khuyến khích nghiên cứu,
động quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ. Hệ thống các văn bản quy
phạm pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động khoa học và công nghệ
còn thiếu, chưa cụ thể, thiếu đồng bộ, lạc hậu so với thực tiễn, nhiều quy định
không khả thi. Thiếu phân công, phân cấp rõ ràng về quyền hạn và trách
nhiệm giữa các Bộ, ngành và giữa trung ương với địa phương.
1.1.3.3 Nhận xét các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động hỗ trợ - tài trợ
nhiệm vụ khoa học và công nghệ
Phân tích trên đây đã chỉ ra 11 yếu tố gồm 05 yếu tố bên trong và 06 yếu
tố bên ngoài ảnh hưởng đến quản lý hoạt động hỗ trợ - tài trợ nhiệm vụ
KH&CN thông qua mô hình quỹ. Cũng cần lưu ý rằng sự phân chia yếu tố
bên trong và bên ngoài cũng chỉ là tương đối. Đây là những yếu tố chung nhất
xuất phát từ các nghiên cứu trong và ngoài nước cũng như qua phân tích của
luận văn. Qua đây ta cũng có thể nhận xét các yếu tố có ảnh hưởng nhiều đến
quản lý hoạt động hỗ trợ - tài trợ nhiệm vụ KH&CN là: Nguồn nhân lực quản
lý, ban lãnh đạo quỹ, chính sách vốn cho hoạt động KH&CN, thuế, chính
sách nhân lực và một số chính sách khác, đặc biệt là các chính sách liên quan
đến vốn cho KH&CN và thuế là các chính sách được nhắc đến nhiều nhất
trong các văn bản luật pháp của nhà nước nhằm khuyến khích các hoạt động
R&D và ĐMCN trong doanh nghiệp Việt Nam. Những phân tích chi tiết trong
từng yếu tố có thể chưa đầy đủ nhưng luận văn đã cố gắng phân tích để đưa ra
những mặt tích cực và một số hạn chế của các yếu tố đó, nó là cần thiết để
làm cơ sở đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp hơn, thực sự thúc đẩy các hoạt
động R&D, ĐMCN góp phần nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp
nói riêng, tiềm năng về KH&CN và công nghệ của nước nhà nói chung.
16
1.2. Quy trình quản lý hoạt động hỗ trợ - tài trợ nhiệm vụ khoa học và
công nghệ thông qua mô hình quỹ
công nghệ
Trong quản lý hoạt động KH&CN, quỹ phát triển KH&CN quốc gia
được coi như tổ chức điển hình trong hoạt động hỗ trợ - tài trợ nghiên cứu cơ
bản và Quỹ đã hoàn thiện các quy trình quản lý của mình. Quy trình quản lý
của Quỹ cũng được nhiều tổ chức quỹ nghiên cứu và học hỏi. Quy trình được
mô tả cụ thể như sau:
Hồ sơ đề
xuất
Hồ sơ
chuyển
NAFOSTED
Sơ đồ Quy trình giải quyết hồ sơ vay vốn, tài trợ
Để Hội đồng thẩm định hồ sơ vay vốn được hiệu quả, Quỹ Phát triển
khoa học và công nghệ quốc gia tiến hành thẩm định hồ sơ vay vốn theo quy
trình sau đây:
a) Thẩm định hồ sơ vay vốn
Trước phiên họp ít nhất là 07 ngày, Cơ quan điều hành Quỹ gửi phiếu
thẩm định và hồ sơ vay vốn đã đủ điều kiện theo quy định cho thành viên Hội
đồng thẩm định và chuyên gia đánh giá trong hoặc ngoài Hội đồng.
18
Thành viên Hội đồng và các chuyên gia đánh giá độc lập có trách
nhiệm nghiên cứu hồ sơ, có nhận xét theo các nội dung thẩm định, gửi đến Cơ
quan điều hành Quỹ 01 ngày trước phiên họp Hội đồng.
Phiên họp hợp lệ của Hội đồng phải có ít nhất 2/3 số thành viên Hội
trước hạn, lãi suất vay được tính đến thời điểm trả hết nợ vay và được ưu tiên
xem xét đối với dự án vay vốn trong lần tiếp theo. Điều này giúp tạo động lực
cho bên vay hoạt động hiệu quả, cũng như có ý thức trả nợ sớm.
Đến kỳ hạn trả nợ theo quy định, bên vay phải chủ động trả nợ vốn vay
cho Quỹ. Nếu bên vay không trả nợ và không được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ
hoặc gia hạn nợ thì Quỹ chuyển số nợ gốc đến hạn phải trả sang nợ quá hạn
với lãi phạt bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, đồng thời bên vay phải
chịu trách nhiệm thực hiện các chế tài về thu nợ và lãi quá hạn theo quy định
của pháp luật. Đối với trường hợp cho vay không lấy lãi ngoài việc Quỹ
chuyển số nợ gốc đến hạn phải trả sang nợ quá hạn với lãi phạt bằng 150% lãi
suất cơ bản đồng thời thì bên vay phải chịu trách nhiệm thực hiện các chế tài
về thu nợ và lãi quá hạn theo quy định của pháp luật.
Đối với trường hợp cho vay không lấy lãi, nếu bên vay không trả nợ và
không được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ theo quy định tại thì
Quỹ chuyển số nợ gốc đến hạn phải trả sang nợ quá hạn với lãi phạt bằng
150% lãi suất cơ bản đồng thời bên vay phải chịu trách nhiệm thực hiện các
chế tài về thu nợ và lãi quá hạn theo quy định của pháp luật.
Quỹ tiến hành gia hạn nợ vay, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ nếu vì lý do
khách quan như chính sách Nhà nước thay đổi, thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh,
phá sản hay các lý do khách quan bất khả kháng khác làm tổn thất toàn bộ hay
một phần tài sản (mức độ thiệt hại về vốn và tài sản dưới 40% so với tổng số
20