MỞ ĐẦU
Lịch sử Việt Nam hơn 80 năm qua đã chứng minh, cùng với chủ nghĩa
Mác - Lê Nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị to lớn, dẫn đường cho mọi
thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của
Đảng (6/1991) khẳng định: " Đảng lấy chủ nghĩa Mác- Lê Nin và tư tưởng Hồ
Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của toàn Đảng".
Đảng ta chỉ rõ: "tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện
và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của
sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tạo điều kiện cụ
thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân
tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của dân tộc". Trong đó tư tưởng Hồ Chí Minh
về đoàn kết toàn quốc tế có vị trí đặc biệt quan trọng.
Hiện nay, trong bối cảnh quốc tế, khu vực có sự vận động,biến đổi khó
lường. Đặc biệt là xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế gia tăng, đặt ra không
một quốc gia nào có thể phát triển mà lại không mở rộng quan hệ, đoàn kết,
hợp tác với các nước khác. Nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, để phát triển bền vững và nâng cao vị
thế của mình trên trường quốc tế, một trong những vấn đề quan trọng là phải
mở rộng đoàn kết hợp tác theo tinh thần " là bạn, đối tác tin cậy và thành viên
có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc
lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới ".
Chính vì vậy lựa chọn nội dung: "Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết
quốc tế và sự vận dụng trong tư duy đối ngoại của Đảng ta hiện nay" làm chủ
đề tiểu luận môn Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội có ý nghĩa cả về
lý luận và thực tiễn.
NỘI DUNG
1. Cơ sở hình thành tư tưởng đoàn kết quốc tế và những hoạt động
đoàn kết quốc tế trong thực tiễn của Hồ Chí Minh
* Những nhân tố hình thành tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh.
sản như là một điều kiện quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp
công nhân. Sau khi Nguyễn Ái Quốc bắt gặp luận cương của Lênin về vấn đề
dân tộc và thuộc địa. Người khẳng định “Muốn cứu nước và giải phóng dân
tộc không còn con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”, gắn chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam với chủ nghĩa Mác - Lênin.
Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp tại Tua (tháng 12/1920)
Nguyễn Ái Quốc bỏ qua phiếu tán thành Đảng ra nhập Quốc tế III, trở thành
một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Bằng việc làm đó,
Nguyễn Ái Quốc đã nêu cao ngọn cờ đoàn kết quốc tế. Từ đoàn kết các dân
tộc thuộc địa, mở thành đoàn kết với giai cấp vô sản chính quốc và giai cấp
vô sản thế giới. Nguyễn Ái Quốc viết những bài tham luận, phát biểu trong
các kỳ sinh hoạt đảng và các cuộc họp của các tổ chức xã hội khác, tham gia
lãnh đạo Ban Nghiên cứu về thuộc địa, ra báo Người cùng khổ….
Nguyễn Ái Quốc đã vạch rõ tội ác của chủ nghĩa thực dân, đế quốc,
tranh thủ sự ủng hộ của dư luận tiến bộ Pháp và thế giới, hình thành mặt trận
đoàn kết quốc tế đối với sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức với sự
tiếp thu sâu sắc và sáng tạo những hẩu hiệu chiến lược của chủ nghĩa Mác Lênin: “Lao động tất cả các nước đoàn kết lại” 1 và người khẳng định, chính
Lênin và Quốc tế Cộng sản đã chỉ ra cho dân tộc và giai cấp vô sản thế gới sự
cần thiết và con đường tập hợp đoàn kết các lực lượng cách mạng trong phạm
vi từng nước và thế giới vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, chủ
nghĩa đế quốc
* Đoàn kết quốc tế trong hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh
- Hoạt động đoàn kết của Hồ Chí Minh trên đất Pháp
Những năm tháng hoạt động ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc không chỉ dừng
1
HCM toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H2000
3
Chủ tịch Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Nxb.Chính trị quốc gia, H1993
3
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb chính trị quốc gia, H. 1980
4
của Mác - Lênin, đường lối của Quốc tế Cộng sản, đặc biệt là vấn đề dân tộc
và thuộc địa. Những hoạt động của Người trên đất Pháp là những đóng góp
cho Quốc tế Cộng sản. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã viết nhiều bài đề cập trên
bình diện quốc tế rộng lớn hơn gửi cho các báo cánh tả ở Pháp, báo Pravda
của Đảng Cộng sản Liên Xô, các tập san của Quốc tế Cộng sản nhằm tuyên
truyền chủ nghĩa Mác - Lênin trong các nước thuộc địa, cung cấp cho Quốc tế
Cộng sản và các đảng cộng sản chính quốc hiểu rõ hơn về “Phương Đông
thức tỉnh” từ đó có sự hiểu biết nhau, xây dựng mối quan hệ giữa các dân tộc
thuộc địa và giai cấp vô sản phương Tây.
