CHUYÊN ĐỀ DẠY ĐT HSGQG NĂM 2014
LUYỆN ĐỀ: VẺ ĐẸP TÂM HỒN, SỨC SỐNG CỦA CON NGƯỜI VIỆT NAM
QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM VHDG
Phần I. Nhắc lại về vẻ đẹp tâm hồn, sức sống của con người VN qua một
số tác phẩm VHDG
Viết về con người, về tâm hồn và sức sống của con người là một nội
dung xuyên suốt của văn học các thời đại, thể hiện chủ nghĩa nhân đạo trong
văn học. Văn học dân gian là tiếng nói của nhân dân lao động, được ra đời từ
trong chính cuộc sống lao động của người dân. Bởi vậy, những tác phẩm VHDG
thể hiện tâm tư, ước vọng, và cả sức sống bền bỉ của người dân lao động, dù
cuộc sống có muôn vàn cực khổ, có bị áp bức, bóc lột thì vẫn luôn gắng sức vì
cuộc sống, đấu tranh để đòi quyền sống, vẫn lạc quan, tin tưởng vào cuộc sống,
vào sức mạnh của chính nghĩa.
1.
Con người chịu nhiều khó khăn, thử thách
- Cuộc sống là một bản nhạc không bình lặng mà có nhiều nốt thăng, nốt
trầm, có những niềm vui nhưng cũng đầy rẫy những khó khăn, thử thách,
nhất là trong xã hội xưa, khi khoa học kĩ thuật còn lạc hậu và hủ tục, luật lệ
còn nặng nề. Các tác phẩm VHDG đã ghi lại những khó khăn, vất vả ấy của
người dân lao động.
- Những khó khăn của họ trên rất nhiều lĩnh vực. Đó có thể là những vất vả
trong lao động (Cày đồng đang buổi ban trưa….ruộng cày); những hiểm nguy
trong cuông cuộc kiếm kế sinh nhai (con cò mà đi ăn đêm….); những thiếu
thốn về vật chất (Hai cha con CĐT chung một chiếc khố, Tấm không có quần
áo đẹp, lành lặn để đi xem hội; người em út chỉ có một túp lều và một cây
khế…). Những khó khăn của họ còn là bị áp bức, bóc lột bởi bọn chúa đất
phong kiến (cơ khổ cho đứa giữ trâu..), bị ngăn cấm tình yêu tự do (Mẹ em
1.
Giải thích nhận định:
- Ca dao là một trong những dòng chính của thơ ca trữ tình; tác giả là
quần chúng nhân dân lao động. Do phát sinh từ những sinh hoạt của
người bình dân (lao động, cộng đồng, gia đình) nên ca dao diễn tả đời
sống nội tâm của nhân dân, dân tộc.
-Tấm gương là cách nói bằng hình ảnh để cho người đọc thấy sự chân
thực, cụ thể, sinh động, toàn diện của ca dao khi phản ánh tâm hồn con
người Việt Nam.
Ý nghĩa nhận định: Ca dao phản ánh một cách chân thật đời sống
tâm hồn dân tộc. Nói cách khác đến với ca dao người đọc bắt gặp tâm hồn
dân tộc, đời sống tâm tư tình cảm của cả một dân tộc. Từ đó,tâm hồn
người đọc như được phù sa bồi đắp, nuôi dưỡng, trở nên phong phú, trong
sáng và trưởng thành hơn.
2. Khẳng định vấn đề mà nhận định đặt ra
Đây là một nhận xét xác đáng, khái quát được nội dung bao trùm của ca
dao
3.Làm sáng tỏ nhận định qua hiểu biết về ca dao
a. Ca dao có khả năng biểu hiện vô cùng phong phú, bao trùm mọi mặt
đời sống tình cảm của con người, qua đó ta thấy được tâm hồn dân tộc.
-Tình yêu quê hương đất nước.
