1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là một công cụ hết sức trọng yếu của quản lý nhà nước đối với
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong cơ chế thị trường. Thuế sẽ có tác
động đến doanh nghiệp ngoài quốc doanh theo hai khía cạnh: thúc đẩy hoặc
kìm hãm phát triển. Vì vậy, Nhà nước ta đã thay đổi và ban hành nhiều luật
thuế với mục tiêu khuyến khích thành phần kinh tế này phát triển. Tuy nhiên,
việc sử dụng công cụ thuế trong quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp
ngoài quốc doanh có hiện trạng sau:
- Thứ nhất: Thuế chồng chéo làm cho giá cả sản phẩm công nghiệp
còn cao.
- Thứ hai: Tình trạng thất thu thuế cho ngân sách còn rất lớn.
- Thứ ba: Tình trạng trốn thuế, gian lận thuế, xin hoàn thuế khống
đang là mối quan tâm đặc biệt quan trọng đối với nước ta hiện nay.
Ngoài ra, thuế là vấn đề không chỉ là vấn đề vĩ mô mà còn là những
vấn đề vi mô rất nhạy cảm. Thuế luôn luôn là vần đề được các nhà kinh
doanh, nhà đầu tư và người dân quan tâm. Việc sử dụng công cụ thuế là chức
năng và nhiệm vụ của Nhà nước nhưng lại rất cần có sự đồng tình ủng hộ của
mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và hoàn
thiện hệ thống thuế là hoàn toàn cần thiết.
Xuất phát từ những đòi hỏi đó, em xin lựa chọn đề tài: "Hoàn thiện
việc sử dụng công cụ thuế trong quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp
công nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam" làm luận văn.
2. Mục đích nghiên cứu của luận văn
- Tổng quan lý luận việc sử dụng công cụ thuế trong quản lý Nhà
nước đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện việc sử dụng công cụ thuế trong
quản lý của Nhà nước đối với các DN công nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt
Nam.
Chương 1
LUẬN CỨ KHOA HỌC VỀ SỬ DỤNG CÔNG CỤ THUẾ
TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
1.1. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP
NGOÀI QUỐC DOANH
1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh.
"Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở
giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật
nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh".
Doanh nghiệp công nghiệp là những doanh nghiệp thực hiện các hoạt
động sản xuất-kinh doanh theo phương pháp công nghiệp để sản xuất ra hàng
hóa dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người và xã hội. Như vậy, nhiều
sản phẩm công nghiệp sẽ không phải chỉ do các doanh nghiệp sản xuất ra.
Tuy nhiên, tùy theo từng lĩnh vực và khía cạnh quản lý còn có những
khái niệm về doanh nghiệp sau đây:
- Dưới giác độ quản lý, DN là một đơn vị kinh tế do Nhà nước hoặc
các đoàn thể hoặc tư nhân đầu tư vốn nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện
các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc hoạt động công ích góp phần thực hiện
các mục tiêu kinh tế-xã hội của đất nước. Hiểu theo cách này thì các DN bao
4
5
nghiệp. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế phát triển đa dạng thì hiểu theo
khái niệm đó sẽ khó phân định được các loại hình doanh nghiệp đa sở hữu.
Chính vì vậy, để phân biệt DNQD và DNNQD phải xem xét trên nhiều khía
cạnh khác của DN, đặc biệt là vấn đề sở hữu và quyền kiểm soát.
Tóm lại, DNCNNQD là một tổ chức kinh tế không thuộc sở hữu hoàn
toàn hoặc sở hữu khống chế của Nhà nước, có tên, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định và đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm thực
hiện những mục tiêu nhất định trong sản xuất kinh doanh công nghiệp.
