Giáo trình đạo đức và PHƯƠNG PHÁP GIÁO dục đạo đức ở TIỂU học (dành cho sinh viên hệ cao đẳng) - Pdf 46

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

GIÁO TRÌNH
(Lưu hành nội bộ,dành cho sinh viên hệ Cao đẳng)

ĐẠO ĐỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Ở
TIỂU HỌC
Tác giả: Th.s Lương Thị Lan Huệ
Th.s Nguyễn Thị Như Nguyệt

Năm 2017
1


MỤC LỤC
NỘI DUNG

TRANG

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC.................................................4
1.1 Nguồn gốc, bản chất, chức năng, vai trò xã hội của đạo đức...............................4
1.2Yêu cầu đạo đức trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội................................9
1.3 Một số phẩm chất đạo đức cá nhân ...................................................................13
1.4 Những giá trị đạo đức cơ bản của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa .........................................................................................................................17
CHƯƠNG 2 MÔN ĐẠO ĐỨC Ở TIỂU HỌC ...................................................................19
2.1 Vị trí, mục tiêu môn đạo đức ở Tiểu học............................................................19
2.2 Nội dung chương trình môn đạo đức ở tiểu học.................................................20
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Ở TIỂU HỌC ..........................24
3.1 Giáo dục đạo đức ở Tiểu học..............................................................................24


Quảng Bình, tháng 7 năm 2017
Giảng viên

3


CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC
1.1. NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG, VAI TRÒ XÃ HỘI CỦA
ĐẠO ĐỨC
1.1.1. Nguồn gốc của đạo đức
- Khái niệm: Đạo đức là một phạm trù lịch sử, khi điều kiện kinh tế-xã hội nảy
sinh ra nó thay đổi làm thay đổi các quan hệ xã hội tất yếu làm thay đổi quan hệ đạo
đức. Do đó các quan niệm về đạo đức không phải là cái gì nhất thành bất biến.
Không có chuẩn mực đạo đức chung cho mọi thời đại lịch sử. Đạo đức bắt nguồn từ
tồn tại xã hội và bị quy định bởi tồn tại xã hội.
Theo quan niệm Mácxit: Đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực của đời
sống xã hội và hành vi của người này với người khác, nghĩa vụ của con người đối
với xã hội.
Những quy tắc, nguyên tắc nguyên tắc ứng xử cơ bản được xã hội thừa nhận
và lưu truyền nó trở thành chuẩn mực đạo đức.
Chuẩn mực đạo đức là những phép tắc mang tính quy phạm tính khuôn mẫu
trong quan hệ ứng xử giữa con người với con người, con người với xã hội. Đó là
những yêu cầu, được thể hiện bằng những tiêu chuẩn cụ thể làm cơ sở cho việc
đánh giá hành vi con người.
Ví dụ: Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
(Tục ngữ-Ca dao Việt Nam)
Hệ thống chuẩn mực đạo đức gồm:
+ Chuẩn mực điều chỉnh hành vi có giá trị tích cực, phải làm, nên làm.

triển cùng với quá trình biến đổi kinh tế- xã hội và sự tiến bộ về văn hóa vật chất,
tinh thần của con người. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã
hội qua mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Khi tồn tại xã hội qua mỗi giai đoạn lịch sử
nhất định. Khi tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội thay đổi theo. Vì vậy không
có chuẩn mực đạo đức chung cho mọi xã hội.
Nguồn gốc của đạo đức là lao động sản xuất và cùng với lao động là đời sống
cộng đồng xã hội. Trong lao động chẳng những con người làm biến đổi thể chất của
mình mà còn làm nảy sinh ý thức thúc đẩy sự phát triển, hoàn thiện nhân cách con
người. Đạo đức là một hiện tượng lịch sử xuất hiện ngay từ giai đoạn đầu tiên khi
xã hội loài người mới hình thành. Ngay trong xã hội nguyên thủy đã xuất hiện mầm
móng đạo đức như sự kính trọng người già, tôn trọng phụ nữ, yêu mến trẻ em,
những cảm giác xấu hổ.
Qúa trình hình thành đạo đức của con người phụ thuộc vào sự phát triển của
hoạt động lao động và thông qua toàn bộ những quan hệ xã hội của xã hội công xã
thị tộc. Lợi ích của cộng đồng thị tộc do lao động tập thể quy định là nhân tố cơ bản
5