+ Quê hương là nơi ta sinh ra và lớn lên, ở đó có hình ảnh dòng sông,
bến nước, luỹ tre, cánh đồng…ăn sâu vào tâm hồn mỗi con người. Người
Việt Nam đi đâu cũng nhớ về quê hương :
“ Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
“Rủ nhau xuống bể mò cua
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
Em ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nước bạc ta đừng quên nhau”
“ Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”
Đó là những cảnh đầm ấm hạnh phúc, cảnh thơ mộng . Tiếng hát lạc quan, ước
mơ hi vọng đem đến nụ cười trên môi người lao động bớt đi nhọc nhằn cay đắng.
( Có thể bổ sung ca dao hài hước trong sách giáo khoa)
-
Tâm hồn người Việt Nam chan chứa lòng yêu thương, nặng ân nghĩa,
sâu ân tình.
+ Tình yêu giữa người với người là âm điệu sâu lắng mà tha thiết được
đi sâu khai thác biểu hiện.
. Tình yêu lứa đôi sâu sắc.Tình cảm gia đình thiêng liêng :
“ Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra…”
“ Chồng em áo rách em thương
Chồng người áo gấm xông hương mặc người”
. Tình nghĩa đồng bào:
“ Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
+ Con người Việt Nam sống có thuỷ, có chung, có tình, có nghĩa. Vì vậy
những bài ca dao về ân nghĩa trở thành phổ biến
( Chùm ca dao yêu thương tình nghĩa)
“ Đem vàng đem nghĩa mà cân
Vàng thì nặng bảy , ái ân nặng mười”
2.1. Giải thích từ, cụm từ
* Lời thơ dân gian
- Trong văn học dân gian có rất nhiều thể loại tập trung thể hiện đời
sống của người dân xưa.
- Trong đó, ca dao là thể loại trữ tình bằng văn vần, diễn tả đời sống nội
tâm của con người. Nói cách khác, ca dao là thơ trữ tình dân gian truyền
thống.
- Lời thơ dân gian là nói đến ca dao
* … làm quen với tâm tư tình cảm của đồng bào ta xưa kia
- Ca dao là tiếng nói tâm hồn sâu lắng, tha thiết của đồng bào ta xưa
kia.
- Trong ca dao, tất cả những nỗi niềm cảm xúc của nhân dân ta đều
được bộc lộ. Đó là tiếng nói yêu thương tình nghĩa, là những lời than thân
trách phận, là tiếng cười vừa hài hước, vừa sâu cay, là mơ ước, là hi vọng,
chờ đợi…
- Đọc và tìm hiểu ca dao, người đọc sẽ cảm nhận được tất cả những
cung bậc cảm xúc đó trong đời sống tinh thần của người xưa.
*… học được cách nói năng tài tình, chính xác
- Trong văn học dân gian cũng như trong ca dao, ngôn ngữ được sử
dụng chủ yếu là lời ăn tiếng nói hằng ngày giản dị, nôm na của những người
lao động.
- Song cách nói năng ấy không phải không tài tình chính xác. Đó là cách
nói xa vời, bay bổng khi thể hiện một tình yêu thầm kín, là cách nói đầy hình
ảnh khi bộc bạch tâm trạng xót xa cho thân phận nghèo, là cách nói hóm hỉnh
khi giễu cợt, đả kích…
- Cách nói năng đó đã giúp người đọc ca dao có thêm những kinh
nghiệm quý báu trong việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc.
*… thiếu một trong những điều cơ bản
manh của tình yêu:
Hòn đá đóng rong vì dòng nước chảy
Hòn đá bạc đầu vì bởi sương sa
Em với anh cũng muốn kết nghĩa giao hòa
Sợ mẹ bằng đất, sợ cha bằng trời
Em với anh cũng muốn kết nghĩa ở đời
Sợ rằng mây bạc giữa trời mau tan.