Trong bức thư gửi cho Pêtơrốp - Tổng thư ký ban Phương Đông của
Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc nêu rõ “Nguyên nhân gây ra sự suy yếu
của các dân tộc Phương Đông đó là sự biệt lập”. Từ đó Người kiến nghị với
Quốc tế Cộng sản trong khi chỉ đạo chiến lược, cần chú ý đến tính đặc thù của
các dân tộc Phương Đông. Tại Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản ngày
17/6/1924 Nguyễn Ái Quốc đã trình bày bản tham luận làm sôi nổi Đại hội,
Người nhấn mạnh: “Thuộc địa vẫn đang tồn tại, và nêu lên để quốc tế thấy
rằng: Cách mạng ngoài vấn đề tương lai của các thuộc địa còn cả nguy cơ của
các thuộc địa. Song, tôi thấy hình như các đồng chí vẫn chưa hoàn toàn thấm
nhuần tư tưởng rằng, vận mệnh của giai cấp vô sản các nước đi xâm lược
thuộc địa gắn chặt với vận mệnh giai cấp vô sản cấp bị áp bức ở các nước
thuộc địa”.
tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Từ ngày 10 đến 19/5/1941, thay mặt Quốc
tế Cộng sản, Người triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ
VIII xác định tình hình thế giới và trong nước, thành lập “Việt Nam độc lập
đồng minh” gọi tắt là Việt Minh và chuẩn bị Tổng khởi nghĩa. Hội nghị có
những nhận định đúng đắn về vấn đề quốc tế, đã hoàn chỉnh đường lối, chiến
lược của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.
Sang năm 1945, Hồ Chí Minh phát hiện sự căng thẳng trong quan hệ
Mỹ - Anh, Pháp về vấn đề thuộc địa nói chung, vấn đề Đông Dương nói
riêng. Với nhãn quan chính trị sâu sắc và thực tiễn hoạt động quốc tế phong
phú, Người quyết định phải gặp Mỹ, tranh thủ Đồng Minh, thêm bạn cho cách
6
mạng Việt Nam, tiến tới giành độc lập dân tộc khi thời cơ cho phép. Bằng
việc cứu thoát viên phi công Mỹ Uyliam Sao và trao trả cho Mỹ để thể hiện
thiện chí của Việt Minh, đồng thời đặt mối quan hệ với Mỹ, tranh thủ sự giúp
đỡ của Mỹ đối với cách mạng Việt Nam.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là sự kết hợp chặt chẽ những điều
kiện khách quan với điều kiện chủ quan, kết hợp những cố gắng phi thường của
nhân dân ta với chiến thắng oanh liệt của Liên Xô với các lực lượng tiến bộ trên
thế giới chống phát xít. Đó là thắng lợi của tư tưởng cách mạng kết hợp với đoàn
kết quốc tế, tự lực, tự cường và ủng hộ quốc tế của Hồ Chí Minh.
