1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thì các
đơn vị hành chính sự nghiệp dưới sự quản lý của Nhà nước cũng từng bước đi vào
phát triển ổn định và vững chắc góp phần không nhỏ vào sự nghiệp đổi mới kinh tế xã hội của đất nước.
Các đơn vị hành chính sự nghiệp là các đơn vị quản lý hành chính Nhà nước như
đơn vị sự nghiệp y tế, giáo dục, văn hóa, thông tin, sự nghiệp khoa học công nghệ, sự
nghiệp kinh tế… hoạt động bằng nguồn kinh phí của Nhà nước cấp, hoặc các nguồn
kinh phí khác như thu sự nghiệp, phí, lệ phí, thu từ kết quả hoạt động kinh doanh hay
nhận viện trợ biếu tặng theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp để thực hiện nhiệm
vụ của Đảng và Nhà nước giao cho.
Trong quá trình hoạt động, các đơn vị hành chính sự nghiệp dưới sự quản lý của
Đảng và Nhà nước phải có nhiệm vụ chấp hành nghiêm chỉnh luật Ngân sách Nhà
nước, các tiêu chuẩn định mức, các qui định về chế độ kế toán hành chính sự nghiệp
do Nhà nước ban hành. Điều này nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế - tài chính,
tăng cường quản lý kiểm soát chi quỹ Ngân sách Nhà nước, quản lý tài sản công,
nâng cao chất lượng công tác kế toán và hiệu quả quản lý các đơn vị hành chính sự
nghiệp.
Chính vì vậy, công việc của kế toán trong các đơn vị hành chính sự nghiệp có thu
là phải tổ chức hệ thống thông tin bằng số liệu để quản lý và kiểm soát nguồn kinh
phí, tình hình sử dụng, quyết toán kinh phí, tình hình quản lý và sử dụng các loại vật
tư tài sản công, tình hình chấp hành dự toán thu, chi và thực hiện các tiêu chuẩn định
mức của Nhà nước ở đơn vị. Đồng thời, kế toán hành chính sự nghiệp với chức năng
thông tin mọi hoạt động kinh tế phát sinh trong quá trình chấp hành Ngân sách Nhà
nước tại đơn vị hành chính sự nghiệp được Nhà nước sử dụng như là một công cụ sắc
bén trong việc quản lý Ngân sách Nhà nước, góp phần đắc lực vào việc sử dụng vốn
một cách tiết kiệm và hiệu quả cao.
3
cao chất lượng thông tin kế toán tại các đơn vị sự nghiệp giáo dục nói chung và sự
nghiệp giáo dục công lập nói riêng (các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập được đề
cập ở đây là các trường bậc cao đẳng, đại học công lập trên địa bàn tỉnh Bình Dương)
đang trở thành nhu cầu bức thiết của tỉnh. Câu hỏi được đặt ra là chất lượng thông tin
kế toán tại các trường này cung cấp như thế nào và các nhân tố nào ảnh hưởng đến
chất lượng thông tin kế toán đó?
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng
thông tin kế toán của các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập trên địa bàn tỉnh
Bình Dương” được lựa chọn để nghiên cứu.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Để thực hiện đề tài một cách hiệu quả nhất đề tài cần nghiên cứu và phân tích
một số câu hỏi sau:
-
Thứ nhất: Chất lượng thông tin kế toán trong các đơn vị SNGD công lập bao
gồm những thang đo nào?
-
Thứ hai: Các nhân tố nào ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán tại các
đơn vị SNGD công lập trên địa bàn tỉnh Bình Dương?
-
Thứ ba: Thực trạng về mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến chất
lượng thông tin kế toán của các đơn vị SNGD công lập trên địa bàn tỉnh Bình
1.3 Nội dung nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian và khả năng nghiên cứu cũng như một số khó khăn
khách quan khác, cho nên đề tài nghiên cứu này sẽ đi sâu vào một số lĩnh vực sau:
1.3.1
Đối tượng nghiên cứu
- Chất lượng thông tin kế toán
- Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán tại các đơn vị SNGD
công lập (bao gồm 03 trường đại học và 04 trường cao đẳng công lập) trên địa bàn
tỉnh Bình Dương.