tạo ra được đức nguyên thủy bởi lợi ích hiểu một cách đúng đắn là nguyên tắc của
toàn bộ đạo đức. Trong chế độ công xã thị tộc chưa có lợi ích cá nhân đúng với
nghĩa của nó. Sự đồng nhất giữa lợi ích cá thể và lợi ích tập thể là ở chỗ, lợi ích
sống còn mỗi cá thể và lợi ích tập thể là lợi ích thiết thực của mỗi cá thể riêng rẽ
trong thị tộc. Chính quan hệ lợi ích này đã quy định trực tiếp những mầm móng đạo
đức. Lúc đầu các quy tắc, chuẩn mực đạo đức mới chỉ tồn tại dưới hình thái phong
tục tập quán, thói quen của đời sống cộng đồng nguyên thủy. Cùng với sự phát triển
của xã hội, những phong tục tập quán này được hình thành ngày càng rõ rệt dưới
hình thức những chuẩn mực hành vi mà xã hội yêu cầu đối với cá nhân thành viên.
Từ những quy định đó dần dần được khái quát lại dưới các khái niệm, phạm trù
như: Thiện -Ác, Danh dự ....Sự phát triển này chỉ được hình thành khi xã hội đã có
sự phân công lao động: Lao động trí óc, lao động chân tay cùng với nó là khả năng

Đạo đức mang bản chất xã hội: Nội dung của đạo đức là do hoạt động thực tiễn
và tồn tại xã hội quy định. Mặ khác, những quy tắc chuẩn mực đạo đức được xã hội
thừa nhận đó là ý thức xã hội. Nó chi phối đời sống đạo đức của mỗi cá nhân trong
xã hội. Ý thức xã hội được cá nhân tiếp nhận chuyển hóa thành ý thức cá nhân,
được cá thể hóa và thể hiện thông qua hành vi đạo đức dưới những biểu hiện: Xúc
cảm, tình cảm, động cơ, ham muốn, niềm tin, hành động đạo đức…
1.1.3. Chức năng của đạo đức
Đạo đức có ba chức năng cơ bản:
+ Chức năng giáo dục
Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử . Con người sinh ra lĩnh hội hệ
thống đạo đức xã hội. Hệ thống ấy tác động đến con người bằng thực tiễn đạo đức
và nhận thức đạo đức.
Từ nhận thức đạo đức-ý thức đạo đức-hành vi đạo đức. Các hành vi đạo đức nó
được lập đi lặp lại trong đời sống xã hội và cá nhân dần trở thành thói quen, phong
tục tập quán đạo đức. Hiệu quả của giáo dục đạo đức phụ thuộc vào: điều kiện kinh
tế xã hội
Cách thức tổ chức
Mức độ tự giác của chủ thể.
Đạo đức là cái gốc của mỗi con người, giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là một
việc làm quan trọng và cần thiết trong việc hình thành nhân cách toàn diện. Có tài
mà không có đức là người vô dụng có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó.
Đạo đức là cái gốc trong nhân cách toàn diện của con người nhưng để trở
thành con người có đạo đức tức là luôn suy nghĩ và hành động theo lẽ phải, làm
điều thiện, tránh điều ác thì phải hiểu biết, phải được tác động, phải được giáo dục
về các quy tắc, chuẩn mực đạo đức. Đạo đức giúp cho con người có khả năng để lựa
chọn, tự đánh giá, tự điều chỉnh hành vi, thực hiện đúng các chuẩn mực đạo đức
trong đời sống xã hội. Mặt khác, khi con người thực hiện đúng các chuẩn mực đạo
7