2. Một số nội dung cơ bản của Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
* Độc lập, tự do là mục tiêu, động lực và cơ sở của tư tưởng đoàn
kết quốc tế
Độc lập, tự do là quan điểm nhất quán, xuyên suốt cốt lõi, là cơ sở tạo
dựng chiến lược đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh. Mác – Ăngghen đã từng
nhấn mạnh: "Trong cuộc đấu tranh của những người vô sản thuộc các dân tộc
khác nhau họ đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào
dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô sản" ; "Không khôi phục lại độc lập
vô sản không nhất thiết phải nổ ra ở chính quốc mà có thể nổ ra từ các nước thuộc
địa. Người phân tích “Vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới tùy thuộc phần lớn
vào các nước thuộc địa”, “Tất cả các sinh lực của chủ nghĩa đế quốc đếu lấy ở các
xứ thuộc địa”. Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Người chỉ rõ “Việt Nam dân
tộc cách mệnh thành công thì tư bản Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì công nông
Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ”.
Từ nhận thức tính chất thời đại của mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa
và cách mạng chính quốc, Hồ Chí Minh khẳng định tính tất yếu của cách mạng
thuộc địa và vai trò của nó đối với cách mạng ở chính quốc. Đây là luận điểm
đầy sáng tạo của Hồ Chí Minh, bởi lúc này Quốc tế Cộng sản và các đảng cộng
sản ở châu Âu cho rằng, thắng lợi của cách mạng thuộc địa phụ thuộc trực tiếp
vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc. Thực tiễn lịch sử Việt Nam và
các nước thuộc địa giành độc lập trong thế kỷ XX đã chứng minh luận điểm của
Người được nêu ra từ năm 1921 là rất đúng đắn và sáng tạo.
Xác định cách mạng thuộc địa là một bộ phận của cách mạng thế giới,
Hồ Chí Minh nêu rõ “cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách
9
mạng XHCN thì mới thắng lợi hoàn toàn”, vì chỉ có CNXH mới đảm bảo cho
các dân tộc được độc lập, tự do thực sự. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chỉ
có CNXH, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và
những người lao động trên thế giới thoát khỏi ách nô lệ”. Tiên đoán về thắng
lợi sớm của cách mạng thuộc địa so với cách mạng chính quốc được tiến trình
lịch sử của thời đại khẳng định. Nhiều dân tộc thuộc địa đánh đổ chủ nghĩa
thực dân giành độc lập và tiến lên con đường XHCN, trong khi ở các nước tư
bản giai cấp vô sản đang phải tìm con đường phù hợp để tiến đến con đường
mục tiêu đặt ra.
* Độc lập, tự chủ, tự cường gắn với đoàn kết quốc tế
Trong khi hoạt động không mệt mỏi cho sự đoàn kết quốc tế và khẳng
hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội”.
* Đoàn kết quốc tế theo tinh thần: "Việt Nam muốn làm bạn với
tất cả các nước"
Tư tưởng này của Người được thể hiện rõ trong dịp trả lời phỏng vấn
báo chí nước ngoài (năm 1947): Việt Nam mong muốn: "làm bạn với tất cả
các nước dân chủ không gây thù oán với một ai" 4. Năm 1949, trả lời phỏng
vấn một nhà báo người Mỹ hỏi: Sau khi đã độc lập, Việt Nam có hoan nghênh
tư bản ngoại quốc không? Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời: Bất kỳ nước nào
thật thà muốn đưa tư bản đến kinh doanh ở Việt Nam, với mục đích làm lợi
cho cả hai bên thì Việt Nam sẽ rất hoan nghênh, còn nếu mong đưa tư bản đến
để ràng buộc, áp chế Việt Nam thì Việt Nam sẽ cương quyết cự tuyệt.