1.3.2
Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung vào việc tìm hiểu, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất
lượng TTKT và mức độ tác động của các nhân tố này đến chất lượng TTKT tại các
đơn vị SNGD công lập gồm 03 trường đại học và 04 trường cao đẳng trên địa bàn
tỉnh Bình Dương.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 03 năm 2015
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đã đề ra, đề tài nghiên cứu cần giải quyết 03 vấn đề chính
có quan hệ chặt chẽ với nhau:
(1) Chất lượng thông tin kế toán trong các đơn vị SNGD công lập (bậc cao đẳng
và đại học). Mục đích của phần này là tìm ra các tiêu chuẩn của chất lượng TTKT
trong các đơn vị SNGD công lập (cụ thể là bậc cao đẳng và đại học) trên địa bàn tỉnh
Bình Dương hay nói cách khác nó chính là thang đo chất lượng TTKT trong trường
hợp này.
(2) Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán tại các đơn vị SNGD
công lập trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Mục đích của phần này là tìm ra những nhân
Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế - IASB; quan điểm của Hội đồng chuẩn mực kế
toán tài chính Hoa Kỳ - FASB; cũng như các quan điểm của các đề tài trong nước có
liên quan đến đề tài như nghiên cứu của Nguyễn Bích Liên (2012), Phan Minh
Nguyệt (2014) và Nguyễn Thị Thu Hiền (2014). Từ đây, tác giả điều chỉnh, chọn lọc
6
cho phù hợp với đặc điểm của các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập nói chung và
tỉnh Bình Dương nói riêng để xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng
đến chất lượng thông tin kế toán của các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập (bậc cao
đẳng và đại học) trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
Để giải quyết vấn đề (3) . Tác giả sử dụng phương pháp định lượng thu thập dữ liệu thông qua điều
tra chọn mẫu, sử dụng các kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích hệ số tương quan và
phân tích phương sai (ANOVA), sử dụng mô hình phân tích nhân tố khám phá
(EFA) để trả lời câu hỏi nghiên cứu thứ nhất và thứ hai. Tác giả sử dụng phương
pháp chọn mẫu khảo sát thuận tiện và lấy ý kiến chuyên gia để thực hiện khảo sát.
1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.5.1
-
Ý nghĩa khoa học
Vận dụng được cơ sở lý thuyết về chất lượng thông tin kế toán và kết quả
khảo sát để phát triển mô hình đánh giá chất lượng thông tin kế toán tại các đơn vị sự
nghiệp giáo dục công lập (bậc cao đẳng, đại học) trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
-
Hiện nay, đa số các đề tài nghiên cứu kể cả trong nước và nước ngoài có liên
quan đều chỉ tập trung phân tích các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng thông tin kế toán
và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin kế toán
trong các doanh nghiệp, đề tài nghiên cứu liên quan đến khu vực công không nhiều
lại chưa đầy đủ. Trên quan điểm kế thừa và tiếp tục phát triển những công trình
nghiên cứu trước đây, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các nhân tố cũng như mức độ
ảnh hưởng của các nhân tố này đến chất lượng thông tin kế toán trong các đơn vị sự
nghiệp giáo dục công lập (bậc cao đẳng, đại học) trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Từ
đó, đưa ra các giải pháp hữu ích nhằm nâng cao chất lượng thông tin kế toán của các
đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập (bậc cao đẳng, đại học) trên địa bàn tỉnh Bình
Dương.
