Bồi thường, giải phóng mặt bằng tái định cư các dự án đầu tư tại quận hoàng mai, thành phố hà nội - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ TRÂM ANH

BỒI THƢỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TÁI ĐỊNH CƢ
CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƢ TẠI QUẬN HOÀNG MAI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số

: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. Nguyễn Thắng

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn tốt nghiệp “BỒI THƢỜNG GIẢI PHÓNG
MẶT BẰNG TÁI ĐỊNH CƢ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƢ TẠI QUẬN HOÀNG MAI
THÀNH PHỐ HÀ NỘI” là công trình nghiên cứu của bản thân, không sao chép
của ai, với sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Thắng.
Các số liệu phân tích và kết quả trong luận văn là trung thực, số liệu được lấy
từ nguồn đáng tin cậy./.
Hà Nội, ngày …. tháng 7 năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BỒI THƢỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT
BẰNG TÁI ĐỊNH CƢ.................................................................................... 10
1.1. Khái niệm và đặc điểm của giải phóng mặt bằng .................................... 10
1.2. Sự cần thiết của công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng .................... 14
1.3. Chính sách hiện hành về bồi thường, giải phóng mặt bằng ..................... 18
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng...... 24
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BỒI THƢỜNG, GIẢI
PHÓNG MẶT BẰNG TÁI ĐỊNH CƢ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƢ TẠI QUẬN
HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ...................................................... 31
2.1. Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, KTXH của quận Hoàng Mai ........ 31
2.2. Tổng quan về tình hình sử dụng đất đai trên địa bàn quận Hoàng Mai ... 35
2.3. Thực trạng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại quận Hoàng Mai
......................................................................................................................... 40
2.4. Đánh giá thực trạng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại quận
Hoàng Mai ....................................................................................................... 57
2.5. Bài học kinh nghiệm trong công tác GPMB cho quận Hoàng Mai ......... 64
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY CÔNG TÁC BỒI
THƢỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TÁI ĐỊNH CƢ CÁC DỰ ÁN
ĐẦU TƢ TẠI QUẬN HOÀNG MAI ĐẾN NĂM 2020 .............................. 65
3.1. Nhóm giải pháp về hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và chính sách về bồi
thường, giải phóng mặt bằng........................................................................... 65
3.2. Nhóm giải pháp về thực thi chính sách về bồi thường, giải phóng mặt
bằng ................................................................................................................. 68
KẾT LUẬN .................................................................................................... 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 79

i


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


Quy hoạch

SDĐ

Sử dụng đất

UBND

Ủy ban nhân dân

ii


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2. 1: Diện tích, cơ cấu các loại đất quy hoạch tại Quận Hoàng Mai, thành
phố Hà Nội tính đến năm 2020...............................................................................36
Bảng 2. 2: Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2015 của Quận Hoàng
Mai ............................................................................................................................38

iii


DANH MỤC HÌNHVẼ
Hình 2. 1: Cơ cấu diện tích đất tại Quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội .........31
Hình 2. 2: Dân số Quận Hoàng Mai, giai đoạn 2004 - 2015. ...............................32
Hình 2. 3: Sự chuyển dịch cơ cấu diện tích sử dụng đất tại Quận Hoàng Mai,
thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2015 ...............................................................33

iv

tiến độ giải phóng mặt bằng theo kế hoạch đã đề ra.