DNCNNQD là những DNCN không thuộc sở hữu của Nhà nước hoặc
sở hữu khống chế của Nhà nước (Nhà nước sở hữu trên 50%). Ngoài ra, luật
còn quy định các doanh nghiệp là DNNN khi Nhà nước sở hữu số vốn lớn
gấp đôi sở hữu tư nhân lớn nhất. Tuy nhiên, dưới giác độ nghiên cứu về thuế
thì sở hữu khống chế ở đây được hiểu là quyền sở hữu của Nhà nước gắn liền
với quyền kiểm soát và sử dụng doanh nghiệp đó như là công cụ điều tiết của
Nhà nước. Như vậy, ranh giới DNNQD và quốc doanh sẽ rõ ràng hơn khi Nhà
nước có nắm quyền kiểm soát và sử dụng doanh nghiệp đó khi cần thiết hay
không. Mục đích chính của sở hữu của Nhà nước cũng là nhằm khống chế và
sử dụng doanh nghiệp để điều tiết. Cách hiểu này sẽ nảy sinh vấn đề khi phân
định loại hình doanh nghiệp trong hai trường hợp sau:
Một là: Các doanh nghiệp trong đó Nhà nước chiếm tỷ trọng vốn lớn
nhất với tư cách là phân chia lợi nhuận đơn thuần và Nhà nước không có mục
đích sử dụng doanh nghiệp đó như là công cụ điều tiết.
Hai là: Các doanh nghiệp, trong đó các thành phần kinh tế khác có
chiếm phần sở hữu lớn hơn Nhà nước nhưng họ chỉ có mục đích thu lợi nhuận
đơn thuần nên Nhà nước vẫn duy trì quyền kiểm soát và điều tiết.
Những tình huống đặc biệt làm nảy sinh ranh giới phân chia DNQD
và DNNQD không đơn thuần là tên gọi mà phải phân tích sâu xa hơn về bản
nhiều thành viên, hợp tác xã).
7
Xét theo cách tiếp cận vi mô: Các DNCNNQD có những nét đặc trưng
riêng do tính chất hình thức sở hữu của nó quyết định. Hình thức sở hữu Nhà
nước cũng có nhiều hình thức từ thấp đến cao và hình thức hợp tác giữa Nhà
nước với tư nhân cũng ở nhiều mức độ. Căn cứ vào các đặc trưng về vốn, sở
hữu và quyền kiểm soát quản lý để phân biệt giữa DNNN và DNNQD. Khái
niệm DNCNNQD ở đây được hiểu là những DN không thuộc quyền sở hữu
và chi phối chủ yếu của Nhà nước.
Xét theo cách tiếp cận vĩ mô: DNCNNQD là các DN kinh doanh và
DNCNQD là các doanh nghiệp công ích.
Các DNCCNNQD chủ yếu theo đuổi các mục tiêu kinh tế còn các DN
công ích ngoài chức năng kinh doanh sẽ còn phải thực thi các mục tiêu kinh
tế-xã hội. Sự khác nhau cơ bản ở đây là mục tiêu hoạt động của DN. Mục tiêu
kinh tế - xã hội là mục tiêu chính của DN quốc doanh. Xu hướng Nhà nước
cũng chỉ cần nắm giữ các DN có vai trò đặc biệt trong nền kinh tế để thực
hiện các chức năng quản lý Nhà nước với nền kinh tế. Trên cơ sở các trình
bày trên và quan điểm của các nhà kinh tế học trong nước và trên thế giới có
thể đưa ra những đặc trưng cơ bản của hai loại hình doanh nghiệp này như
bảng 1.1.