+ Đau đớn trước thân phận nhỏ mọn và khát vọng một tâm hồn trong
sạch, cao đẹp.
Thân em như củ ấu gai………..ngọt bùi
-Tiếng cười hài hước: cười để giải trí; cười để chế giễu, tố cáo.
. Anh hùng là anh hùng rơm….cơn anh hùng
. Cậu cai nón dấu lông gà…………đi thuê
3.2. Cách nói năng tài tình chính xác
* Tài tình: Ngôn ngữ trong ca dao vốn giản dị, mộc mạc, đời thường nhưng
cũng rất tinh tế, giàu hình ảnh
- Hình ảnh thơ đẹp, giàu sức gợi: dải lụa đào, cầu dải yếm, mười tay…
- Biện pháp tu từ nghệ thuật: so sánh, nhân hoá, ẩn dụ, điệp, đối…
* Chính xác: Ngôn ngữ phù hợp, hiệu quả trong việc diễn tả những cung bậc
khác nhau của tâm tư, tình cảm
- Ca dao tình yêu: Ngôn ngữ nhẹ nhàng, bay bổng, đầy tâm trạng
- Ca dao than thân: Ngôn ngữ lắng đọng, day dứt
- Ca dao hài hước: Ngôn ngữ hóm hỉnh, giễu cợt, đả kích với việc tạo ra
những hình ảnh đối lập, gây cười
4. Đánh giá chung
- Ý kiến đánh giá của Hoài Thanh vừa nêu được những nét đẹp của ca dao
gia của các yếu tố hoang đường, kì ảo, kể về cuộc đời, số phận
của những con người bình thường trong xã hội, thể hiện quan
niệm đạo đức, lí tưởng và mơ ước của nhân dân lao động. Trong
hệ thống thể loại của văn học dân gian, có thể nói đây là một
trong những thể loại quen thuộc, gần gũi nhất và có sức hấp dẫn
đặc biệt đối với mỗi người.
•
.....trong cuộc đấu tranh cho một cuộc đời tốt đẹp: Truyện cổ tích
phản ánh cuộc đấu tranh của nhân dân lao động, hướng tới một
cuộc đời trong mơ ước, công bằng và hạnh phúc.
•
...có đau khổ mà không buông xuôi, có thất bại mà không đầu
hàng, có bi thàm mà không tuyệt vọng, thực trạng có đen tối
nhưng ánh sáng của niềm tin vẫn muốn xua tan màu sắc ảm
đạm của một cái gì tận thế và trong ánh sáng đó, con người vẫn
cố gắng vươn lên: Trong cuộc đấu tranh cho một cuộc đời công
bằng, tốt đẹp, ta luôn bắt gặp những số phận bất hạnh, cảnh ngộ
trớ trêu .Nhưng vượt lên trên thực tại đen tối ấy là tinh thần lạc
quan, là niềm tin, là sự nỗ lực vươn lên, là tinh thần thực tế có
khả năng cải tạo xã hội.
Bằng cách nói hàm súc, giàu hình ảnh, ý kiến đã khẳng
định sức sống mãnh liệt, tinh thần lạc quan của những
con người bé nhỏ trong truyện cổ tích, làm sáng lên thực
lên bức tranh thê thảm về cuộc sống khốn cùng của những người
dân lành. Đó là cái đói của hai cô cháu trong Sự tích chim hít cô,
tình cảnh nghèo khổ của anh Khoai(Cây tre trăm đốt), Thạch
Sanh, Chử Đồng Tử ...Ngay cả khi cái nghèo, cái đói không phải là
chủ đề chính của một số câu chuyện thì hình ảnh cái đói, nạn đói
vẫn xuất hiện phổ biến trong truyện cổ tích (nạn đói trong Sự
tích ông đầu rau, Sự tích chim đa đa, đoàn người lũ lượt chờ
phát chấn trong Gái ngoan dạy chồng..