Đạo đức điều chỉnh hành vi con người thông qua dư luận xã hội, khen, chê,
nhờ đó, con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với chuẩn mực
xã hội. Qua đó mà hoàn thiện nhân cách bản chất của mình. Giúp con người giữ gìn
8


bảo vệ cuộc sống tốt đẹp của xã hội và phẩm giá con người. Những giá trị đạo đức
có sức rung cảm sâu sắc làm thức tỉnh những tình cảm cao đẹp và lâu bền trong con
người.
+ Đạo đức giúp con người sáng tạo hạnh phúc và giữ gìn bảo vệ cuộc sống tốt
đẹp của xã hội và phẩm giá con người. Những giá trị đạo đức cao cả có sức rung
cảm sâu sắc làm thức tỉnh những tình cảm cao đẹp và lâu bền trong tâm hồn con
người.
+ Đạo đức còn là một tiêu chí đánh giá sự tiến bộ, văn minh của xã hội. Vì
vậy, đạo đức bao giờ cũng là mối quan tâm hàng đầu của một quốc gia. Ở thời đại
nào cũng vậy, đạo đức bao giờ cũng mang tính giai cấp, nó nhằm duy trì trật tự xã
hội và bảo vệ lợi ích, địa vị của giai cấp thống trị. Đạo đức dưới chế độ xã hội chủ
nghĩa mang tính nhân đạo sau sắc vì quan hệ đạo đức trong xã hội là quan hệ dân
chủ, tự do, bình đẳng và nhân ái.
1.2. YÊU CẦU ĐẠO ĐỨC TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC CỦA ĐỜI
SỐNG XÃ HỘI
1.2.1. Yêu cầu đạo đức trong lĩnh vực giao tiếp
Giao tiếp là hoạt động có mục đích giữa người với người, giữa cá nhân với tập
thể nhằm trao đổi thông tin qua phương tiện chủ yếu là ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.
Hoạt động giao tiếp là nhu cầu tất yếu của con người.
Giao tiếp có vai trò quan trọng là phương thức để thực hiện nhu cầu, mục đích
trong các mối quan hệ xã hội. Thực tế chứng minh một lơi nói, cửu chỉ có thể mang
lại danh dự, uy thế, tiền bạc cũng có thể làm mất tất cả. Các nhà kinh doanh ngoại
giao cho rằng kết quả của giao dịch phụ thuộc một phần quan trọng vào kỹ năng
giao tiếp, đặc biệt là phương pháp tiếp cận. Nội dung giao tiếp thể hiện qua hai khía

Gia đình là tổ chức xã hội đầu tiên của con người mà ở đó con người sinh ra và
lớn lên, đồng thời là môi trường giao tiếp đầu tiên của quá trình hình thành nhân
cách đối với mỗi người.
Là nơi bảo tồn và chuyển giao các giá trị văn hóa truyền thống, là thành trì
chống lại các tệ nạn xã hội.
Là trường học đầu tiên và suốt đời của con người, ý nghĩa vfa mục đích cuộc
sống gia đình đó là giáo dục con cái. Gia đình cùng với những mối quan hệ giữa
con cái và bố mẹ là trường học đầu tiên của con người. Ông, bà, bố, mẹ và các anh
chị là những người giáo dục đầu tiên của trẻ ở lứa tuổi trước khi đến trường và họ
vẫn là những người tiếp tục giáo dục con cháu đã đi học. Là nơi gắn kết các thành
viên thường xuyên, lâu dài và bền vững. Là tổ ấm đem lại hạnh phúc cho cá nhân.
Tình yêu gia đình là tình cảm phổ biến và bền vững nhất. Tình yêu gia đình ảnh
hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người.
Với các vai trò xã hội trên, gia đình có các chức năng cơ bản;

