Bài giảng môn học Phương pháp hình thành biểu toán cho trẻ mầm non dành cho sinh viên hệ cao đẳng mầm non - Pdf 39

ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG
1. Tên học phần: PHƯƠNG PHÁP CHO TRẺ MẦM NON LÀM QUEN VỚI TOÁN
2. Kí hiệu: LQVT – CN – 3
3. Số đơn vị học trình: 3ĐVHT = 45 tiết
4. Trình độ: Dùng cho SV hệ Cao đẳng (năm thứ hai)
5. Phân phối thời gian:
- Lí thuyết: 25 tiết
- Thực hành: 20 tiết
- Ôn tập kiểm tra: 1 tiết
6. Điều kiện tiên quyết:
Dạy học phần này sau khi sinh viên đã học toán cơ bản.
7. Mục tiêu của học phần:
Cung cấp cho SV kiến thức, kỹ năng cần thiết để có khả năng tổ chức hoạt động
làm quen với toán cho trẻ ở trường mầm non.
8. Mô tả vắn tắt nội dung học phần:
- Những vấn đề lí luận cơ bản: Ý nghĩa và đặc điểm của việc hình thành các biểu
tượng toán; mục đích, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và điều kiện
hình thành các biểu tượng toán cho trẻ trong GDMN.
- Tổ chức các hoạt động hình thành các biểu tượng toán: tập hợp – số và phép
đếm, hình dạng, kích thước, không gian và thời gian (lập kế hoạch tổ chức thực hiện và
đánh giá).
9. Nhiệm vụ của sinh viên:
- Lên lớp đầy đủ số tiết theo qui định hoặc phải dự tối thiểu 80% quỹ thời gian
của học phần.
- Tự học và nghiên cứu tài liệu.
- Thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các bài tập thực hành được giao như sau:
+ Thực hành thảo luận nhóm.
1


+ Soạn giáo án tổ chức các hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ MN.


NỘI DUNG
LT
1

SỐ TIẾT
TH KT TỔNG
0
1

1
2

Chương 1: Bộ môn PP cho trẻ LQVT
Chương 2: Định hướng của quá trình cho

4

3

7

3

trẻ mầm non LQVT
Chương 3: Hình thành biểu tượng về số

5

4

4

3

7

7

trong không gian cho trẻ MN
Chương 7: Hình thành sự định hướng về
thời gian cho trẻ MN
Tổng

3
25

3
19

1
1

7
45

Chương 1: BỘ MÔN PHƯƠNG PHÁP CHO TRẺ MẦM NON LÀM
QUEN VỚI TOÁN
I. Đối tượng của môn học
- Nghiên cứu những đặc điểm những quy luật hình thành và phát triển những biểu
tượng toán học sơ đẳng cho trẻ mầm non.

- Xác định mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ của việc hình thành biểu tượng toán học
toán cho trẻ mầm non các lứa tuổi khác nhau.
- Nghiên cứu những nội dung biểu tượng toán học sơ đẳng cần hình thành cho trẻ
các độ tuổi khác nhau.
- Nghiên cứu phương pháp, biện pháp để thực hiện các nội dung dạy trẻ những
kiến thức toán học sơ đẳng.
- Hình thức tổ chức dạy trẻ.
- Phương tiện dạy học những kiến thức toán học sơ đẳng.
4