•
Truyện cổ tích còn cho thấy tình cảnh bị chà đạp, bị áp bức, bóc
lột của những con người bé nhỏ. ( Cây tre trăm đốt, Thạch Sanh,
đặc biệt là truyện Tấm Cám) (Tập trung phân tích tình cảnh của
Tấm qua mâu thuẫn dai dẳng, quyết liệt với mẹ con Cám để thấy
được số phận bé nhỏ, đáng thương, tội nghiệp của Tấm)
* Tuy nhiên, trong thực tại bi thảm ấy, con người vẫn vươn lên,
không chịu khuất phục bằng sức mạnh của niềm tin và tinh thần
lạc quan (Nội dung trọng tâm)
•
Những con người bé nhỏ trong truyện cổ tích thường không khuất
phục trước hoàn cảnh, đau khổ mà không buông xuôi, thất bại mà
không đầu hàng, luôn vươn lên để giành hạnh phúc cho mình
( HS chứng minh bằng sức sống mãnh liệt, vượt qua thực tại nhiều
đau khổ, bất công của các nhân vật trong một số truyện cổ tích như:
- Ra đời và phát triển trong thời kì xã hội có sự phân hóa, phản ánh cuộc
đấu tranh của nhân dân lao động cho một cuộc đời công bằng và tốt đẹp,
truyện cổ tích đã cho thấy sức sống mãnh liệt, tinh thần lạc quan của những
con người nhỏ bé, từ đó khơi gợi trong mỗi con người niềm tin và mơ ước về
một cuộc sống tốt đẹp.
- Với tinh thấn đó, trải qua thời gian, truyện cổ tích cho đến nay vẫn gắn
bó, thân thuộc và có ý nghĩa lớn lao trong đời sống tâm hồn dân tộc.
3.Kết thúc vấn đề ( 1đ)
Khẳng định lại nhận định cần làm sáng tỏ
ĐỀ 4:
“Xét đến cùng, ý nghĩa thực sự của văn học là nhân đạo hoá con
người”(M.Gorki)
Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên. Bằng những hiểu biết về
ca dao, truyện cổ tích, hãy chứng minh.
GỢI Ý
1. MB
- Dẫn dắt
- Nêu vấn đề
VD: Con người sở dĩ đáng kiêu hãnh, trở thành Con Người vì không phải chỉ
biết sống theo bản năng, mà còn có một đời sống tinh thần phong phú. Trong
đời sống tinh thần của con người, văn học đóng một vai trò quan trọng, tất
nhiên văn học nói ở đây phải là văn học chân chính. Văn học đã mở rộng tầm
mắt cho con người, giúp cho con người một cách sống tốt đẹp để tự hoàn
thiện nhân cách của mình, có thêm sức mạnh để tham gia vào cuộc chiến đấu
cho cái thiện toàn thắng trên cõi đời này. Văn học chân chính giáo dục con
người bằng cái thật và cái đẹp, sâu sắc hơn nữa “văn học chân chính có khả
năng
quá trình làm cho con người tin hơn ở những điều thiện, ở khả năng vươn tới
cái cao cả, cao thượng, kể cả những con người đã trải qua và chịu đựng
những điều ác khủng khiếp do xã hội và có khi do chính mình gây ra.
Letxing cho rằng “Tất cả các thể loại thơ ca đều phải uốn nắn chúng ta”, Lê
Quí Đôn lại nói “Văn chương là gốc lớn của sự lập thân”. NT nói chung, văn
chương nói riêng thường có xu hướng khuếch đại cái tốt để nó trở nên đẹp
đẽ,lộng lẫy hơn, từ đó lôi cuốn hấp dẫn mọi người, làm cho mọi người tin
rằng trên đời này bao giờ cũng còn có lương tri, công lý, bao giờ cũng có
người tốt, khơi dậy ở mọi người khát vọng hướng tới cái lí tưởng, muốn noi
gương, bắt chước điều thiện, điều hay. Đồng thời, nhà văn cũng phóng đại cái
xấu, làm choc nó trở lên ghê tởm và đáng ghét hơn để người đọc nhận ra mặt
nó, khinh ghét, phủ định nó, trước là trong tác phẩm, sau là trong chính cuộc
đời.