1


Đứng trước tình trạng này, UBND thành phố Hà Nội nói chung và UBND
quận Hoàng Mai nói riêng cũng đã có nhiều chính sách đặc thù, cải cách thủ tục
hành chính và có nhiều biện pháp tích cực để đẩy nhanh công tác BTGPMB. Tuy
nhiên, do công tác giải phóng mặt bằng (bản chất của nó là thu hồi đất) là công tác
ảnh hưởng trực tiếp tới tài sản, sinh kế, sự an cư của các hộ gia đình, cá nhân, do đó
là một công việc vô cùng khó khăn, phức tạp và là khâu khó thực hiện nhất trong tất
cả các bước triển khai thực hiện một dự án đầu tư xây dựng. Bên cạnh đó, chi phí
cho giải phóng mặt bằng rất lớn, tiến độ phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như
tốc độ giải ngân chi phí đền bù, quỹ nhà dành cho tái định cư sau thu hồi đất, sự hợp
tác của các hộ gia đình bị thu hồi đất, sự phối hợp của chính quyền địa phương, sự
hợp tác của các tổ chức, đơn vị có liên quan trực tiếp đến khu vực cần giải phóng
mặt bằng cũng như các yếu tố chủ quan như năng lực và kinh nghiệm của chủ đầu
tư, khả năng triển khai thực hiện của đơn vị trực tiếp tham gia vào công tác đền bù,
giải phóng mặt bằng dẫn đến kết quả đạt được trong công tác BT GPMB tại địa bàn
quận Hoàng Mai chưa thu được nhiều kết quả tích cực.
Xuất phát từ những thực tế nói trên, để đi sâu nghiên cứu đánh giá đúng
thực trạng công tác GPMT nhằm đề xuất một số giải pháp đẩy nhanh công tác bồi
thường, giải phóng mặt bằng các dự án đầu tư tại quận Hoàng Mai, học viên đã
quyết định lựa chọn đề tài “Bồi thƣờng, giải phóng mặt bằng tái định cƣ các
dự án đầu tƣ tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội” làm Luận văn thạc sỹ
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Với nhiệm vụ đặt ra của Luận văn là đề xuất giải pháp để đẩy nhanh tiến độ
bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng các dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn quận
Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, học viên đã nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu về chủ

hồi, bồi thường, giải phóng mặt bằng của một số dự án trên địa bàn thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh, Luận Văn Thạc sỹ Nông nghiệp. Tác giả đã phân tích chính sách giải
phóng mặt bằng, bồi thường, tái định cư đang được áp dụng trong việc thu hồi đất
nông nghiệp trên địa bàn thị xã Từ Sơn - tỉnh Bắc Ninh. Đưa ra thực trạng và một
số giải pháp hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và đẩy nhanh tiến độ thu hồi
đất phục vụ tiến trình công nghiệp hóa tại địa phương [22].

3


- Tác giả Vũ Văn Sơn (2013), Giải pháp đẩy nhanh tiến độ công tác bồi
thường, giải phóng mặt bằng tái định cư các dự án đầu tư xây dựng công của thành
phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Kinh tế. Trong Luận văn này tác giả đã tổng kết các
chính sách pháp luật của nhà nước và thành phố Hà Nội trong thực hiện công tác
giải phóng mặt bằng tái định cư các dự án đầu tư xây dựng công của thành phố Hà
Nội hiện nay, đồng thời kiến nghị một số giải pháp trong việc đẩy nhanh công tác
giải phóng mặt bằng của Thủ đô [36].
- Tác giả Nguyễn Đức Bình nghiên cứu đánh giá việc phân cấp quản lý Nhà
nước trong thực hiện chính sách thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư tại tỉnh
Bà Rịa, Vũng Tàu: Quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước đại diện
chủ sở hữu, nhà nước phân cấp cho chính quyền địa phương thực hiện một số quyền
định đoạt, trong đó có quyền thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ tái định cư. Với quyền
hạn được phân cấp, chính quyền địa phương có nhiều động cơ để thực hiện việc thu
hồi đất của người dân trong điều kiện thiếu sự giám sát, hạn chế sự tham gia của
người dân, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình kém, làm tăng nguy cơ dẫn đến
những rủi rotham nhũng, tiêu cực. Nguồn tài nguyên khan hiếm của đất nước được
sử dụng chưa hiệu quả, phúc lợi từ đất đai không được phân phối một cách công
bằng, không tránh khỏi tình trạng lạm dụng quyền lực nhà nước hay nhân danh vì
mục đích chung nhưng thực tế chỉ mang lại lợi ích cho những người có khả năng tác
động. Phân cấp trao quyền nhưng thiếu kiểm soát dẫn đến lạm quyền, hậu quả đôi
khi còn thiệt hại nghiêm trọng hơn là những lợi ích của việc phân cấp mang lại.