Bảng 1.1: Các đặc trưng của DNCNQD và DNCNNQD
TT
Tiêu chí
Đặc trưng của DNCNNQD
- Phát triển kinh tế-xã hội
- Hiệu quả kinh tế-xã hội
- Hiệu quả tài chính và đóng
góp cho ngân sách
- Mục tiêu "kép" giữa xã hội và
kinh doanh
4
Ra
quyết - Trong phạm vi hẹp của người - Nhiều người, nhiều cấp tham
8
định
quản lý
gia quyết định, chỉ đạo
- Ràng buộc bởi luật pháp và - Ràng buộc bởi luật pháp, quy
các nguyên tắc quản lý và triết chế đối với DNNN và nguyên
lý kinh doanh của công ty
tắc, triết lý kinh doanh
5
Nguồn lực
vật liệu
Kỹ thuật
Chi phí sản xuất
kinh doanh
Chi phí cố định
QSF
Hình 1.1: Đặc điểm về mục tiêu và các yếu tố đầu vào của DNCNNQD
9
Một khía cạnh khác biệt về thứ tự ưu đãi thanh toán khi phá sản của
DNCNNQD cũng rất rõ nét. Thông thường các DNCNNQD chỉ sẽ ưu tiên trả
các khoản vay nợ theo thứ tự đối với người lao động, Ngân hàng, Quỹ tín
dụng, nhà đầu tư, cổ đông. Đặc trưng này thể hiện sự ưu tiên của các khoản
thanh toán đối với người lao động sau đó đến các chủ nợ và cuối cùng mới
đến các chủ đầu tư. Trong khi đó, các DNCNQD sẽ ưu tiên thanh toán cho
người lao động, các cổ đông tư nhân, các khoản vay tư nhân sau đó đến các
khoản vay tài chính Nhà nước và cuối cùng là Ngân sách Nhà nước.
Những đặc trưng cơ bản trên đây đã cho thấy DNCNNQD là DN kinh
doanh rất nhanh nhạy trong cơ chế thị trường. Để quản lý tốt các DN này, đòi
hỏi các cấp, các ngành phải hiểu rõ các đặc trưng này và nắm vũng cơ chế thị
trường và các quy luật kinh tế khách quan để vận dụng.
1.1.3. Các chức năng quản lý Nhà nước đối với DNCNNQD
Quản lý Nhà nước đối với công nghiệp nói chung bao gồm các chức
các lĩnh vực và giữa các DN. Đôi khi các mối quan hệ này nổi lên như là
những tác động mang tính khách quan, do đó Nhà nước phải đặc biệt chú
trọng đến việc điều hòa phối hợp giữa các ngành, các lĩnh vực và giữa các
DN. Mối quan hệ này thường xuất phát từ mối quan hệ tương quan của các
ngành, các lĩnh vực và các DN biểu hiện thông qua cơ cấu ngành, lĩnh vực và
loại hình DN. Nhà nước không thực hiện được chức năng này tất yếu sẽ chịu
nhiều phản ứng mang tính khách quan do các đối tượng bị quản lý này tác
động trở lại.
1.1.3.4. Chức năng kiểm tra kiểm soát
Việc quản lý Nhà nước đối với công nghiệp đòi hỏi phải có đầy đủ các
thông tin hai chiều cả từ phía chủ thể và từ phía khách thể bị quản lý. Để đảm
bảo cho quá trình quản lý có hiệu quả và đảm bảo định hướng phát triển luôn
luôn được thực thi, Nhà nước cần phải có chức năng kiểm tra giám sát đối với
lĩnh vực sản xuất - kinh doanh công nghiệp.
11
Hệ thống chức năng trên có mối quan hệ tương tác lẫn nhau, đòi hỏi
phải được thực hiện đồng bộ, toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả của quản lý
Nhà nước đối với công nghiệp, đặc biệt là DNCNNQD.
1.2. SỬ DỤNG CÔNG CỤ THUẾ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
1.2.1. Hệ thống biện pháp và công cụ quản lý
Quản lý Nhà nước đối với công nghiệp, đòi hỏi phải sử dụng tổng hợp
các biện pháp sau: Biện pháp hành chính - pháp luật, biện pháp kinh tế và
biện pháp tổ chức - giáo dục. Nhà nước ta đã tăng cường các biện pháp quản
lý Nhà nước bằng cách giảm dần các biện pháp hành chính và tăng cường
biện pháp lý thông qua luật. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng đang tăng cường
Nhà nước đối với DNCNNQD.