- Giáo dục toán học cho trẻ mầm non trong gia đình.
- Nghiên cứu sự kế thừa giáo dục giữa dạy toán ở lớp 1 với dạy ở mầm non.
2.3. Nhiệm vụ của bộ môn trong trường sư phạm
Trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về dạy kiến thức toán học sơ
đẳng:
- Nắm phương pháp, nội dung, hình thức, phương tiện về việc hình thành biểu
tượng toán học sơ đẳng cho trẻ.
- Nắm được đặc điểm phát triển nhận thức của trẻ.
- Nắm được đối tượng và nhiệm vụ của môn học, mối liên hệ với các khoa học
khác.
- Nắm được đặc điểm nhận thức biểu tượng toán học của trẻ.
- Nắm được nội dung, phương pháp, biện pháp, hình thức, phương tiện dạy học.
Rèn luyện kỹ năng cơ bản về hình thành biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ lứa
tuổi mầm non.
- Nắm được kỹ năng soạn giáo án, lập kế hoạch.
- Kỹ năng đánh giá, nhận xét quá trình học tập của trẻ.
- Học sách tìm hiểu chương trình, giáo trình, tài liệu hướng dẫn, tham khảo.
- Tìm hiểu đối tượng trẻ mà lớp mình phụ trách.
- Kỹ năng tiến hành tiết học và đánh giá tiết học.

tượng về mùa, tháng, tuần lề, ngày, giờ.
3.3. Tâm lý học mầm non
Dựa vào quá trình nhận thức của trẻ, đặc điểm ngôn ngữ phù hợp với trẻ (trẻ bé:
câu đơn, lơn: câu phức). Nghiên cứu đặc điểm phát triển các quá trình tâm lý của trẻ
mầm non, tâm lý về các hoạt động chủ đạo => lựa chọn nội dung, phương pháp, biện
pháp, hình thức tổ chức thực hiện.....
3.4. Sinh lý trẻ
Nghiên cứu các quá trình phát triển, đặc điểm phát triển các quá trình sinh lý của
trẻ mầm non. Dựa vào những đặc điểm đó để đề ra nội dung, phương pháp, hình thức
phù hợp.
6


3.5. GDH mầm non
Nghiên cứu lí luận dạy học mầm non bao gồm: Mục tiêu, phương pháp, biện
pháp, hình thức, phương tiện, các nguyên tắc... Dựa vào lí luận chung đó, chúng ta xây
dựng lí luận hình thành biểu tượng toán học toán sơ đẳng cho trẻ mầm non.
3.6. Logic học
Bồi dưỡng tư duy lôgíc cho giáo viên mầm non để suy luận có lôgíc, lập luận có
cơ sở, nói năng mạch lạc, rõ ràng.
3.7. Toán thống kê
Trang bị cho giáo viên MN có kiến thức đó để phân tích, xử lý các số liệu thu
được để đánh giá kết quả.
Tâm lý

PP HTBT toán
Toán học

GDHMN
Triết học

- Góp phần phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ trẻ chẩn bị bước vào trường
phổ thông.
II. Nhiệm vụ của quá trình cho trẻ MN LQVT
- Trang bị cho trẻ những kiến thức ban đầu về tập hợp, con số, kích thước,
hình dạng, không gian và thời gian đó là cơ sở đầu tiên để phát triển toán học cho trẻ.

8


- Hình thành ở trẻ những định hướng ban đầu về các mối quan hệ số lượng,
không gian và thời gian có trong hiện thực xung quanh trẻ.
- Hình thành một số kỹ năng như: kỹ năng đếm, kỹ năng đo lường, kỹ năng tính
toán và những kỹ năng hoạt động học tập.
- Giúp trẻ nắm được một số thuật ngữ toán học.
- Phát triển hứng thú và năng lực nhận biết, phát triển tư duy lôgic và ngôn ngữ
cho trẻ.
III. Các nguyên tắc cho trẻ MN LQVT
Quá trình cho trẻ mầm non LQVT trong trường mầm non nhằm trang bị cho trẻ
những kiến thức toán học sơ đẳng, hình thành những kĩ năng, kĩ xảo thực hành, phát
triển năng lực trí tuệ, năng lực học tập và những hứng thú nhận biết. Vì vậy, quá trình
cho trẻ mầm non LQVT cần phải tuân theo các nguyên tắc dạy học, cần phải cụ thể hóa
và vận dụng một cách linh hoạt các nguyên tắc đó vào trong quá trình dạy trẻ.
3.1. Nguyên tắc dạy học đảm bảo tính phát triển
Nguyên tắc này xuất phát từ những yêu cầu của xã hội đối với quá trình dạy học
đảm bảo sự thống nhất giữa giáo dục, giáo dưỡng và sự phát triển của trẻ: Phát triển các
quá trình nhận thức của trẻ, hướng tới phát triển nhân cách cho trẻ.
Lựa chọn nội dung học tập:
- Trẻ em tiếp nhận các kiến thức trong quá trình học tập nhưng việc giảng dạy
không chỉ dừng ở mức độ truyền thụ kiến thức mà phải tạo cơ hội để chính bản thân trẻ
chủ động suy nghĩ, nhận biết các mối tương quan xác định trong cuộc sống cũng như