hồi 100% diện tích đất nông nghiệp chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số hộ bị thu hồi
đất. Từ thực tiễn tác động của việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
sang đất phi nông nghiệp đến thu nhập, việc làm và điều kiện sống của người dân có
đất nông nghiệp bị thu hồi trên địa bàn cho thấy: xét một cách nghiêm túc, việc thu
hồi đất nông nghiệp, tiến hành bồi thường, giải quyết việc làm, đảm bảo thu nhập,
điều kiện sống cho người dân thuộc diện mất đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh có
nhiều thời điểm chưa tốt như sự thiếu đồng bộ, thiếu rõ ràng, trong các chủ trương,
chính sách, còn thiếu sự phối hợp về quy hoạch, kế hoạch với vấn đề đào tạo nghề,
giải quyết việc làm cho người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi, chưa gắn với việc
chuyển dịch cơ cấu đất đai với cơ cấu lao động. Hầu hết các hộ đều trả lời rằng họ
phải tự đi tìm việc làm mới sau khi bị thu hồi đất, chứ không thể dựa vào sự hỗ trợ

5


của địa phươnghay chủ dự án đầu tư. Như vậy, vấn đề lao động và điều kiện sống
của người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi trong những năm tới vẫn là vấn đề
nóng bỏng. Nếu không có giải pháp đồng bộ mang tính khả thi để giải quyết nó thì
vấn đề ổn định và phát triển đối với nhân dân tỉnh sẽ hết sức khó khăn. Kết quả
khảo sát cho thấy nhìn chung là khi mất đất nông nghiệp thì đời sống kinh tế của
người dân bị mất đất cũng không ổn định hơn so với trước khi bị thu hồi đất. Hầu
hết thu nhập của người dân đều giảm so với trước kia, điều này ảnh hưởng lớn đến
đời sống cũng như chi tiêu của các hộ. Chính sách đền bù tái định cư còn nhiều bất
cập, chưa có nhiều chính sách hướng nghiệp cũng như hỗ trợ việc làm. Việc thu hồi
đất làm kiệt quệ nguồn lực tài chính của người dân, dẫn tới các tác động tiêu cực
đến điều kiện sống của người dân như ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội làm ảnh
hưởng tới niềm tin của người dân bị thu hồi đất [7].
Tuy nhiên, trong các đề tài nêu trên, chưa có đề tài nào nghiên cứu, đề xuất
các giải pháp về thúc đẩy tiến độ thực hiện công tác giải phóng mặt bằng trên địa
bàn quận Hoàng Mai. Do đó việc nghiên cứu đề tài này là rất cần thiết và có ý nghĩa

- Đề xuất các giải pháp để thúc đẩy công tác bồi thường, giải phóng mặt
bằng các dự án tại quận Hoàng Mai.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng các dự án
đầu tư xây dựng trên địa bàn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Trên địa bàn quận Hoàng Mai.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2004 (khi thành lập Quận) đến nay.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp luận nghiên cứu đề tài là duy vật biện chứng, duy vật lịch sử:
Nội dung của phương pháp duy vật biện chứng là nghiên cứu sự vật, hiện
tượng kinh tế, xã hội phải đặt trong mối quan hệ tác động qua lại, gắn kết, biện
chứng với nhau. Nghiên cứu chính sách trong mối quan hệ tác động qua lại với các
ban ngành và giữa các chính sách cũng cần có sự ăn khớp, hỗ trợ khi tác động đến
đối tượng là quản lý đất nông nghiệp trên địa bàn quận Hoàng Mai.