Tuy đã thống nhất về vai trò quan trọng của Chính phủ trong việc can
thiệp và điều tiết các hoạt động của hệ thống kinh tế thị trường, nhưng các
quan điểm lý thuyết kinh tế thị trường lại rất khác nhau về mức độ và cách
thức can thiệp. Quan điểm phổ biến trong kinh tế học nhấn mạnh vai trò can
thiệp của Chính phủ như một nhân vật thứ ba. Sự can thiệp của Chính phủ vào
cơ chế thị trường được lý giải là cần thiết khi sự vận hành của cơ chế thị
trường tự do có những "trục trặc" và nhằm mục đích để điều tiết nền kinh tế
theo định hướng công bằng và hiệu quả.
Về nguyên tắc, các Chính phủ có thể can thiệp và điều tiết nền kinh tế
thị trường thông qua các công cụ thuộc bốn nhóm chính sách "cuội nguồn" sau:
(i) Thuế và trợ cấp - nhóm chính sách C1; (ii) Hệ thống luật pháp với
hai tính chất hướng dẫn và điều chỉnh - nhóm chính sách C2 và C3; (iii) Hệ
thống các cơ quan, tổ chức của Nhà nước hay do Nhà nước lập ra hoặc hỗ trợ
tham gia trực tiếp vào hệ thống thị trường như các đối tượng khác - nhóm
Thị trường
chính sách C4; và chiến lược - nhóm
chính sách C5. Sự can thiệp của Chính
hàng hóa
phủ vào cơ chế thị trường bằng các nhóm chính sách cội nguồn được minh họa
$
trên sơ đồ 1.1.
Thỏa
mãn
Hộ gia
đình
C2
hệ thống kinh tế thị trường là nhằm đảm bảo sự phát triển cân đối về kinh tế
và xã hội. Hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường phụ
thuộc chủ yếu vào bản chất những vấn đề cần được sửa chữa khi can thiệp,
mục đích điều tiết, cách thức và công cụ mà Chính phủ lựa chọn để can thiệp.
Về nguyên tắc, các nhóm "chính sách cội nguồn" có thể sử dụng để điều tiết
thị trường như là cấp công cụ quản lý đầu tiên.
Chi tiết hơn về vai trò của nhóm chính sách này trong việc khắc phục
những "khuyết tật thị trường" và những "phản ứng phụ" của chúng. Những
"phản ứng phụ" này của giải pháp chính sách được khái quát trong dạng
khiếm khuyết do cơ chế điều hành của Chính phủ. Các cơ quan của Chính
phủ sẽ có khiếm khuyết trong quá trình vận hành nền kinh tế vì những tệ nạn
tham nhũng, quan liêu v.v... Những nhóm chính sách này sẽ bị hạn chế rất
nhiều vì những tệ nạn đó nên khi vận hành nền kinh tế bằng nhóm các công
cụ vĩ mô đòi hỏi phải có bộ máy công quyền hiệu quả. Bộ máy công quyền
quản lý hoạt động có hiệu quả phải dựa trên những cán bộ cốt cán có phẩm
14
chất tốt và ngược lại chính họ lại là người tạo ra và sử dụng sáng tạo các công
cụ này. Các nhóm công cụ chính sách cội nguồn điều tiết nền kinh tế thị
trường được trình bày ở bảng 1.2.
Bảng 1.2: Các nhóm công cụ "chính sách cội nguồn"
để điều tiết nền kinh tế thị trường
Nhóm chính sách
C1
Nhóm chính sách
C2 và C3
Hợp
đồng
Chính
phủ
Bảo
hiểm
Dự trữ
chiến
lược
Thuế
(Đầu ra,
thuế
quan
Thuế
(Thuế
hàng
hóa, lệ
phí
sử dụng)
Hạn chế
can thiệp
Khung
pháp lý
soát,
điều tiết)
DNNN
Hợp
đồng
gián tiếp
Hỗ trợ
gián tiếp
Mua cân
đối hay
bù giá
Mô phỏng
thị trường
Đặc khu
kinh tế
Trợ cấp
khó khăn
Mặt khác, công cụ chính sách cũng rất khác nhau về tính chất, tác
dụng, hiệu quả và phạm vi hiệu lực. Những đặc điểm này được sử dụng như
những căn cứ để cân nhắc khi lựa chọn và sử dụng một công cụ chính sách.