Lời nhận định ngắn gọn, hàm súc, đã khái quát chính xác giá trị giáo dục,
khả năng nhân đạo hoá con người của văn học
b. Chứng minh nội dung lời nhận định
* Nói tới quá trình nhân đạo hóa của văn học trước hết là khả năng gợi lòng
trắc ẩn, động tâm, thương cảm đối với những cảnh ngộ bất hạnh đói nghèo
diễn ra trong xã hội.
- Ca dao than thân trách phận gợi tình yêu thương,sự đồng cảm ở con người
VD: Thân em như hạt mưa sa……luống cày
“Khổ như tôi đây mới ra thậm khổ’
Lên non đốn củi đụng chỗ đốn rồi
Xuống sông gánh nước đụng chỗ cát bồi khe khô”
Hoặc “Tháng giêng, tháng hai…..quan tiền”
- Truyện cổ tích “Tấm Cám”. Mỗi chúng ta đều động lòng thương cảm trước
cảnh ngộ bất hạnh của cô Tấm.
tuyến Thiện – Ác rõ rệt. Cô Tấm là đại diện cho cái Thiện, mẹ con Cám là đại
diện cho cái Ác.
+ Cuộc đấu tranh Thiện – Ác diễn ra gay go quyết liệt. Cái Thiện ban đầu có
thể yếu thế nhưng cuối cùng sẽ giành chiến thắng (Tấm - Cám)
+ Cuộc đấu tranh Thiện Ác trong truyện cổ tích thể hiện triết lý nhân sinh của
nhân dân: Ở hiền gặp lành, ác giả ác báo… Những câu chuyện đó có sức cảm
hoá con người, hướng con người tới cái thiện, bài trừ cái ác.
HS có thể lấy VD truyện cổ tích khác.
* K chỉ vậy, văn học chân chính còn góp phần tố cáo những thế lực đen tối, tàn
bạo trong xã hội, chà đạp lên cuộc sống của con người. Bằng những hình
tượng, văn học đã tiếp sức cho con người thêm sức mạnh để chống lại điều
ác, để xóa bỏ những xã hội đen tối tàn bạo, để xã hội trở nên tốt đẹp, ngập
tràn tình yêu thương.
VD: “Con ơi nhớ lấy câu này / Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”
- Truyện Tấm Cám tố cáo những hành vi độc ác của mẹ con Cám. Kết thúc
truyện, cái ác bị trừng trị, thể hiện rõ thái độ của nhân dân: Gieo gió gặt bão
Con người có thêm niềm tin, sức mạnh trong cuộc đấu tranh “Phò chính
trừ tà”, bảo vệ cái Thiện.
c. Khái quát
- Không thể nào có thể nói hết khả năng nhân đạo hóa của văn học đối với con
người. Đọc một tác phẩm văn học chân chính, ta có cảm giác thật hạnh phúc
và sung sướng như đang được đối diện, tâm tình trò truyện với một người
bạn thông minh, nhân ái, từng trải, như đang được chia sẻ nỗi buồn, niềm vui,
tâm tư, ước vọng; như đang được đón nhận ý chí, niềm tin, nghị lực trong
cuộc hành trình đầy thử thách của cuộc sống. Biết bao nhiêu tác phẩm văn
chương đã trở thành cuốn sách gối đầu giường của nhiều thế hệ. Nói như
Gorki :“sách vở đã chỉ cho tôi chỗ đứng của mình trong đời sống, nói cho tôi
biết rằng con người thật là vĩ đại và đẹp đẽ, rằng con người luôn luôn hướng