10


Tái sản xuất con người, duy trì sự trường tồn của dòng họ và tái sản xuất sức
lao động cho xã hội.
Làm kinh tế và tổ chức tốt cuộc sống cho gia đình.
Giáo dục nuôi dưỡng con cái.
Gia đình là nền tảng của xã hội, muốn có một xã hội văn minh, hạnh phúc
trước hết phải làm cho mỗi gia đình hạnh phúc, văn minh.
Các mối quan hệ cơ bản trong gia đình;
- Quan hệ vợ-chồng.
- Quan hệ cha, mẹ và con cái.
- Quan hệ anh, chị em.
- Quan hệ dòng họ.
Cách cư xử giữa các thành viên trong quan hệ gia đình cho hợp đạo lý làm

Ông cha ta có câu rằng:
Uốn cây từ thưở còn non
Dạy con từ thưở con còn bé thơ.
Biết tôn trọng quyền và bổn phận của con cái.
Đối xử công bằng giữa các con, con trai và con gái.
Nhân từ, độ lượng với con.
Ngược lại con cái phải làm tròn bổn phận với cha mẹ, kính trọng hiếu thảo với
cha mẹ. Vâng lời cha mẹ, ân cần chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ. Biết giữ gìn nề
nếp gia phong. Không làm những điều trái với đạo lý, pháp luật để cha mẹ đau
lòng, phấn đấu trở thành niềm tự hào của gia đình, dòng họ.
Quan hệ anh, chị em
Anh, chị, em phải biết đùm bọc, yêu thương lẫn nhau. Anh, chị phải biết nhường
nhịn, nêu gương tốt cho các em. Làm em phải biết tôn trọng và vâng lời anh chị.
Quan hệ dòng họ
Đoàn kết, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bảo ban nhau giữ gìn truyền thống
của dòng họ, không làm điều gì phi luõn thường đạo lý trái với pháp luật để ảnh
hưởng đến gia đình. Đoàn kết và hòa nhập cộng đồng, đó là truyền thống đạo đức
quý báu của dân tộc ta từ bao đời nay.
Tóm lại, trong gia đình người lớn phải là tấm gương đạo đức trước trẻ em.
Trong gia đình cha mẹ có quyền uy đặc biệt trước con cháu. Điều quyết định uy
quyền đó chính là sự gương mẫu của các bậc cha mẹ. Sự gương mẫu tạo nên niềm
tin, là động lực thôi thúc, khích lệ con cháu phấn đấu noi theo để giữ gìn, phát huy,
phát triển truyền thống gia đình. Vì thế dân tộc ta có câu: “cha nào con nấy”, “tông
nào giống ấy”. Trong thời đại chúng ta có rất nhiều gia đình văn hóa. Phải kể tới
một gia đình trí thức cha mẹ cha mẹ là tấm gương đoàn kết, yêu thương nhau, hiếu
học, say mê nghiên cứu khoa học, tận tụy đào tạo nhân tài cho gia đình và đất nước,
gia đình giáo sư Nguyễn Lân.
12



thậm chí trở thành tội phạm.
Nội dung của trung thực là tôn trọng sự thật, tôn trọng lẽ phải và chân lý trong
mọi quan hệ ứng xử.
13