Bảng 1.3 trình bày những đặc điểm cơ bản của bốn nhóm "chính sách cội
nguồn". Các công cụ "chính sách cội nguồn" thường được sử dụng làm cơ sở
Cả hai
Tác dụng
Trực tiếp
Gián tiếp
Trực tiếp
Cả hai
Hiệu quả
Tức thì
Lâu dài
Cả hai
Lâu dài
Phạm vi hiệu lực
Trực tiếp vào
đối tượng
Toàn bộ hệ
thống
Thuế được hiểu dưới nhiều giác độ khác nhau và mỗi giác độ cho
phép nhìn nhận thuế như là một công cụ đa năng trong quản lý Nhà nước về
kinh tế. Về phương diện pháp luật, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc
được luật pháp hóa. Về phương diện kinh tế thuế được coi là một phần thu
nhập quốc dân mà người dân phải nộp cho Nhà nước. Về phương diện nghiên
cứu lý luận thuế được coi là một phần tài sản (không nhất thiết là thu nhập)
phải đóng góp cho Nhà nước chi tiêu để thực hiện các chức năng của Nhà
nước. Từ những giác độ khác nhau, khái niệm về thuế được hiểu là: Thuế là
một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước
theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích
công cộng.
Ở giác độ DN, thuế khoản chi phí bắt buộc phải nộp cho Nhà nước
nhằm đảm bảo chi tiêu của Nhà nước và xác lập tính hợp pháp về thu nhập
của họ.
Như vậy, khái niệm trên đã phân biệt rõ sự khác nhau giữa thuế; phí
và lệ phí. Tính pháp lý của thuế là cụ thể rõ ràng hơn ở chỗ nó thừa nhận tính
hợp pháp của thu nhập còn lại sau khi nộp thuế. Mặc dù, thuế là nguồn thu
chủ yếu của NSNN nhưng không phải là Nhà nước có thể tùy tiện đặt ra các
loại thuế. Vì ngoài các chức năng chung nhằm điều tiết vĩ mô nền kinh tế,
17
thuế cũng thể hiện sự phân phối thu nhập giữa Nhà nước và các chủ thể khác
trong nền kinh tế nên thuế phải mang tính công bằng và hợp lý.
- Các hình thức thuế.
Như đã trình bày về khái niệm thuế, các hình thức thuế cũng rất nhiều
loại tùy theo từng giác độ nghiên cứu và tiêu chí phân loại. Thông thường có
các cách thức phân loại thuế sau đây:
Phân loại theo đối tượng chịu thuế
Căn cứ vào các chức năng của thuế, Nhà nước có thể vận dụng khéo
léo các loại thuế. Chức năng của thuế còn phụ thuộc nhiều vào môi trường
luật pháp chính trị của nước áp dụng. Thuế được pháp luật hóa nên việc áp
dụng công cụ thuế phải được cân nhắc kỹ lưỡng. Các chức năng của thuế sẽ
phát huy tác dụng hay không cũng khó có thể thay đổi một cách nhanh chóng,
vì vậy khi ban hành thành luật chính thức nhiều quốc gia đã áp dụng thí điểm
nhằm xem xét kỹ những tác dụng của loại thuế mới.
1.2.2.2. Sử dụng công cụ thuế trong quản lý Nhà nước đối với các
loại doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh.
Nhà nước sử dụng các công cụ để quản lý các DN là điều cần thiết.
Hiện nay, việc quản lý Nhà nước về thuế thể hiện ở chính sách thuế và hệ
thống thuế. Chính sách thuế được cụ thể hóa bằng các luật, pháp lệnh và các
văn bản chính thức của Nhà nước về thuế. Xu hướng Nhà nước sẽ luật pháp
hóa các sắc thuế để nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước thông qua luật
pháp. Trước hết, chính sách phát triển kinh tế và phát triển của Nhà nước là
tiền đề để hoạch định chính sách thuế của Nhà nước đối với DN công nghiệp.