Ngay đối với nước Pháp, nước đang tiến hành cuộc chiến tranh xâm
lược Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Việt Nam sẵn sang hợp
tác thân thiện với nhân dân Pháp. Những người Pháp tư bản hay công nhân,
thương gia hay trí thức, nếu họ muốn thật thà cộng tác với Việt Nam thì sẽ
được nhân dân Việt Nam hoan nghênh họ như anh em bầu bạn”. Sau năm
1945 nhiều lần Người đã tuyên bố: “Chính sách ngoại giao của chính phủ thì
chỉ có một điều tức là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để
4
Hồ Chí Minh toàn tập( tập 5), Nxb chính trị quốc gia, H1995,Tr.220
11
giữ gìn hòa bình”. “Thái độ của Việt Nam đối với những nước Á châu là một
thái độ anh em, đối với ngũ cường là một thái độ bạn bè”. Có thể xem những
tuyên bố trên đây là tư tưởng đặt nền móng cho phương châm đa dạng hóa, đã
phương hóa, công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
* Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại
trình kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, Hồ Chí Minh đặc biệt
nhấn mạnh đến vấn đề phải biết dựa vào sức mình là chính. Chỉ như vậy mới
giữ được độc lập, tự chủ, mới chủ động, sáng suốt trong hoạt động quốc tế để
phân định rõ Bạn - Thù, cảnh giác với những âm mưu phá hoại núp dưới danh
nghĩa “giúp đỡ”, “nhân đạo”, “hữu nghị”.
Theo Hồ Chí Minh muốn kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời
đại, các đảng cộng sản phải kiên trì đấu tranh chống mọi khuynh hướng sai
lầm chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa vị kỷ dân tộc, chủ nghĩa sô vanh… Những
khuynh hướng làm suy yếu sức mạnh đoàn kết, thống nhất của các lượng cách
mạng thế giới.
3. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế trong quan
hệ đối ngoại của Việt Nam hiện nay
Đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta từ khi đổi mới đến nay
được xác định và thực hiện với tư cách là một bộ phận của chiến lược xây
dựng, phát triển và bảo vệ đất nước, làm cầu nối nước ta với thế giới, gắn sự
nghiệp của toàn thể dân tộc ta với trào lưu phát triển và tiến bộ của thời đại.
Những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế được
vận dụng trong chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, trong
chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ theo định hướng XHCN
trong quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Trên bình diện chung, nhất là sau đổi mới Việt Nam đã xây dựng và phát
triển quan hệ hữu nghị, bình đẳng và hợp tác cùng có lợi. Không ngừng mở rộng,
củng cố quan hệ với các nước và các tổ chức phi chính phủ trên thế giới. Hoạt
động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta từ khi đổi mới đến nay đã triển khai một
cách tích cực, chủ động và giành được những thắng lợi quan trọng.
Chúng ta đã không ngừng củng cố và phát triển quan hệ với các Đảng
Cộng sản và công nhân, các Đảng cánh tả, phong trào độc lập dân tộc và các
13
còn góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Bên cạnh đó, chúng ta đã mở rộng hoạt động đối ngoại nhân dân từ các tổ
chức chính trị - xã hội như: Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông
dân, Hội cựu chiến binh và các Hội hữu nghị. Đối ngoại nhân dân tiếp tục phát
huy vai trò cầu nối hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước, các tổ chức
phi chính phủ. Ngoại giao nhân dân đã thể hiện một cách sinh động đoàn kết quốc
tế của Hồ Chí Minh cũng như đường lối đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa
của Đảng và Nhà nước ta, góp phần vào việc tăng cường đoàn kết và sự hiểu biết
lẫn nhau giữa nhân dân ta và nhân dân thế giới.