7


Phương pháp duy vật lịch sử thể hiện nghiên cứu việc sử dụng đất và các
chính sách tác động đến công tác quản lý sử dụng đất nói chung, và công tác bồi
thường, giải phóng mặt bằng nói riêng phải đặt trong các điều kiện, bối cảnh cụ thể,
phải đảm bảo tính lịch sử, hiện thực khách quan.
5.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Phương pháp so sánh: được áp dụng nhằm phát hiện ra những điểm giống
nhau và khác nhau của các nghiên cứu cùng đối tượng là công tác bồi thường, giải
phóng mặt bằng, đồng thời xác định những nguyên nhân dẫn đến sự đồng nhất hay
khác biệt đó. Có thể so sánh bằng các chỉ tiêu tương đối hoặc tuyệt đối, định lượng

Ngoài các phần mở đầu, lời cảm ơn, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1. Tổng quan về bồi thường, giải phóng mặt bằng.
Chương 2. Thực trạng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng các dự án
đầu tư tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Chương 3. Một số giải pháp thúc đẩy công tác bồi thường, giải phóng mặt
bằng các dự án đầu tư tại quận Hoàng Mai đến năm 2020.

9


CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ BỒI THƢỜNG, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG TÁI ĐỊNH CƢ
1.1. Khái niệm và đặc điểm của giải phóng mặt bằng
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của giải phóng mặt bằng
Từ điển tiếng Việt không có khái niệm về “giải phóng mặt bằng”, theo tác
giả, để có thể hiểu nghĩa cụm từ “giải phóng mặt bằng” phải hiểu gián tiếp thông
qua nghĩa của hai khái niệm “giải phóng” và “mặt bằng”. Theo đó, “giải phóng”
trong hoàn cảnh này được hiểu là “làm thoát khỏi tình trạng bị vướng mắc, cản trở,
thu dọn vật liệu rơi vãi” và “mặt bằng” là “hình chiếu phần còn lại của ngôi nhà lên
mặt phẳng hình chiếu bằng sau khi đã tưởng tượng cắt bỏ đi phần trên (phần mái)
bằng một mặt phẳng cắt song song với mặt phẳng hình chiếu bằng”. Từ những khái
niệm trên, có thể hiểu “giải phóng mặt bằng” là việc thu dọn tất cả vướng mắc, cản
trở để có một bề mặt trên đất trống hoàn toàn. Trên thực tế, khái niệm “giải phóng
mặt bằng” được dùng phổ biến trong pháp luật về đất đai khi Nhà nước có quyết
định thu hồi đất vì các mục đích quy định theo luật [9], tuy nhiên Luật Đất đai năm
2013 không có quy định thế nào là “giải phóng mặt bằng” trong phần giải thích từ
ngữ mặc dù có sử dụng cụm từ này nhiều lần trong luật. Do đó, cho đến nay các bên
vẫn hiểu như cách tác giả giải thích như ở trên hoặc hiểu tương tự tại nhiều nghiên
cứu ở Việt Nam, các tác giả đều thống nhất rằng “giải phóng mặt bằng” hay “giải

Một số tác giả nghiên cứu trước đây thì cho rằng “bồi thường” là “việc hoàn
trả lại toàn bộ giá trị tài sản bị thiệt hại cho chủ sở hữu phần tài sản đó” [18], “là trả
lại tương xứng giá trị hoặc công lao một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi
của chủ thể khác gây ra” [22].
Để thống nhất với cách hiểu trong Luật Đất đai năm 2013, tác giả cho rằng
khái niệm “bồi thường, giải phóng mặt bằng” là nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà
nước phân cấp từ trung ương xuống địa phương trong lĩnh vực quản lý sử dụng đất
trong đó công tác này trọng tâm là việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội
tại địa phương nói riêng và kinh tế xã hội cả nước nói chung, trong đó cơ quan quản
lý nhà nước thông qua các biện pháp hành chính để thực hiện quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất, thực hiện chế độ chính sách cho người sử dụng đất có đất nằm trong
vùng được quy hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đất, tổ chức thực hiện cưỡng
chế theo đúng quy định của pháp luật nhằm thực thi quyền lực của Nhà nước trên