1.7 Kết cấu đề tài
Đề tài nghiên cứu bao gồm 5 chương:
Chương 1:
Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kiến nghị và kết luận
8
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 đã trình bày được lý do, tính cấp thiết của việc lựa chọn đề tài nghiên
cứu là xuất phát từ tầm quan trọng của chất lượng thông tin kế toán trong tất cả các
lại hình doanh nghiệp nói chung và trong lĩnh vực sự nghiệp giáo dục công lập tỉnh
Bình Dương nói riêng, nhằm ngày càng nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như chất
lượng đào tạo tại các đơn vị này. Trong khi đó, để đáp ứng nhu cầu nâng cao chất
tế tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị
kế toán. [Điều 4, Luật kế toán]
-
Căn cứ vào hình thức sở hữu, kế toán được phân thành:
Kế toán tư: Là kế toán tại các tổ chức, đơn vị được thành lập nhằm mục đích
tìm kiếm lợi nhuận như: kế toán trong các công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân,
công ty cổ phần… [9; trang 4]
Kế toán công: Là kế toán trong các tổ chức, đơn vị được thành lập bởi cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền và hoạt động với mục tiêu phục vụ lợi ích công, lợi
ích của xã hội mà không hướng đến mục đích tìm kiếm lợi nhuận. [9; trang 4]
Lĩnh vực kế toán công của Việt Nam hiện nay áp dụng nhiều chế độ kế toán
khác nhau: Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp, chế độ kế toán ngân sách và tài
10
chính xã hội, kế toán ngân sách và nghiệp vụ kho bạc Nhà nước, kế toán hải quan, kế
toán thuế… Như vậy, kế toán hành chính sự nghiệp chỉ là một bộ phận của kế toán
công. Trong phạm vi giới hạn, đề tài chỉ nghiên cứu phần chất lượng thông tin kế
toán trong kế toán hành chính sự nghiệp mà thôi.
2.1.2 Tổng quan về kế toán hành chính sự nghiệp
2.1.2.1 Tổng quan về đơn vị hành chính sự nghiệp
2.1.2.1.1 Khái niệm về đơn vị hành chính sự nghiệp
“Đơn vị hành chính sự nghiệp là đơn vị do cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản
lý nhà nước về một hoạt động nào đó (các cơ quan chính quyền, cơ quan quản lý Nhà
nước trong các ngành Giáo dục – Đào tạo, Y tế, Văn hoá, Thể thao, Sự nghiệp, Nông
lâm ngư nghiệp, Trạm, Trại); hoạt động bằng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp
toàn bộ hay cấp một phần và các nguồn khác đảm bảo chi phí hoạt động thường
Đơn vị dự toán cấp III: Trực thuộc đơn vị dự toán cấp II, chịu sự lãnh đạo
trực tiếp về tài chính và quan hệ cấp phát vốn của đơn vị dự toán cấp II, là đơn vị
cuối cùng thực hiện dự toán. Đơn vị dự toán cấp III trực tiếp sử dụng kinh phí của
ngân sách, chấp hành các chính sách về chi tiêu, về hạch toán, tổng hợp chi tiêu kinh
phí báo cáo lên đơn vị dự toán cấp II và cơ quan tài chính cùng cấp theo định kỳ.
Đơn vị dự toán có thể chỉ có một cấp hoặc hai cấp. Ở các đơn vị chỉ có một
cấp thì cấp này phải làm nhiệm vụ của cấp I và cấp III. Ở các đơn vị được tổ chức
thành hai cấp thì đơn vị dự toán cấp trên làm nhiệm vụ của đơn vị dự toán cấp I, đơn
vị dự toán cấp dưới làm nhiệm của đơn vị dự toán cấp III.
2.1.2.2 Đặc điểm của đơn vị hành chính sự nghiệp
“Các đơn vị sự nghiệp đều có đặc điểm chung là hoạt động bằng kinh phí do
ngân sách nhà nước cấp hoặc trang trải bằng nguồn thu sự nghiệp. Đặc điểm này có
ảnh hưởng lớn đến công tác kế toán của các đơn vị trong các đơn vị hành chính sự
nghiệp thể hiện trên các mặt:
Trước hết, để thực hiện cho kiểm soát và thanh quyết toán với ngân sách, kế
toán các đơn vị sự nghiệp phải tuân thủ chế độ kế toán do cơ quan có thẩm quyền
quy định.
Thứ hai, phục vụ cho tổng hợp số liệu về các khoản chi ngân sách, các khoản
chi trong các đơn vị hành chính sự nghiệp phải được hạch toán chi tiết theo từng
chương, mục phù hợp với mục lục ngân sách nhà nước” [14, trang 14]
2.1.2.3 Đặc điểm kế toán đơn vị hành chính sự nghiệp
Với những đặc điểm nêu trên của đơn vị hành chính sự nghiệp, kế toán trong
đơn vị HCSN có nhiệm vụ thu thập, xử lý, và cung cấp thông tin phục vụ cho quản lý
12
và sử dụng nguồn kinh phí và các khoản thu trong các đơn vị HCSN, phục vụ cho
kiểm tra, kiểm soát tình hình sử dụng và thanh quyết các khoản kinh phí được ngân
sách cấp phát cũng như các khoản thu của đơn vị HCSN, góp phần quản lý và sử
dụng hiệu quả ngân sách của Nhà nước. Chế độ kế toán HCSN được Bộ tài chính
Dự toán, quyết toán, kết quả kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước,
ngân sách các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được ngân
sách nhà nước hỗ trợ phải công bố công khai.