nào.
3.3. Nguyên tắc đảm bảo tính trực quan
Xuất phát từ cơ sở phát triển tư duy của trẻ là tư duy trực quan hành động - tư duy
trực quan hình tượng của trẻ, mối quan hệ giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính.
Nguyên tắc trực quan rất quan trọng trong việc hình thành các biểu tượng ban đầu
về toán. Nhờ có đồ dùng trực quan, các khái niệm toán được mô hình hoá trở nên dễ
hiểu đối với trẻ và làm trẻ chú ý tới phần quan trọng chủ yếu của vấn đề cần lĩnh hội.
10


Nhà giáo dục Nga Uxinxki đã khẳng định rằng, tính trực quan là cần thiết cho sự phát
triển của trẻ nhỏ, đứa trẻ sẽ bị hành hạ khổ sở 5 từ mà nó không biết nhưng cũng sẽ dễ
dàng nắm 20 từ nếu ta sử dụng tranh ảnh vào dạy trẻ.
Quá trình dạy học cần tuân theo nguyên tắc dạy học trực quan bởi hiệu quả dạy
học trực tiếp phụ thuộc vào mức độ thu hút các giác quan của trẻ, mức độ lôi cuốn trẻ
đến với hoạt động tư duy đích thực.
Các biện pháp:
- Đầy đủ đồ dùng trực quan: đẹp, đúng, đa dạng, chính xác, an toàn cho trẻ, đảm
bảo tính thẩm mĩ.
- Có 3 nhóm đồ dùng trực quan theo tính chất phản ánh hiện thực:
Các vật trực quan có tính tự nhiên
Các vật trực quan có tính tạo hình
Các vật trực quan có tính đồ hoạ
- Sử dụng đồ dùng trực quan phức tạp dần cùng với sự phát triển tư duy của con
người. Phải thay đổi dần tính trực quan theo lứa tuổi của trẻ và phụ thuộc vào tính
tương quan giữa trìu tượng và cụ thể và nội dung dạy học ở các giai đoạn khác nhau đối
với trẻ.
- Đồ dùng trực quan phải phù hợp với đối tượng dạy, có dấu hiệu nổi trội.
- Hướng sự tri giác của trẻ tới những dấu hiệu chính của sự vật hiện tượng.
- Việc sử dụng đồ dùng trực quan phải gắn với việc sử dụng lời nói và dạy trẻ

Tính vừa sức trong dạy học được đảm bảo bởi khối lượng những kiến thức và kỹ
năng đã tích luỹ ở trẻ, bởi tính cụ thể của nội dung dạy học. Dạy học phải đảm bảo từ dễ
đến khó, từ biết đến chưa biết, từ đơn giản đến phức tạp, từ gần đến xa.
Nội dung yêu cầu kiến thức, kỹ năng dạy trẻ phù hợp với đặc điểm của trẻ.
Biện pháp:
- Nắm vững đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi và với từng trẻ.
- Lựa chọn nội dung dạy học phù hợp với cả lớp, với từng trẻ, hướng dạy trẻ
vùng phát triển gần nhất: dạy trẻ kiến thức mới - luyện tập - cho trẻ ứng dụng vào các
hoạt động khác.
12