Cuộc sống luôn đặt ra cho con người phải nhận thức về sự thật, lẽ phải và chân
lý. Nếu xa rời lẽ phải, sự thật thì hoạt động của con người sẽ thất bại không có ý
nghĩa. Tuy nhiên trong thực tế xảy ra những trường hợp ngược lại. đó là khi các chủ
thể hoạt động dựa trên chân lý, lẽ phải thì lợi ích bản thân họ bị đe dọa, thua thiệt. Ở
đây chủ thể tôn trọng sự thật, lẽ phải thì có ích cho người khác, cho xã hội nhưng
bản thân họ lại lâm vào trình trạng mất mát, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng.
Ngược lại những chủ thể hoạt động phủ nhận sự thật, phủ nhận lợi ích chân chính
của người khác của xã hội thì bản thân họ lại có lợi, có nhiều lợi lộc. Đây chính là
mâu thuẫn, xung đột về lợi ích mà đòi hỏi chủ thể có sự lựa chọn đạo đức. Chính
trong tình huống này mà giúp chúng ta phân biệt được đâu là trung thực đâu là thiếu
trung thực. Những hành động vì sự thật, chân lý, vì lợi ích của tập thể mà tố cáo
người khác làm không đúng sự thật, đi ngược lại lợi ích tập thể được coi là trung
thực bởi lẽ nó được dặt trên cơ sở ý thức nghĩa vụ đạo đức nhằm diệt trừ cái ác để
bảo vệ những giá trị đạo đức xã hội. Như vậy, tính trung thực liên quan đến vấn đề
thiện ác, liên quan đến phẩm chất anh dũng mà cần phải trải qua rèn luyện mới có.
Những người tôn trọng lẽ phải, sự thật, chân lý bất chấp nguy hiểm để bảo vệ
sự thật, chân lý đó là người có tính trung thực. Yêu cầu chung của sự trung thực đòi
hỏi các chủ thể đạo đức phải cư xử hành động phù hợp với sự sự thật, lẻ phải và
chân lý. Gýa trị của trung thực càng cao khi mà vì sự trung thực ấy các chủ thể đạo
đức phải chịu đựng những mối đe dọa, nguy hiểm tính mạng. Như vậy, tính trung
thực không chỉ ở lời nói “nói có sách, mách có chứng” mà còn là hành động vì lẽ
phải. Đó là những hành động nhằm bảo vệ sự thật vì mục đích cao đẹp, chân lý là
những hành động của tính trung thực.
Có những khi người ta cư xử đúng sự thật nhưng lại không mang giá trị của

Nếu con người không có tính kiêm tốn thì sẽ rơi vào hai trường hợp:
Tự kiêu, tự mãn, khoe khoang, khoác lác, chủ nghĩa cá nhân, ảo tưởng.
Tự ti, mặc cảm về sự thấp kém của mình.
Để trở thành người khiêm tốn không phải dễ, phải trải qua rèn luyện mới có.
Nó đòi hỏi mỗi người phải biết đánh giá và có thói quen đánh giá đúng về mình và
người khác. Biết tôn trọng giá trị thành tích công lao của người khác, ý thức cầu thị,
biết phát huy những ưu điểm và khắc phục khuyết điểm của bản thân để tự khẳng
định mình và không ngừng vươn lên.
1.3.3. Lòng dũng cảm
Dũng cảm là một phẩm chất đạo đức thuộc vào đỉnh cao của thang giá trị đạo
đức. Vì lòng dũng cảm đoi khi nó đòi hỏi chủ thể đạo đức quên đi lợi ích và tính
mạng của bản thân mình để đưa lại niềm vui, lợi ích cho người khác. Ví dụ, anh
công an dũng cảm bắt cướp, một em bé dũng cảm lao xuống dòng nước lũ để cứu
người.

15


Lòng dũng cảm là sẵn sàng vượt qua mọi trở ngại, khó khăn, hy sinh mất mát,
dám đương đầu với nguy hiểm để bảo vệ cái thiện, cái chân lý. Cũng như phẩm chất
trung thực, lòng dũng cảm không tự nhiên mà có, trong thực tế đã có không ít người
chùn bước trước khó khăn hoặc sa ngã vì không đủ bản lĩnh lý trí để vượt qua
những thói hư tật xấu của bản thân cũng như những khó khăn trong cuộc sống.
Việc rèn luyện tinh thần dũng cảm đòi hỏi mỗi người:
Có bản lĩnh, lý trí sáng suốt. Người trung quốc nói rằng: người có trí thì
không nhầm lẫn, người có dũng thì không sợ hãi”.
Dũng cảm là sẵn sàng vượt qua mọi gian khổ nhưng không có nghĩa là bất
chấp tất cả để đạt được mục đích cá nhân.
Người có lòng dũng cảm phải biết căm thù cái xấu xa, cái ác phải có lòng yêu
thương con người, đồng loại.