13
-
Các tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ thu, chi ngân sách nhà nước phải tổ
chức hạch toán kế toán, báo cáo và quyết toán theo đúng chế độ kế toán
của Nhà nước.
-
Cuối năm ngân sách, Bộ trưởng Bộ tài chính hướng dẫn việc khoá sổ kế
toán và lập báo cáo quyết toán ngân sách theo đúng các nội dung ghi trong
dự toán năm được giao và theo Mục lục ngân sách nhà nước.
-
Toàn bộ các khoản thu thuộc ngân sách các năm trước nộp trong năm sau
phải hạch toán vào ngân sách năm sau. Các khoản chi ngân sách đến ngày
31 tháng 12 chưa thực hiện được hoặc chưa chi hết, nếu được cơ quan có
thẩm quyền cho phép tiếp tục thực hiện trong năm sau thì được chi tiếp
trong thời gian chỉnh lý quyết toán và hạch toán quyết toán vào chi ngân
sách năm trước, nếu được chuyển nguồn để thực hiện thì hạch toán vào
ngân sách năm sau.
-
2.1.3.3 Cơ chế tài chính áp dụng cho đơn vị hành chính sự nghiệp
Cơ chế tài chính đang áo dụng cho các đơn vị hành chính sự nghiệp hiện nay
gồm:
Đơn vị sự nghiệp: Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 quy định
quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế
và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan nhà nước có thẩm
quyền quyết định thành lập và thông tư 71/2006/TT-BTC ngày 09/08/2006 hướng
dẫn Nghị định 43. Cơ chế tự chủ áp dụng cho đơn vị sự nghiệp nhằm trao quyền tự
chủ cho đơn vị sự nghiệp trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng
lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành công việc được giao. Phát huy được
tính chủ động sáng tạo và tiết kiệm cho đơn vị sự nghiệp.
Cơ quan nhà nước: Nghị định 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 quy định
chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành
chính đối với các cơ quan nhà nước và thông tư liên tịch 03/2006/TTLT-BTC-BNV
ngày 17/01/2006 hướng dẫn Nghị định 130. Cơ chế tài chính áp dụng cho đơn vị
hành chính nhà nước nhằm tạo điều kiện cho cơ quan chủ động trong việc sử dụng
biên chế và kinh phí quản lý hành chính một cách hợp lý nhất để hoàn thành tốt chức
năng nhiệm vụ. Thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức bộ máy tinh gọn, thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí trong việc sử dụng lao động, kinh phí quản lý hành chính.
2.1.3.4 Chuẩn mực kế toán công quốc tế
15
Hội đồng chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSASB) thuộc liên đoàn kế toán
quốc tế đã soạn thảo các chuẩn mực kế toán cho các đơn vị thuộc lĩnh vực công hay
còn gọi chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS). Hệ thống IPSAS được ban hành
nhằm giúp cho sự hoà hợp giữa kế toán quốc gia và kế toán quốc tế, nhằm tăng
cường chất lượng của báo cáo tài chính, tạo sự thống nhất và khả năng so sánh được
thông tin tài chính giữa các quốc gia. Chuẩn mực kế toán công quốc tế được ban
hành trên cơ sở kế toán tiền mặt và kế toán dồn tích, gồm 33 IPSAS, trong đó 1
IPSAS 2: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Chuẩn mực này yêu cầu tất cả các đơn vị thuộc lĩnh vực công phải lập báo cáo
lưu chuyển tiền tệ nhằm xác định các nguồn của những luồng tiền vào, những khoản
mục chi bằng tiền trong kỳ kế toán và số dư tiền tại ngày kết thúc kỳ kế toán. Báo
cáo lưu chuyển tiền tệ phải thể hiện được sự vận động các luồng tiền trong kỳ phân
loại theo hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính. Chuẩn mực
16
còn đưa ra các hướng dẫn lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo hai phương pháp: trực
tiếp và gián tiếp.