- Mỗi nội dung dạy học cần phải được chia thành nhiều nhiệm vụ nhỏ, mở rộng
dần nội dung và phức tạp dần theo độ tuổi.
- Sử dụng cỏc biện phỏp dạy học khác nhau, làm cho trẻ dễ tiếp thu: hệ thống cõu
hỏi mở, hệ thống bài tập khó dần, nhiệm vụ chơi phức tạp dần.
- Sử dụng hợp lí đồ dùng trực quan.
3.6. Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học
Để đảm bảo nguyên tắc này đòi hỏi giáo viên cần phải:
- Nắm và sử dụng những thành tựu của khoa học giáo dục mầm non.
- Lựa chọn nội dung, chương trỡnh dạy học cú tớnh logic và tớnh khoa học, trang
bị cho trẻ hệ thống kiến thức khoa học, phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục
và dạy học, đồng thời phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của trẻ.
- Dạy trẻ nhận biết các mối quan hệ số lượng, hình dạng, kích thức.
- Nội dung dạy phải dựa trên những khoa học có liên quan.
Biện pháp:
- Cần dạy trẻ nắm được mối liên hệ, quan hệ cơ bản bỏ qua những dấu hiệu
không cơ bản, dạy trẻ nắm được các biện pháp khái quát hoá.
- Đảm bảo thống nhất giữa các thao tác, kiến thức, kỹ năng, thái độ.
- Đảm bảo tính chính xác về mọi mặt: ngôn ngữ, ký hiệu, hình vẽ, kiến thức, suy

những kiến thức, kĩ năng kĩ xảo cần trang bị cho trẻ thông qua các quá trình tổ chức các
hoạt động khác nhau cho trẻ LQVT. Vì vậy việc xây dựng nội dung dạy trẻ xuất phát từ
mục đích, yêu cầu của quá trình cho trẻ mầm non LQVT, nhưng nó phải phù hợp với
khả năng nhận thức của trẻ và với điều kiện giáo dục thực tiễn.
4. 1. Nguyên tắc xây dựng chương trình “cho trẻ mầm non LQVT”
a. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống kiến thức
b. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng tâm
c. Nguyên tắc đảm bảo tính phát triển
d. Nguyên tắc vừa sức tiếp thu của trẻ
4.2. Nội dung chương trình “cho trẻ mầm non LQVT”
14


Căn cứ để xác định ND hình thành BT toán cho trẻ
- Mục tiêu GDMN, mục đích HTBT toán cho trẻ.
- Xuất phát từ đặc điểm nhận thức lứa tuổi của trẻ.
- Những thành tựu giáo dục toán học cho trẻ MN của các nước trên thế giới và
Việt nam.
- Dựa vào những điều kiện thực tiễn: cơ sở vật chất, trình độ giáo viên.
Xác định nội dung chương trình theo 3 hướng:
- Hình thành cho trẻ những biểu tượng toán học: Tập hợp, số lượng, con số, hình
dạng, kích thước, định hướng không gian và thời gian.
- Dạy trẻ bước đầu nắm các mối liên hệ và quan hệ toán học: mối quan hệ số lượng
giữa tập hợp các vật (= nhau, không = nhau), mối quan hệ về kích thước, mối quan hệ
giữa các số liền kề thuộc dãy số tự nhiên...
- Dạy trẻ một số biện pháp toán học: xếp chồng, xếp cạnh, đếm...
Tóm lại nội dung hình thành các biểu tượng toán học cho trẻ mầm non không chỉ
bao gồm những kiến thức, kỹ năng toán học mà còn bao gồm cả những biện pháp hoạt
động thực tiễn, hoạt động trí tuệ, tất cả những điều đó là cơ cở để giáo dục toàn diện
nhân cách.