Hiện nay, mục tiêu phát triển kinh tế được các quốc gia rất quan tâm. Phần
lớn trong số các quốc gia đều lựa chọn cho mình con đường phát triển kinh tế
bằng các công cuộc công nghiệp hóa. Để đạt mục tiêu đó các quốc gia đều
xây dựng cho mình các chính sách thuế đặc biệt là xác định hợp lý tỷ lệ động
viên GDP vào NSNN với việc phát triển kinh tế của quốc gia mình. Trên cơ
19
sở chính sách thuế, Nhà nước sẽ thực hiện việc quản lý bằng các biện pháp
quản lý như luật pháp, hành chính, giáo dục v.v... Đặc biệt là phương pháp
quản lý bằng luật pháp ngày càng được phát huy. Cụ thể hóa các chính sách
thuế là hệ thống thuế bao gồm các sắc thuế và cơ quan quản lý thuế. Đối với
những quốc gia kém phát triển hệ thống thuế sẽ có tỷ lệ các sắc thuế được
Công cụ quản
lý (Thuế, tiền
tệ...)
DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH
20
Sơ đồ 1.2: Mô hình quản lý đối với các DNCNNQD
Như vậy, việc sử dụng công cụ thuế trong quản lý Nhà nước đối với
các DNCNNQD chính là Nhà nước phải sử dụng công cụ thuế trên cơ sở xây
dựng các chính sách thuế phù hợp với đường lối phát triển kinh tế, từ đó áp
dụng biện pháp quản lý thuế bằng hình thức luật, dưới luật, giáo dục hay
mệnh lệnh hành chính. Một hệ thống thuế có thể có nhiều biện pháp quản lý
khác nhau nhưng biện pháp quản lý chủ yếu là luật pháp. Ngày nay, biện pháp
quản lý thông qua luật ngày càng được phát huy mạnh mẽ không chỉ đối với
công cụ thuế mà đối với quản lý Nhà nước nói chung.
Như vậy, quản lý Nhà nước về thuế là việc xây dựng các chính sách
và vận dụng các biện pháp quản lý trên cơ sở tổ chức bộ máy quản lý phù hợp
trong lĩnh vực thuế. Tuy nhiên, công cụ thuế được sử dụng trong quản lý Nhà
nước nhấn mạnh đến việc vận dụng công cụ thuế hơn là nghiên cứu lý luận về
thuế. Vận dụng công cụ thuế trong quản lý Nhà nước là tập trung chủ yếu vào
việc xây dựng hệ thống thuế. Hệ thống thuế bao gồm các chính sách thuế, bộ
máy quản lý thuế và cơ chế quản lý thuế. Trong đó, trọng tâm là chính sách
thuế mà cụ thể hóa bằng các sắc thuế dưới hình thức luật hay dưới luật. Các
sắc thuế thể hiện rất rõ các chính sách thuế của chủ thể quản lý đối với đối
tượng quản lý thông qua các quy định về những nội dung thuế cụ thể. Đối với
các doanh nghiệp các chính sách thuế về doanh thu, lợi nhuận luôn là những
phải từ bỏ kinh doanh mặt hàng này để chuyển hướng kinh doanh mặt hàng
22
khác theo đúng định hướng của Nhà nước. Như vậy, việc sử dụng công cụ
thuế trong quản lý Nhà nước đối với DNCNNQD có ảnh hưởng rất mạnh mẽ
và cần được vận dụng hợp lý.
1.3. TÁC DỤNG CỦA THUẾ ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC VÀ DNCNNQD
1.3.1. Tác dụng đối với Nhà nước
Thứ nhất: Độ trễ của thuế đối với Nhà nước.