IPSAS 3: Thặng dư hoặc thâm hụt thuần trong kỳ, các sai sót cơ bản và
những thay đổi trong kế toán
Chuẩn mực số 3 đưa ra cách phân loại những khoản mục nhất định trong báo
cáo tài chính. Những nguyên tắc trình bày thặng dư/ thâm hụt từ các hoạt động thông
thường, cách trình bày riêng rẽ các khoản mục bất thường trong báo cáo tài chính,
cách điều chỉnh trên báo cáo do những thay đổi trong ước tính kế toán, các sai sót cơ
bản và những thay đổi trong việc áp dụng chính sách kế toán.
IPSAS 4: Ảnh hưởng của sự thay đổi tỷ giá hối đoái
Chuẩn mực này hướng dẫn cách ghi nhận các sự kiện liên quan đến đồng tiền
khác với đồng tiền báo cáo gồm: Sự ghi nhận ban đầu những giao dịch liên quan đến
ngoại tệ, cách báo cáo các khoản mục tiền tệ và phi tiền tệ có gốc ngoại tệ sau ngày
kết thúc kỳ báo cáo, hướng dẫn ghi nhận các giao dịch có sự chênh lệch tỷ giá hối
đoái, cách chuyển đổi báo cáo tài chính của đơn vị đầu tư ở nước ngoài.
IPSAS 5: Chi phí đi vay
IPSAS 5 quy định phương pháp hạch toán kế toán đối với chi phí đi vay,
hướng dẫn việc vốn hoá chi phí đi vay đối với những chi phí trực tiếp liên quan đến
việc mua, xây dựng, hoặc sản xuất các tài sản dở dang.
IPSAS 6: Báo cáo tài chính hợp nhất và các khoản đầu tư vào đơn vị bị
kiểm soát
Chuẩn mực này quy định phương pháp kế toán hàng tồn kho theo nguyên tắc
giá gốc. Giá gốc hàng tồn kho được ghi nhận như một tài sản và được theo dõi cho
đến khi doanh thu liên quan được ghi nhận. IPSAS 12 đã cung cấp những hướng dẫn
cụ thể vê việc xác định giá gốc và sau đó ghi nhận nó là khoản chi phí khi hàng tồn
kho được bán, trao đổi hoặc phân phối. Chuẩn mực cũng hướng dẫn các phương
pháp được sử dụng để xác định giá gốc hàng tồn kho: Phương pháp đích danh,
phương pháp nhập trước – xuất trước và phương pháp bình quân gia quyền.
IPSAS 13: Thuê tài sản
IPSAS 13 quy định chính sách kế toán và trình bày thông tin về kế toán phù
hợp đối với bên thuê và bên cho thuê tài sản về thuê tài chính và thuê hoạt động.
18
IPSAS 14: Các sự kiện phát sinh sau ngày báo cáo
Các sự kiện sau ngày BCTC là: sự kiện có thể có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu
cực đến BCTC phát sinh trong khoản thời gian từ sau ngày báo cáo đến ngày phát
sinh báo cáo. Chuẩn mực này quy định: Khi nào một đơn vị phải điều chỉnh BCTC
của mình vì các sự kiện phát sinh sau ngày báo cáo và các giải trình về ngày phát
hành BCTC. Theo chuẩn mực này, đơn vị không được lập BCTC trên cơ sở hoạt
động liên tục nếu các sự kiện phát sinh sau ngày báo cáo cho thấy giả thuyết hoạt
động liên tục là không phù hợp.
IPSAS 15: Công cụ tài chính: Thuyết minh và trình bày
Chuẩn mực này giúp người sử dụng BCTC hiểu rõ hơn tầm quan trọng của
các công cụ tài chính ngoài bảng và trong bảng Cân đối kế toán đối với tình hình tài
chính, tình hình hoạt động và lưu chuyển tiền tệ của Nhà nước hoặc của đơn vị công
khác.