- Đồ dùng trực quan phải đẹp, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, mục đích, yêu cầu
của tiết học và có sự phức tạp dần theo sự phát triển nhận thức của trẻ.
- Đồ dùng trực quan đưa ra đúng lúc, đúng chỗ và đặt ở nơi tất cả mọi trẻ đều
nhìn thấy rõ.
- Lời nói của giáo viên phải điều khiển hành động của trẻ, giúp trẻ biết sử dụng
đồ dùng trực quan đúng lúc, đúng cách và hướng sự chú ý của trẻ tới những dấu hiệu
cần nhận biết.
16


Sử dụng hành động mẫu
Đây được coi là biện pháp minh hoạ và nó cũng có thể được coi là phương pháp
dạy học có tính trực quan.
Yêu cầu:
- Giáo viên cần phải chuẩn bị trước trình tự các thao tác, trình tự này phải đúng,
ranh giới, giữa các thao tác phải rõ ràng, phải chuẩn bị trước cả những lời giảng giải
kèm theo nếu có.
Việc sử dụng hành động mẫu vào trong dạy học toán phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
đặc điểm lứa tuổi, vốn kiến thức, kỹ năng đã có ở trẻ, khả năng nhận thức của trẻ ở
trong lớp.
* Các dạng khác của hành động mẫu:
- Cô và trẻ cùng hành động.
- Cô gọi một trẻ khá làm mẫu và giảng giải kèm theo.
- Cô làm mẫu lại với hoạt động khó.
5.2. Các phương pháp dạy học dùng lời nói
* Ý nghĩa: bổ sung, minh hoạ cho phương pháp dạy học trực quan, nó giúp trẻ
nhận biết được những đặc điểm bên trong của đối tượng. Phương pháp dùng lời còn góp
phần phát triển tư duy lôgic và ngôn ngữ cho trẻ.
Nhóm phương pháp dùng lời bao gồm: lời diễn giải, hướng dẫn, giảng giải nhằm
phản ánh bản chất của hành động mà trẻ phải thực hiện.

không, giáo viên có thể giảng giải lại cho trẻ trong lúc đàm thoại.
Sử dụng các yếu tố văn học: Truyện, thơ, đồng dao, bài hát…. Trong đó chứa
đựng các yếu tố toán học và chúng gắn liền với các nhân vật, sự kiện, hiện tượng. Khi
trẻ thuộc nội dung bài thơ, câu chuyện, bài hát cô hướng sự chú ý của trẻ tới yếu tố toán
18


học có trong đó. VD: trong câu truyện có mấy nhân vật? mấy quả, hay trong bài hát tập
đếm một với một là mấy? hai với hai là mấy?...
5.3. Các phương pháp dạy học thực hành
* Ý nghĩa: Phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, đảm bảo sự hình thành biểu tượng toán
học sơ đẳng cho trẻ, tạo điều kiện cho trẻ sử dụng kiến thức, kĩ năng đã học.
* Các phương pháp thực hành gồm: Luyện tập, trò chơi, các tình huống có vấn
đề.
- Luyện tập: chính là việc vận dụng các kiến thức vào các hành động, nhằm mục
đích: giúp trẻ củng cố kiến thức, hình thành kĩ năng trí tuệ, kĩ năng thực hành, qua kết
quả thực hiện bài tập giúp giáo viên có thể kiểm tra đánh giá mức độ nắm kiến thức, kĩ
năng của trẻ.
Trong quá trình luyện tập giáo viên tổ chức cho trẻ tham gia luyện tập bằng thực
hiện các dạng bài tập có tính chất khác nhau như:
Các bài luyện tập bao gồm:
Theo mức độ khó: bài tập tái tạo chỉ dựa vào điều đã biết, bài tập sáng tạo là chưa
biết.
- Bài tập tái tạo: Là loại bài tập được cô mô tả rõ kỹ năng hoạt động hoặc biện
pháp giải quyết vấn đề đặt ra. Cô chỉ hướng dẫn trẻ cách làm bằng lời không có hành
động mẫu. Trẻ phải nhớ lại theo tác đã làm trong bài tập sao chép để hoàn thành nhiệm
vụ.
Khi tổ chức cho trẻ thực hiện bài tập tái tạo, giáo viên phải giao nhiệm vụ cụ thể
cho trẻ, chỉ cho trẻ biện pháp giải quyết chúng hành động mẫu hoặc bằng lời hướng
dẫn. Bài tập tái tạo nên sử dụng ở tiết học đầu tiên để giúp trẻ nắm chắc kiến thức và