Đối với Nhà nước, thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN. Thuế gắn
liền với khái niệm Nhà nước và tồn tại thống nhất với nhau. Khi Nhà nước
muốn chi tiêu phải thu từ nhiều loại thuế khác nhau nếu không sẽ phải huy
động vay thêm từ các nguồn khác. Thực chất, các loại thuế khác nhau dù đánh
ở khâu nào, tính chất ra sao thì mục đích chung vẫn là tăng thu cho NSNN.
Tác động của thuế đối với Nhà nước thể hiện rõ nét nhất ở mức độ thuế thu
ổn định theo tổng sản phẩm quốc dân. Do đó, GDP và mức độ tăng trưởng
của nền kinh tế luôn là vấn đề đặt ra cho Nhà nước của mỗi quốc gia. Sự ổn
định trong huy động GDP vào ngân sách qua thuế có dao động chậm, thường
gọi là độ trễ như sau (đồ thị 1.1)
Giá trị
tổng sản
phẩm
quốc dân
Thu nhập
quốc dân
thuế vào mức thu nhập cao nhưng không có biện pháp đảm bảo cho họ được
hưởng nhiều hơn và như vậy sự phân phối qua thuế gây méo mó hơn.
Đường khả năng hữu dụng là đường giới hạn về mức độ thỏa mãn của
mọi người trong xã hội về những loại hàng hóa công cộng của các nhóm dân
cư. Nhà nước không thể đảm bảo tuyệt đối vừa có công bằng và hiệu quả giữa
việc nộp thuế và sử dụng hàng hóa công cộng của các nhóm. Do đó, khi đánh
thuế sẽ có những tác động méo mó đối với sự công bằng và độ hữu dụng của
các nhóm dân cư trong xã hội (Đồ thị 1.2).
Độ hữu
dụng của
nhóm 2
A
I
A
Độ hữu dụng của nhóm 1
24
Đồ thị 1.2: Đường khả năng hữu dụng: Mọi điểm trên đường khả năng
hữu dụng đều có hiệu quả nhưng nếu thuế tác động làm cho sự phân phối từ điểm A đến
điểm B sẽ gây méo mó. Nguồn: [37, trang 485-486].
Về lý thuyết, khi đánh thuế thì đường giới hạn ngân sách sẽ tăng bằng
đúng mức thuế. Trên thực tế mức thuế nộp sẽ ít hơn do đường bàng quang của
người tiêu dùng thay đổi (Đồ thị 1.3).
Nếu không đánh thuế thì người tiêu dùng được lợi do mua hàng với
giá rẻ. Khi đánh thuế đối tượng chịu thuế thường có phản ứng nên gây ra sự
lệch lạc số thuế có thể thu được. Phản ứng của đối tượng chịu thuế có thể là
hạn chế tiêu dùng, dùng sản phẩm thay thế v.v…. Những phản ứng đó tác
động đến mức thu thuế khi đánh thuế. Phần mất mát này Nhà nước không
được lợi và người tiêu dùng cũng không được lợi. Đó chính là tính phi hiệu
quả của thuế thường gọi là "sự mất trắng". Tác động của thuế đối với Nhà
nước còn thể hiện ở việc thuế gây méo mó đối với những hàng hóa công
cộng. Các khoản thu để chi cho hàng hóa công cộng chính là từ thuế. Để chi
tiêu cho hàng hóa công cộng thì phải từ bỏ sản xuất một lượng hàng hóa tư
nhân là tất yếu. Chính vì vậy, đường khả thi sản xuất nằm trong đường giới
hạn khả năng sản xuất. Việc đánh thuế làm cho hàng hóa công cộng trở nên
đắt tiền hơn và mức hiệu quả của hàng hóa công cộng sẽ nhỏ hơn lúc không
bị đánh thuế.
Hàng
hóa cá
nhân
Đường khả thi
sản xuất
Đường giới hạn
khả năng sản xuất
Hàng hóa công cộng
Đồ thị 1.4: Đường khả thi sản xuất và khả năng sản xuất do tác
động của thuế: Thuế gây méo mó và đường khả thi sản xuất sẽ nằm trong bên dưới
đường khả năng sản xuất.