Chuẩn mực miêu tả các yêu cầu nhất định đối với việc trình bày các công cụ
tài chính trong bảng báo cáo tình hình tài chính và nhận diện thông tin cần phải được
giải trình của công cụ tài chính ngoài bảng (không được ghi nhận) và trong bảng
(được ghi nhận). Về trình bày, chuẩn mực đề cập việc phân loại công cụ tài chính
dụng hiểu được về bản chất, thời gian xác định và số tiền của các khoản mục đó.
IPSAS 28: Công cụ tài chính, trình bày
IPSAS 28 sẽ được áp dụng thay cho chuẩn mực 15 “công cụ tài chính, thuyết
minh và trình bày” từ ngày 01/01/2013. Chuẩn mực hướng dẫn các nguyên tắc trình
bày công cụ tài chính, còn thuyết minh trình bày ở chuẩn mực khác.
IPSAS 30: Tài sản cố định vô hình
Chuẩn mực này quy định những thủ tục kế toán đối với tài sản cố định vô
hình, chỉ khi tài sản đáp ứng được các điều kiện của chuẩn mực mới được ghi nhận là
tài sản cố định vô hình. Chuẩn mực cũng quy định cách đo lường giá trị và công bố
thông tin về tài sản cố định vô hình.
2.1.4 Đặc tính chất lượng thông tin kế toán (TTKT) trình bày trên BCTC
2.1.4.1 Chất lượng thông tin
Thông tin là những gì con người thu nhận được từ dữ liệu (có thể là những sự
kiện, những con số) và xử lý dữ liệu nhằm tạo ra sự hiểu biết, tạo ra các tri thức và
20
những nhận thức tốt hơn về tự nhiên và xã hội. Nói cách khác, thông tin là những dữ
liệu sẽ được xử lý, đối chiếu và trở nên hữu ích đối với người sử dụng để phục vụ
cho việc ra quyết định (Wang and Strong, 1996)
Chất lượng thông tin là thước đo giá trị mà các thông tin cung cấp cho người
sử dụng thông tin đó. Chất lượng thường bị coi là chủ quan và chất lượng thông tin
sau đó có thể khác nhau giữa người sử dụng và giữa các ứng dụng của thông tin. Do
vậy, có rất nhiều quan điểm và tiêu chuẩn khác nhau về chất lượng thông tin, chẳng
hạn theo nghiên cứu của Wang and Strong (1996) thì chất lượng thông tin là thông
tin đảm bảo theo bốn tiêu chuẩn: (1) Bản chất bên trong của thông tin (Intrisic IQ)
gồm bốn đặc tính cơ bản nhất của chất lượng thông tin như: tính chính xác, tính đầy
đủ, tính khách quan và sự tin cậy của nguồn dữ liệu tạo ra thông tin; (2) Có thể truy
cập được của thông tin (Accessibility IQ) nhấn mạnh tới tính có thể dễ truy cập được
thông tin và bảo mật được thông tin đó; (3) Bối cảnh của thông tin (Contextual IQ)
Đặc tính chất
lượng thông tin
Số lần
xuất hiện
trong các
nghiên
cứu
1
Chính xác
(Accuracy)
8
2
Nhất quán
(Consistency)
7
3
4
5
6
7
Thông tin được trình bày trong cùng một
cách thức trình bày và phù hợp với các dữ
liệu trước
Các truy cập thông tin được giới hạn phù
hợp để duy trì an ninh
Thông tin được truy cập liên tục cho mục
tiêu đang sử dụng.
Thông tin được trình bày không bị bỏ sót, đủ
rộng và chiều sâu cho mục tiêu đang sử
dụng.
Thông tin được trình bày súc tích, rõ ràng và
đầy đủ.
Thông tin được trình bày là chính xác và
đáng tin cậy.
Thông tin được trình bày đã sẵn sàng, hoặc
việc truy cập thông tin là dễ dàng và nhanh
chóng.
22
Sẵn sàng
(Availability)
Khách quan
10
(Objectivity)
Thích hợp
11
(Relevancy)
Có thể dùng được
12
4
4
5
3
3
3
Thông tin có thể truy cập được.
Thông tin được trình bày là trung lập, không
bị thiên vị hay theo ý kiến chủ quan.
Thông tin được trình bày là hữu dụng, phù
hợp với mục tiêu sử dụng.
Thông tin được trình bày rõ ràng và dễ sử
dụng
Thông tin được trình bày rõ ràng, không có
sự mơ hồ.