tam giác lên trên hình vuông để tạo thành ngôi nhà.
* Chú ý:
20


- Đối với mẫu giáo bé: thường giao bài tập, nhằm củng cố về một nội dung nhất
định, thường hướng vào kĩ năng thực hành (cầm, lấy, mang, sờ, nhặt …) và sử dụng các
các bài tập mang tính chất vui chơi (chọn bát cho gấu mẹ, dĩa cho gấu con hay hành
động mô phỏng: bắt chước tiếng kêu con vật, động tác…).
- Đối với mẫu giáo lớn hơn: cần sử dụng các bài tập dùng lời nói, giải quyết các
bài tập hình thành kĩ năng diễn đạt chính xác và rõ ràng những suy nghĩ của trẻ.
Trò chơi: đưa yếu tố chơi vào hoạt động học tập. Phương pháp sử dụng trò chơi
sẽ làm tăng hứng thú học tập của trẻ, làm cho việc học đối với trẻ trở nên thoải mái và
nhẹ nhàng hơn.
Trong phương pháp chơi, trẻ thường phải thực hiện các hành động đa dạng với
các đồ chơi và vật liệu chơi như: đếm, đo lường, tạo nhóm đồ vật theo dấu hiệu nhất
định, so sánh hình dạng, kích thước..... điều đó tạo ra sự kết hợp chặt chẽ giữa chơi và
học trong hoạt động tích cực của trẻ, dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên.
Trong tiết học toán phương pháp trò chơi được sử dụng như 1 phương pháp dạy
học khi mà toàn bộ tiết học được lồng vào một trò chơi mà trẻ là người tham gia chính.
Nó được sử dụng như một biện pháp dạy học khi chỉ một phần của tiết học được lồng
vào nội dung chơi.
- Tình huống có vấn đề: trẻ phải hình thành những suy nghĩ mới giải quyết được
vấn đề, trẻ phải tiến hành thao tác.
- Sử dụng vật định hướng không gian:
Ví dụ: 1 trẻ đứng => nghe tiếng nói => đi về phía đó + xác định vị trí so với bạn
=> nói kết quả.
Các thao tác tìm kiếm: được sử dụng thường xuyên như một biện pháp dạy học,
nó thường được sử dụng vào đầu tiết học. Các thao tác tìm kiếm như một hình thức của
tư duy trực quan - hành động, chúng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp trẻ nhận