kim để trở trở thành người có trình độ văn hóa theo tiêu chuẩn của thời đại mới.
Kiệm là tiết kiệm công sức lao động, tiết kiệm tiền của, thời gian, không chỉ
tiết kiệm cho bản thân mà còn tiết kiệm cho người khác, xã hội. Tiết kiệm từ cái
nhỏ đến cái lớn. Tiết kiệm là biết tiêu dùng hợp lý, làm việc có kế hoạch, không
tiêu xài hoang phí.
Tiết kiệm không có nghĩa là hà tiện, bần tiện. Nếu hà tiện có khi ảnh hưởng
xấu đến công việc của cá nhân, tập thể đến sức khỏe, thậm chí bỏ lỡ cơ hội tốt
trong cuộc sống.
Giữ chữ tín, người coi trọng chữ tín là người có tính trung thực nói đi đôi với
làm trong sáng giữ lòng tin với mọi người. Để rèn luyện đức tính đó cần:
Trung thực, dũng cảm, có tri thức, ý chí.
Sống có nguyên tắc, kỷ luật.
Lời nói đi đôi với làm, mọi phản ánh phải đúng sự thật.
1.4. NHỮNG GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC CƠ BẢN CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM
THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.4.1. Những vấn đề đặt ra đối với con người trong thế kỷ mới
Nhân loại đang bước vào thế kỷ XXI, một thế kỷ phát triển với các đặc điểm sau:
+ Sự bùng nổ thông tin, phát triển mạnh mẽ trên tất cả các linhyx vực của đời
sống, đặc biệt là sự phát trienr như vũ bão của khoa học công nghệ.
Ví dụ, một cuộc thi hoa hậu thế giới tổ chức ở Trung Quốc, các trận động đất
ở Inđônêxia, Haiti…ngay lập tức ở Việt Nam tiếp nhận được thông tin nhờ sự kết
nối của công nghệ thông tin. Nhờ đó, chúng ta tiếp nhận được các thành tựu khoa
học kỷ thuật, công cụ lao động càng hiện đại hơn. Điều đó, đòi hỏi con người lao
động phải có trình độ, tư duy, tây nghề, có năng lực thực hành, quản lý tốt.
+Xã hội đang tiến dần đến xã hội học tập. Vì học tập là con đường tốt nhất để
nâng cao trình độ và tự khẩng định mình.. Người xưa đã dạy: nhân bất học, bất tri
lý. Dốt đến đâu học lâu cũng biết. Học khôn học đến chết, học nết học đến già.
17



Kế thừa cái đẹp truyền thống và cái đẹp hiện đại
+ Trong giao tiếp:
Niềm tin vào con người.
18


Khoan dung, thấu hiểu, thông cảm, chia sẻ, nhường nhịn.
Thừa nhận, chân thành, khiêm tốn, trung thực.
Thân mật, niềm nở, vui vẻ, cởi mở.
1.4.3. Những yêu cầu cơ bản của con người Việt Nam thời kỳ Công nghiệp
hóa, hiện đại hóa
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII chỉ rõ: “Đến năm 2020 về cơ
bản đưa nước ta trở thành nước công nghiệp”. Để thực hiện mục tiêu đó, tất yếu
phải tiến hành CNH,HDH đất nước. Do đó, giáo dục đào tạo và khoa học công
nghệ là quốc sách hàng đầu. Công nghiệp hóa là con đường tất yếu để xây dựng cơ
sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.
Trong công cuộc công nghiệp hóa đất nước, con người vừa là mục tiêu vừa
là động lực của sự phát triển. Sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đòi hỏi con
người phải phát triển toàn diện, hài hòa, trí lực, thể lực, đức tài, phát triển cá tính,
luôn làm chủ trong mọi tình huống.
Con người phải năng động, sáng tạo, tự tạo việc làm trong nền kinh tế thị
trường. Mặt khác, phải xây dựng con người thiết tha gắn bó với lý tưởng chủ nghĩa
xã hội, có lòng tự hào tự cường dân tộc, có đạo dức trong sáng có ý thức giữ gìn
phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc.Có sức khỏe, có tri thức có tác
phong công nghiệp.
CHƯƠNG 2: MÔN ĐẠO ĐỨC Ở TIỂU HỌC
2.1. VỊ TRÍ, MỤC TIÊU MÔN ĐẠO ĐỨC Ở TIỂU HỌC
2.1.1. Vị trí môn đạo đức ở Tiểu học
Giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học thông qua hai con đường cơ bản đó là
hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và và hoạt động dạy học trong đó, hoạt động