Thông tin được cung cấp từ số lượng dữ liệu
sẵn sàng và phù hợp với mục tiêu sử dụng.
Thông tin được trình bày đúng sự thật và
đáng tin cậy.
Thông tin được tìm thấy dễ dàng.
Thông tin được tìm kiếm dễ dàng từ các
nguồn dữ liệu.
Nội dung thông tin trình bày hữu ích và có
3
thể sử dụng cho các mục tiêu sử dụng.
Thông tin được tạo ra có thể đáp ứng nhanh
3
chóng cho các mục tiêu sử dụng.
quá khứ, hiện tại (tính xác nhận), tương lai (tính dự đoán) hoặc xác nhận hay
điều chỉnh các đánh giá trước đây. Tính thích hợp chịu ảnh hưởng của nội
dung và tính trọng yếu thông tin.
-
Đáng tin cậy: Đáng tin cậy là đặc điểm chất lượng yêu cầu:
✓ Phản ánh trung thực các sự kiện hay nghiệp vụ cần trình bày.
✓ Thông tin cần xem trọng nội dung hơn là hình thức, nghĩa là phải trình bày
phù hợp với bản chất kinh tế chứ không chỉ căn cứ vào hình thức pháp lý.
✓ Thông tin phải trung lập, khách quan.
✓ Thận trọng. Khi thực hiện một sự xét đoán hay ước tính trong điều kiện
chưa rõ ràng phải đảm bảo sao cho tài sản và thu nhập không bị thổi
phồng, nợ phải trả không bị giấu bớt.
✓ Thông tin phải đầy đủ trong phạm vi của trọng yếu và chi phí. Một sự bỏ
sót có thể làm thông tin bị hiểu lầm hay sai lệch và do đó sẽ ảnh hưởng
đến tính đáng tin cậy.
24
-
Có thể so sánh được: Muốn thông tin so sánh được cần sử dụng nhất quán
phương pháp và thủ tục kế toán qua các kỳ. Việc thuyết minh là cần thiết
trong trường hợp doanh nghiệp thay đổi chính sách kế toán hoặc theo yêu cầu
của chuẩn mực.
IASB cũng đưa ra các hạn chế liên quan đến các đặc tính chất lượng thông
tin, bao gồm:
-
-
Đáng tin cậy: Thông tin kế toán đáng tin cậy là thông tin trình bày trung thực,
không có sai sót hoặc thiên lệch và trong phạm vi có khả năng kiểm chứng.
25
✓ Trình bày trung thực: Việc đánh giá để tạo thông tin và việc diễn đạt
thông tin kế toán phải phù hợp với nghiệp vụ hoặc sự kiện muốn trình bày.
✓ Có thể kiểm chứng: Có thể kiểm chứng là khả năng đồng thuận giữa
những người đánh giá có đủ năng lực và độc lập để đảm bảo thông tin tài
chính phù hợp với nghiệp vụ hoặc sự kiện muốn trình bày hoặc phương
pháp đánh giá tạo thông tin không sai sót hoặc thiên lệch.
✓ Trung lập hay khách quan: Yêu cầu thông tin phải khách quan, không
được thiên lệch để tạo ra một kết quả đã định trước hay chịu ảnh hưởng
của một tác động cá biệt nào đó nhằm tô vẽ hình ảnh thông tin để tác động
lên quyết định theo một hướng đặc biệt nào đó.
-
Khả năng so sánh được và nhất quán
✓ So sánh được: So sánh được là yêu cầu thông tin giúp người sử dụng có
thể nhận thấy sự khác biệt và tương tự giữa hai hiện tượng kinh tế. Các
hiện tượng giống nhau phải được phản ánh giống nhau; các hiện tượng
khác nhau phải được phản ánh khác nhau.
✓ Nhất quán: đòi hỏi sự thống nhất giữa các kỳ báo cáo thông qua việc
không thay đổi thủ tục và chính sách kế toán. Khi cần áp dụng phương
pháp kế toán mới, để đảm bảo khả năng so sánh được thì thông tin cần có
thêm phần thuyết minh giải trình thích hợp.
Các đặc điểm chất lượng trong nhiều tình huống không thể thực hiện đầy đủ.