22


- Phương pháp dạy, về cơ bản vẫn theo phương pháp truyền thống, coi giáo viên
là trung tâm của quá trình giáo dục, giáo viên chủ yếu truyền đạt thông tin một cách
máy móc và ít quan tâm đên việc phát huy tính cực, độc lập, sáng tạo của trẻ.
- Trẻ học một cách thụ động, thường ít hứng thú, nội các hoạt động cho trẻ làm
quen với toán thường đơn điệu, nghèo nàn, nhiều khi không phù hợp khả năng của trẻ,
không phát triển năng lực cá nhân trẻ.
- Phương pháp hướng dẫn của giáo viên đều phụ thuộc vào tài liệu hướng dẫn và
bài học có sẵn, đơn điệu, lập đi, lập lại, không gây được hứng thú và khả nhận thức của
trẻ. Giáo viên chưa coi trọng vai trò hoạt động vui chơi và hoạt động tìm tòi khám phá
bằng cách giác quan của trẻ. Cách dạy mang tính phổ thông hóa với mục đích cung cấp
kiến thức, chú trọng đến kết quả hơn là quá trình.
- Hình thức dạy học đơn điệu, nghèo nàn, chủ yếu coi trọng hình thức tiết học
toán, chưa chú ý tới hình thức dạy trẻ ở mọi lúc mọi nơi.
6.2. Định hướng đổi mới phương pháp cho trẻ làm quen với toán ở mầm non
cho trẻ mầm non
VII. Các hình thức cho trẻ MN LQV toán theo định hướng đổi mới phương pháp
dạy học
Hình thức được coi như là phương thức tổ chức các hoạt động học tập. Các hình
thức dạy học cần đảm bảo cho việc thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học nhằm đặt được
mục đích cuối cùng là giáo dục toàn diện nhân cách trẻ.
Các hình thức dạy học rất đa dạng, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố: số lượng trẻ
tham gia, vị trí, thời gian tiến hành tiết học, phương thức hoạt động.
1. Cho trẻ làm quen với toán trong hoạt động học toán có chủ đích
a. Ý nghĩa
- Đây là hình thức có vai trò quan trọng trong việc cung cấp cho trẻ hệ thống kiến
thức, kĩ năng chính xác, đảm bảo tính khoa học.
- Thực hiện một cách có hệ thống nội dung chương trình cho trẻ mầm non làm

giáo viên cũng có thể cho trẻ luyện tập một cách tổng hợp cả những kiến thức, kĩ năng
thuộc lĩnh vực khác đã học.
24


- Trẻ luyện tập các bài tập hay nhiệm vụ chơi đa dạng và phức tạp dần lên. Trong
thời gian hoạt động giáo viên cần tạo mọi cơ hội để trẻ tích cực, độc lập thực hiện
nhiệm vụ.
- Tùy theo tính chất và nội dung của bài học, giáo viên chia nhóm như sau:
+ Nhóm hỗn hợp (thường chia theo tổ) bao gồm những trẻ có mức độ phát triển
biểu tượng toán học và khả năng nhận thức khác nhau, trẻ nhóm này thường phối hợp
hành động cùng nhau và giúp đỡ nhau khi cần thiết.
- Nhóm theo trình độ và khả năng tương đương nhau (gồm những trẻ có trình độ
nhận thức cao hay trung bình…). Nhóm này thường hoạt động trong các hoạt động thực
hành, luyện tập theo nhiệm vụ, bài tập hay phiếu giao việc phù hợp với khả năng của
từng trẻ.
- Nhóm theo sở trường: Gồm những trẻ có khả năng đặc biệt trong việc nhận thức
kiến thức toán học, giáo viên nên cho nhóm này các bài tập nâng cao đòi hỏi sự linh
hoạt, sáng tạo của trẻ.
Việc chia nhóm có thể cố định hoặc không cố định phụ thuộc vào yêu cầu, nhiệm
vụ của hoạt động học, phụ thuộc vào khả năng tổ chức của giáo viên và nguyện vọng
của trẻ. Trẻ thực hiện hoạt động dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Để các nhóm hoạt động dễ dàng giáo viên cần sắp xếp bàn ghế hay chỗ ngồi cho
phù hợp, mỗi trẻ cần có đầy đủ đồ dùng, đồ chơi cần thiết.
Trong quá trình trẻ hoạt động giáo viên khuyến khích trẻ hợp tác với nhau cùng
thực hiện nhiệm vụ, cùng tìm tòi khám phá, sáng tạo, phê bình, đánh giá để phát triển
khả năng cá nhân.
* Ứng dụng kiến thức, kĩ năng đã học
- Trẻ ứng dụng tái tạo những kiến thức, kĩ năng đã học
Tổ chức cho trẻ vận dụng tái tạo những kiến thức, kĩ năng đã học vào các hoạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status