hành vi đạo đức nên cần chú trọng đến kỹ năng hành vi, gắn lý thuyết với thực tiễn.
2.2. NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH MÔN ĐẠO ĐỨC Ở TIỂU HỌC
2.2.1.Những điểm mới về chương trình môn đạo đức ở Tiểu học
Chương trình môn Đạo đức ở Tiểu học có 35 tiết/năm học. Cụ thể, chương
trình được cấu trúc như sau:
Phần cứng: 14 bài (2 tiết/bài)
= 28 tiết
Phần mềm (địa phương)
= 3 tiết
Ôn tập học kỳ I
= 1 tiết
Kiểm tra học kỳ I
= 1 tiết
Ôn tập học kỳ II
= 1 tiết
Kiểm tra học kỳ II
= 1 tiết
……………
35 tiết
Điểm mới nhất của chương trình môn đạo đức ở Tiểu học là dành 3 tiết phần
mềm cho việc giáo dục những vấn đề liên quan đến địa phương. Nó có ý nghĩa quan
trọng ở chỗ gắn giáo dục và dạy học môn đạo đức với thực tiễn cuộc sống xung
20


quanh các em. Qua đó giáo dục truyền thống đạo đức, văn hóa của địa phương, giáo
dục tình yêu quê hương cho học sinh. Đồng thời giúp các em biết ngăn chặn sự xâm
nhập của tệ nạn xã hội từ chính mặt trái của nền đạo đức của các hiện tượng đạo
đức xung quanh các em. Cùng với giáo dục đạo đức truyền thống của dân tộc,
chương trình còn đề cập đến nội dung mới như hội nhập…


- Yêu mến quê hương, đất nước, biết tên nước, Quốc kỳ, Quốc Huy, ngày
Quốc khánh, biết hát quốc ca, nghiêm trang khi chào cờ. Đi bộ đúng quy định.
Mạnh dạn tự tin khi giao tiếp, biết chào hỏi, tạm biệt, cảm ơn, xin lỗi.
Quan hệ với môi trường tự nhiên:
Gần gũi, yêu quý thiên nhiên, biết bảo vệ các loài cây và hoa.
Lớp 2: 1 tiết/tuần x35 tết =35 tiết.
Quan hệ với bản thân:
- Biết sống gọn gàng, ngăn nắp, đúng giờ giấc.
- Biết tự đánh giá hành vi của bản thân. Khi có lỗi biết dũng cảm sửa lỗi và
nhận lỗi.
- Có ý kiến và biết trình bày ý kiến của mình về những vấn đề có liên quan đến
bản thân và tập thể.
Quan hệ với gia đình:
- Yêu quý những người thân trong gia đình, biết tham gia làm những công việc
nhà phù hợp với khả năng để giúp đỡ ông bà, cha mẹ.
Quan hệ với nhà trường:
- Chăm chỉ học tập, đoàn kết, giúp đỡ bạn bè, biết giữ gìn vệ sinh trường lớp.
Quan hệ với cộng đồng-xã hội:
- Tôn trọng quy định về trật tự, vệ sinh nơi công cộng.
- Thật thà, không tham của rơi.
- Sống chan hòa, biết cư xử chân thành, lễ độ, lịch sự với mọi người.
- Biết cảm thông với những người có hoàn cảnh khó khăn.
Quan hệ với môi trường tự nhiên:
- Biết yêu quý, bảo vệ loài vật có ích.
Lớp 3: 1 tiết/tuần x35 tuần = 35 tiết.
Quan hệ với bản thân:
- Sống vui vẻ, lạc quan.
- Có ý kiến và biết trình bày, bảo vệ ý kiến của mình về những vấn đề có liên
quan đến bản thân, tập thể.