11


cơ sở các chính sách phát triển kinh tế xã hội chung, tổ chức hòa giải, giải quyết
khiếu kiện, khiếu nại của người sử dụng đất có đất nằm trong khu vực bồi thường,
giải phóng mặt bằng, cũng như thực hiện các công tác tái định cư, đảm bảo an sinh,
xã hội. Đây là nội dung chính của nghiên cứu, đối với các mảng công tác như tổ
chức tính toán giá trị đất, các công tác tác dụng trực tiếp lên đất, trả lại hiện trạng
đất, cải tạo đất cũng thuộc công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng nhưng tác giả
không đề cập đến trong luận văn này.
1.1.3. Một số đặc điểm của công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng
Công tác GPMB luôn là một trong những nhiệm vụ trong tâm, khó khăn,
phức tạp và ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi của các hộ dân. Vì vậy, cần có sự sự
nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực giải phóng mặt bằng. Thực hiện việc bồi
thường, hỗ trợ và giải phóng mặt bằng là vấn đề nhạy cảm trong xã hội, chịu sự
tác động của nhiều yếu tố đan xen với nhau, có ảnh hưởng đến mục tiêu của phát

cho rằng đây là một đặc điểm quan trọng mà nghiên cứu cần giải quyết.
1.1.3.3. Tính lợi ích
Từ Hiến pháp năm 1980 đến Hiến pháp năm 2013 đều quy định quyền sở
hữu đất đai ở nước ta thuộc về toàn dân, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, còn
quyền sử dụng đất đai thuộc về người chủ sử dụng đất cụ thể theo quy định của luật.
Nhà nước thực hiện các quyền liên quan đến quản lý sử dụng đất nông nghiệp thông
qua việc thu thuế, thu tiền sử dụng đất từ những người trực tiếp sử dụng đất. Nhằm
tăng cường việc sử dụng đất đai có hiệu quả, Nhà nước xây dựng hành lang pháp lý
để đảm bảo hài hòa lợi ích của người sử dụng đất và lợi ích của Nhà nước. Và trước
đây tại Điều 5 Luật Đất đai năm 2003 quy định [27] “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân
do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”, “Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với
đất đai”, “Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất thông qua các
chính sách tài chính đất đai”, thì nay Luật Đất đai năm 2013 [28] quy định: “Đảm
bảo sự kết hợp hài hòa giữa quyền sở hữu đất đai và quyền sử dụng đất đai, giữa lợi
ích của Nhà nước và lợi ích của người trực tiếp sử dụng.”
Như vậy, có thể khẳng định một đặc điểm nữa của quá trình BT GPMB là
tính lợi ích, lợi ích này là lợi ích giữa Nhà nước, chủ đầu tư, và người dân có mối
quan hệ chặt chẽ không thể tách rời và phải đảm bảo được tính hài hòa về lợi ích

13


giữa các bên khi tiến hành BT GPMB là đặc điểm rất quan trọng sẽ được đề cập khi
phân tích tại chương 2 và chương 3 của luận văn.
1.2. Sự cần thiết của công tác bồi thƣờng, giải phóng mặt bằng
Điều 22 Luật Đất đai năm 2013 quy định nội dung quản lý nhà nước về đất
đai là tổng hợp của 15 nội dung công việc có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, bổ sung
cho nhau trong công tác quản lý nhà nước về sử dụng đất:
“1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ
chức thực hiện văn bản đó;

quản lý nhà nước về đất đai và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nước ta để nêu bật sự cần thiết của
công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng.