Thực tế cho thấy, sau gần 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, hội nhập vào
khhu vực và quốc tế, Việt Nam đã thể hiện là một tấm gương ổn định về chính trị,
phát triển về kinh tế và đánh dấu bước đầu thành công của sự hội nhập. Trong những
năm vừa qua, Việt Nam từng đón nhiều đoàn khách quốc tế của các nước đang phát
triển đến để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm. Phát triển kinh tế và hội nhập thành công
của Việt Nam được bạn bè trên thế giới tiếp tục bày tỏ sự khâm phục và tôn trọng vị
thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Việt Nam có vai trò quan trọng và tích cực trong việc đoàn kết, giữ
vững an ninh của khu vực Đông Nam Á. Kể từ khi chính thức là thành viên
của ASEAN, Việt Nam đã và đang có những đóng góp tích cực vào sự liên kết của
hiệp hội, đặc biệt trên lĩnh vực an ninh. Trải qua các kỳ họp cấp cao, Việt Nam đã
có những đóng góp to lớn trong việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các
nước trong hiệp hội cũng như các nước lớn là bên đối tác. Thực hiện ngoại giao
phòng ngừa đem lại sự ổn định, an ninh cho khu vực này. Các nước trong khu vực
và các đối tác đã đánh giá cao vai trò của Việt Nam trong việc duy trì an ninh của
khu vực, đặc biệt là trong việc giải quyết xong vấn đề cơ bản về biên giới trên bộ,
trên biển với Trung Quốc và Campuchia. Việt Nam đã chủ động đưa ra “Bộ ứng xử
biển Đông”, được các nước ASEAN và Trung Quốc thông qua tại diễn đàn an ninh
chính trị ARS (tháng 9/2002) là một trong những thành công lớn của ngoại giao
động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia,
dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và
thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình,
16
độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”5.
Nội dung phát triển đường lối đối ngoại của Đảng trong nghị quyết Đại
hội lần thứ XI thể hiện cụ thể ở những nội dung chính sau:
- Mục tiêu công tác đối ngoại: Cương lĩnh và Báo cáo chính trị Đại hội
XI của Đảng đã nêu rõ mục tiêu công tác đối ngoại là “vì lợi ích quốc gia dân
tộc; vì một nước Việt Nam XHCN giàu mạnh”6.
- Nhiệm vụ công tác đối ngoại: Văn kiện Đại hội XI của Đảng khẳng
định là: “giữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì
hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”7.
Điểm mới về nhiệm vụ của công tác đối ngoại trong Văn kiện Đại hội XI
so nhiệm vụ của công tác đối ngoại trong văn kiện Đại hội X là xác định nhiệm vụ
nhất quán trong đường lối, chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới là phục vụ các
mục tiêu quốc gia về phát triển, an ninh “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền,
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ” và “nâng cao vị thế đất nước”. Nhiệm vụ đối
ngoại này cho thấy rõ yêu cầu và vai trò quan trọng của công tác đối ngoại đó là giữ
vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc; phải đáp ứng những phát triển mới của tình hình đất nước trong bối cảnh hội
nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng, với những thuận lợi và những khó khăn thách
thức mới. Đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của công tác đối ngoại trong
bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, góp phần
nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
- Tư tưởng chỉ đạo công tác đối ngoại là: độc lập, thống nhất, CNXH,
văn kiện Đại hội XI nêu lên là: “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”; “và
thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.Có thể hiểu phương
châm “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”; “và thành viên có trách nhiệm
trong cộng đồng quốc tế” của Đảng trên những nội dung cơ bản sau:
+ Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế: Với chủ trương này, nội hàm
của hội nhập quốc tế không còn bó hẹp ở lĩnh vực kinh tế mà mở rộng ra tất
cả các lĩnh vực khác, kể cả chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh,
đồng thời mang những nội dung mới, thể hiện:
8
Sdd, tr.236.
Sdd, tr.237. DOC- “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông” giữa các nước ASEAN với Trung
Quốc năm 2002. Tuyên bố này tuy không mang tình ràng buộc pháp lý nhưng là một bước tiến trong việc
giải quyết hòa bình các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ giữa các bên ở biển Đông.
COC- “Bộ quy tắc về ứng xử ở biển Đông” là những quy định rành buộc mang tính pháp lý từ DOC, hiện
nay các nước ASEAN đang nổ lực đám phán cùng Trung Quốc tiến tới xây dựng Bộ quy tắc này.
9
18
> Thứ nhất, chủ động hội nhập quốc tế là tự mình quyết định hành
động, không vì ảnh hưởng hoặc chịu sự chi phối của đối tác khác hay là của
hoàn cảnh.