Quan hệ với cộng đồng-xã hội:
- Hiểu được giá trị của lao động, yêu lao động, sẵn sàng tham gia lao động,
kính trọng biết ơn người lao động.
- Biết cư xử chân thành, lịch sự, nhã nhặn với mọi người.
- Có ý thức bảo vệ của công, bảo vệ các di tích văn hóa.
- Tích cực tham gia các hoạt động nhân đạo.
- Tôn trọng luật lệ an toàn giao thông.
Quan hệ với môi trường tự nhiên:
- Biết bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Lớp 5: 1 tiết/tuần x 35 tuần =35 tiết
23


Quan hệ với bản thân:
- Tự nhận thức được về mình, biết phát huy những điểm mạnh, khắc phục
những điểm yếu của bản thân.
- Có trách nhiệm về hành động của bản thân, biết tự giải quyết vấn đề theo
cách của mình.
- Ham học hỏi, có ý chí, vượt khó vươn lên.
Quan hệ với gia đình:
- Biết tin cậy và xây dựng tình bạn, tôn trọng, chan hòa với bạn khác giới.
- Biết bảo vệ lẽ phải.
Quan hệ với cộng đồng-xã hội:
- Sống hòa hợp và biết hợp tác với mọi người trong quan hệ chung.
- Kính già, yêu trẻ, tôn trọng phụ nữ.
- Yêu mến, tự hòa truyền thống quê hương, đất nước.
- Tích cực tham gia các hoạt động phù hợp với khả năng để xây dựng bảo vệ
quê hương.
- Tôn trọng các cơ quan, chính quyền địa phương và ủng hộ các nhà chức trách
thi hành công vụ.

thiết vì đạo đức không tự có, nó chỉ hình thành qua con đường giáo dục và tự giáo
dục:
Hiền dữ phải đâu là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên
Nhờ có giáo dục, con người trau dồi những phẩm chất đạo đức tốt và không
ngừng hoàn thiện bản thân mình. Thực tế đã chứng minh rằng, người được rèn
luyện những phẩm chất đạo đức tốt có thể không thành tài nhưng nhất định sẽ trở
thành người hữu ích cho cuộc sống. Người có tài nhưng thiếu đức, chẳng những khó
thành công trong cuốc ống, thậm chí có khi còn trở thành kẻ phá hoại. Trong sự
nghiệp giáo dục đào tạo, giáo dục đạo đức cho học sinh là quá trình tác động từ
nhiều con đường tạo cho các em có những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, bền vững,
hiểu biết ứng xử đúng trong các tình huống cụ thể.
Xin dẫn ra một số danh ngôn về vai trò của đạo đức;
K.Đ.U-sin-xkin: Tất cả những ai muốn trở thành người công dân có ích trước
hết phải học cách làm người.
L.M.Lê-ô-nốp: Tất cả mọi chiến thắng đều bắt nguồn từ chiến thắng bản thân.
Giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học là một vấn đề cần thiết bởi vì vị trí của
trẻ em trong tương lai nước nhà, làm cho các em trở thành những công dân tốt, đủ
phẩm chất đạo đức và năng lực trí tuệ gánh vác vận mệnh của dân tộc. Đó là nhiệm
vụ chính trị hàng đầu của nhà trường nói chung và trường Tiểu học nói riêng.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status