1.2.1. Bồi thƣờng, giải phóng mặt bằng là yêu cầu khách quan của quá trình
phát triển KTXH, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nƣớc
Nhiều tác giả cho rằng “tất yếu khách quan của sự tồn tại là phát triển, phát
triển KTXH đóng vai trò hết sức quan trọng” [18]. Để thực hiện mục tiêu phát triển
kinh tế đất nước, quốc gia phải phát triển các dự án HTKT để phát triển đô thị, phát
triển sản xuất mà đất đai là nguồn lực quan trọng đóng vai trò đầu vào cho mọi sự
phát triển. Vì vậy, để thực hiện mục tiêu phát triển nói chung, cụ thể hóa theo quy
định của pháp luật nói riêng, Nhà nước tiến hành quy hoạch, thu hồi đất để phục vụ
các mục tiêu này nhưng đồng thời phải BT GPMB nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích
giữa các bên liên quan đến việc sử dụng đất trước, trong và sau khi thu hồi. Ở nước
ta, trước yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước thì nhu cầu sử dụng đất
ngày một gia tăng nhằm đáp ứng việc xây dựng các khu đô thị và khu công nghiệp
theo quy hoạch. Việc đảm bảo tiến độ thực hiện công tác BT GPMB được xem là
một nhiệm vụ hết sức nặng nề, khó khăn và phức tạp [18]. Tác giả Nguyễn Thị
Minh Tâm [22] cho rằng “Trong lịch sử phát triển của mọi quốc gia, việc giải phóng
mặt bằng để xây dựng công trình là không thể tránh khỏi. Nhịp độ phát triển càng
lớn thì nhu cầu giải phóng mặt bằng càng cao và trở thành một thách thức ngày
càng nghiêm trọng đối với sự thành công không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà trong
cả ở trong các lĩnh vực xã hội, chính trị trên phạm vi quốc gia” và “vấn đề BT
GPMB trở thành một trong những điều kiện tiên quyết của sự phát triển, nếu không

15


được xử lý tốt sẽ trở thành lực cản đầu tiên mà các nhà hoạch định chiến lược phải
vượt qua”. Có thể khẳng định, BT GPMB là yêu cầu khách quan luôn đi đôi với quá


trình, dự án phát triển KTXH. Là tiền đề để thực hiện chuỗi công tác thu hồi đất, BT
GPMB, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất cho phù hợp với quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất từng thời kỳ với nguyên tắc sử dụng đất tiết kiệm và
hiệu quả hơn. Trong quá trình này, có thể thấy công tác thu hồi đất và công tác giao,
cho thuê, chuyển mục đích sử dụng đất đơn thuần là các công tác hành chính do các
cơ quan của Nhà nước chủ động thực hiện. Để đảm bảo mục tiêu này thì công tác
BT GPMB là công việc phát sinh trên thực tế, nơi giải quyết trực tiếp các mâu thuẫn
phát sinh. Theo đó, tiến độ BT GPMB hay cụ thể hơn là tiến độ giải quyết các mâu
thuẫn phát sinh sẽ có tác động vào việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
hợp lý và có hiệu quả, ngược lại việc không đảm bảo tiến độ BT GPMB sẽ dẫn tới
ảnh hưởng tới công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, mà hậu quả là ảnh hưởng
tới việc bàn giao đất để xây dựng các công trình phát triển KTXH.
1.2.4. Bồi thường, giải phóng mặt bằng góp phần thực hiện các dự án phát triển
kinh tế - xã hội liên quan đến việc sử dụng đất đai, xây dựng và phát triển nhà ở
Các dự án phát triển KTXH liên quan đến việc sử dụng đất đai, xây dựng và
phát triển nhà ở thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật Xây
dựng, Luật Kinh doanh Bất động sản. Mà nguyên tắc chung để các dự án này đảm
bảo việc triển khai là phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ),
muốn có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Nhà nước phải giao, cho thuê đất
cho người sử dụng đất đã hoàn thành xong công tác bồi thường, giải phóng mặt
bằng, hiểu theo thị trường là được giao, cho thuê “đất sạch”. Quy định như vậy là
phù hợp vì đảm bảo quyền và lợi ích của nhà đầu tư, người sử dụng đất khi bỏ ra
một số tiền lớn để đầu tư lên đất nhằm phát triển các mục tiêu KTXH. Luật cũng
quy định theo hướng mở việc nhà đầu tư tham gia vào việc thúc đẩy quá trình bồi
thường, giải phóng mặt bằng để thúc đẩy quá trình này, nhanh chóng có “đất sạch”
để triển khai dự án. Có thể thấy công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng góp phần
thực hiện các dự án phát triển KTXH liên quan đến việc sử dụng đất đai, xây dựng
và phát triển nhà ở.


cư nơi có đất thu hồi, gửi quyết định bồi thường, hỗ trợ & tái định cư đến từng
người có đất thu hồi, trong đó ghi rõ về mức bồi thường, hỗ trợ và bố trí nhà hoặc

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status