> Thứ hai, lộ trình hội nhập quốc tế của Việt Nam là chủ động, tích
cực triển khai các hoạt động hội nhập quốc tế mạnh mẽ, toàn diện trên mọi
lĩnh vực trên cơ sở phát huy nội lực, xây dựng lực lượng, tạo lập thế trận quốc
phòng - an ninh, xác định bước đi phù hợp, đa dạng hoá, đa phương hoá các
quan hệ quốc tế.
+ Tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực và quốc tế
trong việc đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống, những
vấn đề có liên quan đến dân chủ, nhân quyền.
+ Chủ động, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động can
thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị của Việt Nam.
+ Thúc đẩy giải quyết các vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ,
ranh giới biển và thềm lục địa giữa nước ta với các nước có liên quan.
Đây là lần đầu tiên Văn kiện Đại hội Đảng có một định hướng riêng
giải quyết các vấn đề tồn tại về biên giới, lãnh thổ và xây dựng, phát triển
tuyến biên giới với các nước láng giềng. Định hướng này chỉ rõ: Ưu tiên
hàng đầu trong tiển khai công tác đối ngoại là tập trung thúc đẩy giải quyết các
vấn đề tồn tại về biên giới, lãnh thổ giữa nước ta với các nước có liên quan.
Làm tốt công tác quản lý biên giới, bảo vệ vững chắc chủ quyền và
toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; tích cực cùng với các nước có chung biên giới xây
dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển.
Lực lượng tham gia giải quyết các vấn đề tồn tại trên không chỉ là trách
nhiệm của ngành ngoại giao nhà nước mà là trách nhiệm của cả hoạt động đối
ngoại Đảng, đối ngoại quốc phòng, an ninh đối ngoại, ngoại giao nhân dân và
cả hệ thống chính trị.
Cơ sở để giải quyết các vấn đề tồn tại về biên giới, lãnh thổ là các
nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử ở khu vực.
* Chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
- Tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng
(Lào,Campuchia, Trung Quốc) và khu vực.
20
+ Lào, Campuchia là địa bàn chiến lược sống còn đối với Việt Nam
Suốt cuộc đời cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã có nhiều cống hiến
quan trọng cả về lý luận và thực tiễn cho phong trào cách mạng Việt Nam nói
riêng và cách mạng thế giới nói chung trong việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa
Mác - Lênin. Đặc biệt, Người xây dựng mối quan hệ đoàn kết quốc tế trong
phong trào cách mạng giải phóng dân tộc. Người đã bắc nhịp cầu đoàn kết,
hữu nghị giữa các quốc gia dân tộc. Giương cao ngọn cờ độc lập, tự do, cách
mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, nêu cao tinh thần độc
lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với đoàn kết và hợp tác quốc tế, phát huy sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại… là những nội dung cơ bản trong tư
tưởng đoàn kết của Hồ Chí Minh. Những quan điểm đó là tài sản quý báu của
Đảng và Nhà nước ta và nhân dân tiến bộ trên thế giới đến nay vẫn còn
nguyên giá trị.
Trung thành và kiên định đi theo ngọn cờ đại đoàn kết, kế thừa, phát
triển và vận dụng sáng tạo những tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh,
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định “Nhiệm vụ của công tác đối
ngoại làgiữ vững môi trường hòa bình, thuận lợi cho đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh
thổ; nâng cao vị thế của đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”. Để thực hiện tốt
nhiệm vụ nêu trên, đòi hỏi việc nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
về đoàn kết quốc tế là một trong những nội dung quan trọng của Đảng và Nhà
nước ta nhằm thực hiện tốt đường lối mở rộng quan hệ đối ngoại của Đảng và
Nhà nước ta, vì mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng,
văn minh”, góp phần chung vào sự nghiệp cách mạng thế giới vì công bằng,
dân chủ và tiến bộ xã hội.
22
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO