LUẬN VĂN NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ GIAI ĐOẠN HIỆN NAYTHỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP - Pdf 39

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong những năm qua, đường lối đổi mới và xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa đã mang lại cho đất nước những biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã
hội. Kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, thu nhập bình quân của người lao động ngày càng tăng
cao, đời sống kinh tế và xã hội của nhân dân có sự cải thiện rõ rệt.
Bên cạnh những thành công đó, nước ta nói chung huyện Cờ Đỏ nói riêng đang
phải đối mặt với những khó khăn như số đông dân cư sống ở khu vực nông thôn, nông
thôn nước ta vẫn còn nghèo, nông dân vẫn còn khổ và nông nghiệp vẫn còn chịu nhiều rủi
ro, tình trạng thất nghiệp, thiếu công ăn việc làm của người lao động còn khá phổ biến,
khoảng cách thu nhập của người lao động, giữa các vùng vẫn còn chưa được thu hẹp, tình
trạng đói nghèo và tái nghèo vẫn chưa được giải quyết một cách bền vững, phân hóa xã
hội ngày càng phức tạp … đang là những nguyên nhân làm tăng đối tượng xã hội đó là
người già cô đơn, người lang thang, người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
các tệ nạn xã hội xuất hiện. Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ
trương, chính sách để giải quyết những khó khăn trên, song đây vẫn là vấn đề phức tạp,
trong đó an sinh xã hội đối với nông dân vẫn là một vấn đề bức xúc, do người nông dân
có thu nhập thấp, đời sống hiện tại rất khó khắn nên họ dễ bị tổn thương khi có những
biến đổi trong cuộc sống như ốm đau, bệnh tật, thiên tai bão lụt xảy ra, v.v…. Hậu quả là
họ lại lâm vào cảnh đói nghèo. Chính vì vậy, ngay từ thời xa xưa có truyền thống tình
làng nghĩa xóm sâu bền, đã hình thành một cách tự nhiên các hình thức an sinh xã hội
truyền thống “tình làng nghĩa xóm”, “có nhau khi tắt lửa, tối đèn” “trẻ cậy cha, già cậy
con”… vốn là truyền thống văn hóa cũng đồng thời là hình thức thực hiện an sinh xã hội
trong nông thôn hàng ngàn đời nay ở nước ta.
Bắt nhịp cùng nền kinh tế đất nước, huyện Cờ Đỏ thành phố Cần Thơ cũng đang
trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Do
vậy, nhận thức về an sinh xã hội nói chung và an sinh xã hội đối với nông dân nói riêng
chưa đầy đủ nhận thức về vai trò của những người làm công tác xã hội chưa được Nhà

1

Đảng và Nhà nước ta về an sinh xã hội đối với nông dân.

2


Hai là, phân tích đánh giá đúng thực trạng về việc thực hiện chính sách an sinh xã
hội đối với nông dân ở huyện Cờ Đỏ Thành Phố Cần Thơ những năm qua.
Ba là, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính
sách an sinh xã hội đối với nông dân ở huyện Cờ Đỏ thành phố Cần Thơ trong những năm
tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: của đề tài là vấn đề thực hiện chính sách an sinh xã hội đối
với nông dân.
Phạm vi nghiên cứu: của đề tài là vấn đề thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với
nông dân ở huyện Cờ Đỏ thành phố Cần Thơ giai đoạn hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả đã sự dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp,
logic và lịch sử, gắn lý luận với thực tiễn và điều tra xã hội để thực hiện mục tiêu và
nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, Phần kết luận và anh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương, 9 tiết.

3


CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ AN SINH XÃ HỘI VÀ CHÍNH
SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN
1.1. Khái niệm, chức năng, vai trò an sinh xã hội
1.1.1 Khái niệm về an sinh xã hội

Vậy an sinh xã hội là gì?
“An sinh” là một từ Hán –Việt an – trong chử “An Toàn”, sinh – trong chữ “sinh
sống”, an sinh có thể hiểu là “an toàn sinh sống”. Nói một cách khái lược: xã hội là xã
hội mà mọi người được an toàn sinh sống, hay là có cuộc sống an toàn. Theo tiếng Anh
“an sinh xã hội” thường được gọi là Social Security và khi dịch ra Tiếng việt, ngoài
nghĩa an sinh xã hội thuật này còn được dịch là bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội, an ninh
xã hội, an toàn xã hội … Nói ngắn gọn, an sinh xã hội là một tấm lưới che chắn, bảo đảm
an toàn cho xã hội và con người, là nhân tố bảo đảm cho việc phát triển kinh tế- xã hội
bền vững. Mặc dù nội dung điều hiểu như nhau, thuật ngữ “an sinh xã hội” ở mỗi nước
lại được sử dụng thành những từ khác nhau. Do được dịch từ nhiều ngôn ngữ khác nhau
(tiếng Anh: Social Security; tiếng pháp: Securite Sociale ) nên tài liệu dùng tên gọi là:
Bảo đảm xã hội, an toàn xã hội bảo trở xã hội hoặc an sinh xã hội theo nghĩa chung nhất
của Social security là sự đảm bảo thực hiện các quyền của con người được sống trong hòa
bình, được tự do làm ăn cư trú, di truyền, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ pháp luật;
được bảo vệ và bình đẳng trước pháp luật; được học tập, được có việc làm, có nhà ở;
khgđược đảm bảo nhu cầu để thỏa mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro,
tai nạn, tuổi già… Theo nghĩa này thì tầm “bao” của Social Security rất lớn và vì vậy khi
dịch sang tiếng việt có nghĩa như trên cũng là điều dễ hiểu. Theo nghĩa hẹp, Social
Security được hiểu là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện sinh sống thiết yếu khác
cho người lao động và gia đình họ khi bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất
khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cả cô đơn, trẻ mồ côi, người
tàn tật, những người nghèo đói và những người bị thiên tai, địch họạ [8. tr5]
Hệ thống an sinh xã hội được hình thành và phát triển rất đa dạng dưới nhiều hình
thức khác nhau ở từng quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử, trong đó bảo hiểm y tế là trụ
cột chính. Đạo luật đầu tiên về an sinh xã hội Social security trên thế giới là đạo luật năm
1935 ở Mỹ, đạo luật này quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ tử tuất, tàn tật
trở cấp thất nghiệp. Thuật ngữ an sinh xã hội được chính thức sự dụng, đến năm 1938,
khái niệm an sinh xã hội xuất hiện trong một đạo luật của New Zealand, nhưng có thêm
5


xã hội trích từ thế và các nhà tài trợ và chính sách thị trường lao động; tạo cơ hội việc
6


làm, hình thành nguồn nhân lực, phát triển kỷ năng nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm
(thông tin, giới thiệu việc làm, đào tạo lại; hỗ trợ việc làm)
Theo ngân hàng Thế Giới (WB) đề cập đến ba vấn đề:
- Giảm thiểu các tác động của xã hội tới người nghèo tới quá trình cải cách, đổi mới
thông báo rộng rãi những thay đổi về chính sách để nông dân thay đổi hoạt động sản xuất
kinh doanh bảo đảm an toàn việc làm, thực hiện chế độ thất nghiệp, đào tạo lại lao động
dư, cải thiện điều kiện việc làm.
- Xây dựng giải pháp trợ giúp xã hội đột xuất hữu hiệu đối với người nghèo, người
dễ bị tổn thương khi gặp thiên tai, tai nạn mở rộng hệ thống an sinh xã hội chính thức
(bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế …) và khuyết khích phát triển mạng lưới an sinh xã hội
tự nguyện.
- Củng cố vai trò công đoàn các cấp để bảo vệ quyền lợi và điều kiện làm việc của
công nhân trong nền kinh tế thị trường. [1, tr17]
An sinh xã hội là những biện pháp công cộng nhằm giúp cá nhân, hộ gia đình và
cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tinh
dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập [8 tr 3]. Hiệp hội an sinh quốc tế (ISSA) coi
an sinh xã hội là thành tố của hệ thống chính sách xã hội liên quan đến sự bảo đảm an
toàn cho tất cả các thành viên xã hội chứ công chỉ có công nhân. Những vấn đề mà ISSA
quan tâm nhiều trong hệ thống an sinh xã hội là chăm sóc sức khỏe thông qua bảo hiểm y
tế; hệ thống bảo hiểm y tế, chăm sóc tuổi già, phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, bảo trợ xã hội [8, Tr3].
Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam tập 1 cũng đã đưa ra khái niệm về an sinh xã
hội (Social Security) là: “Sự bảo vệ của xã hội đối với công dân thông qua biện pháp
cộng đồng nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội; đồng thời bảo
đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho gia đình đông con…”[25, tr2]
Theo PGS TS Đỗ Minh Cương thì an sinh xã hội (bảo đảm xã hội)… Là sự bảo vệ

bảo hiểm y tế và hỗ trợ xã hội, xoá đóa giảm nghèo và hỗ trợ đặc biệt”
Trong bài “đảm bảo ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội là nội
dung chủ yếu của chiến lược phát triển kinh tế -xã hội 2011-2020” Thủ tướng Nguyễn
Tấn Dũng khẳng định “an sinh xã hội và phúc lợi xã hội là hệ thống các chính sách và
giải pháp nhằm bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động
bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa góp phần không ngừng nâng cao đời

8


sống vật chất và tinh thần cho nhân dân” Đây là một trong những quan niệm đầy đủ toàn
diện, phản ánh được mục đích, bản chất đối tượng, phương thức thực hiện an sinh xã hội.
Một cách khái quát nhất, an sinh xã hội là một hệ thống chính sách và giải pháp nhằm
bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những bất động bất thường về kinh tế, xã
hội và môi trường. Như vậy, có thể thấy rằng, an sinh xã hội là một lĩnh vực rộng lớn,
phức tạp khó có thể đưa ra một định nghĩa đáp ứng tất cả nội dung trong điều kiện kinh tế
- xã hội, chính trị, truyền thống dân tộc, tôn giáo ở mỗi nước khác nhau hoặc trong các
giai đoạn lịch sử ở từng nước. Dựa trên cơ sở những quan điểm của các nhà nguyên cứu
trên, chúng ta có thể hiểu an sinh xã hội là sự bảo vệ trợ giúp của nhà nước và cộng động
với những người “yếu thế” trong xã hội bằng các biện pháp khác nhau nhằm hỗ trợ cho
các đối tượng khi họ bị suy giảm khả năng lao động, giảm sút thu nhập hoặc là bị rủi ro,
bất hạnh. hoặc là trong tình trạng đói nghèo, là ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp, thất nghiệp, mất sức lao động, già yếu… động viên khuyết khích tự lực
vươn lên giải quyết vấn đề của chính họ.
1.1.2 Chức năng của an sinh xã hội
Thuật ngữ rủi ro bắt nguồn từ chữ “risco” hoặc “rischio” nghĩa là mối đe dọa và
liên quan đến chữ “risecare” để chỉ sự mạo hiểm, liều lĩnh. Theo thuật ngữ hiện đại, rủi ro
là đối mặt với thiệt hại, mất mát thương vong do những thay đổi tiêu cực là kết quả có thể
là một sự kiện trong tương lai.
Theo giáo sư Han Juergen Roesner, Trường đại học Clogne của Cộng Đồng Liên


trường
phá rừng,
Rủi ro về sức Bệnh tật, ốm đau,
khỏe

mất sức lao động

sinh đẻ,
Rủi ro vòng Sinh đẻ, già chết
đời
Rủi ro kinh tế

Rủi ro xã hội

Thất nghiệp
Mất mùa
Phá sản
Tội phạm
Bạo lực gia đình

Thay đổi địa điểm

Khủng

hoảng

cán

cân thanh toán.

chương trình chính
sách.
Đảo chính

10


Nguồn: chính sách an sinh xã hội và quá trình toàn cầu hóa, Nxb chính trị quốc gia.
Như vậy, trong bảy loai rủi ro xảy ra đối với con người có thể nhìn thấy được có
loại không thể dự đoán được có loại chắc xảy ra, có loại có thể xảy ra. Vì thế mọi người
điều có thể có nguy cơ phải đối mặt với rủi ro khi rủi ro xảy ra, những người bị tác động
phải đối mặt cho dù rủi ro xảy ra ở mức độ nhỏ hay trung bình hay lớn người nông dân
phải đối mặt với tình trạng khó khắn về kinh tế. Tình cảnh càng trở nên nặng nề với người
nông dân bởi khả năng tích lũy của họ nhiều, do đó nếu không có mạng lưới trợ giúp từ
gia đình, cộng đồng và xã hội thì người nông dân phải đối mặt với những khó khắn khi tái
hòa nhập vào cộng đồng xã hội.
Để hạn chế những rủi ro phải có các biện pháp phòng ngừa cần phải được áp dụng
trước khi rủi ro xảy ra. Theo một chương trình logic càng hạn chế được khả năng xảy ra
rủi ro hay là những sự kiện bất lợi khác, thì bù lại, càng tăng cơ hội thu nhập, cả hai yếu

11


tố này sẽ góp phần cải thiện và nâng cao điều kiện sống.các chiến lược phòng ngừa rủi ro
có phạm vi áp dụng rộng hơn rất nhiều so với khuôn khổ truyền thống.
Một cách khái quát, an sinh xã hội có chức năng: phòng ngừa rủi ro, làm giảm tác
động của rủi ro khắc phục rủi ro.
Về cơ bản các chức năng cụ thể của an sinh xã hội là:
- Đảm bảo duy trì thu nhập ở mức tối thiểu liên tục để đảm bảo đời sống cho các
công dân trong xã hội. Đây là chức năng cơ bản nhất vì thể hiện rõ nhất bản chất mục

hài hòa giữa các vùng các tầng lớp dân cư, giúp thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, làm
giảm sự bất bình đẳng trong xã hội.
- An sinh xã hội vừa là nhân tố ổn định vừa là động lực cho sự phát triển.
An sinh xã hội có vai trò quan trọng trong phòng ngừa, đối phó, hạn chế tác động
rủi ro, tạo thành mạng lưới che chắn, bảo vệ, giúp ổn định cuộc sống cho các thành viên
trong xã hội thông qua các chính sách, giải pháp công cộng, các quỹ dự phòng… Nhờ đó,
những người có hoàn cảnh éo le, không may gặp phải nhũng rủi ro trong cuộc sống được
đảm bảo những điều kiện sống tối thiểu, tránh rơi vào cảnh bần cùng hóa, giảm nguy cơ
rơi vào con đường tệ nạn xã hội và những tiêu cực xã hội khác, góp phần ổn định an ninh
chính trị, xã hội là nhân tố quan trọng trong việc ổn định kinh tế, chính trị, xã hội của đất
nước.
An sinh xã hội là động cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nhất là quỹ và
diện bảo vệ của nó ngày càng tăng được mở rộng. An sinh xã hội giúp đảm bảo đời sống
cho người lao động, giúp họ yên tâm công tác, làm tăng năng suất lao động, thúc đẩy kinh
tế phát triển, an sinh xã hội tốt góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định vì
trên thực tế các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước không chỉ chú ý đến các yếu tố kinh
tế mà còn chú ý đến các yếu tố xã hội. Một xã hội ổn định giúp các nhà đầu tư yên tâm
đầu tư lâu dài, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Ngược lại, xã hội
mất ổn định dẫn đến việc đầu tư ngắn hạn chỉ tính đến lợi nhuận trước mắt, làm cho kinh
tế tăng trưởng không bền vững. Bên cạnh đó bản thân sự phát triển của hệ thống an sinh
xã hội góp phần thực hành tiết kiệm, tạo lập quỹ đầu tư; nhiều lĩnh vực, dịch vụ an sinh
xã hội “có thu” tạo nguồn tài chính cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
1.2. Chính sách của Đảng và Nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân trong giai
đoạn hiện nay
1.2.1 Chính sách của Đảng về an sinh xã hội đối với nông dân
13


An sinh xã hội đối với nông dân là một chủ trương chính sách lớn của Đảng và Nhà
nước ta, giữ vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội đã được nhấn mạnh trong


sách có ý nghĩa phúc lợi, ban ơn Báo cáo chính trị khẳng định “chính sách xã hội bao
trùm tất cả mọi mặt đời sống con người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục văn
hóa, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc… Cần thể hiện đầy đủ trong thực
tế quan điểm của Đảng và Nhà nước về sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính
sách xã hội, khắc phục thái độ coi nhẹ chính sách xã hội, tức là coi nhẹ yếu tố con người
và sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa” Tại nghi quyết đại hội lần thứ VI (1986) của
Đảng, lần đầu tiên chính sách xã hội được đặt đúng ví trí và tầm quan trọng của nó trong
chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Nghi quyết nêu rõ: “Chính sách xã hội
bao trùm mọi mặt cuộc sống của con người: điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và
văn hóa, quan hệ gia đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc. Coi nhẹ chính sách xã hội,
tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”[11;tr 252] Tại
đại hội VII, trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(1991) Đảng ta đã nhấn mạnh: “Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con người là
động lực phát huy tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội, phương hướng lớn là phát huy nhân tố con người trên cơ sở đảm bảo công bằng,
bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân, kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế xã hội; giữa
đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo
lợi ích lâu dài; giữa cá nhân và tập thể cộng đồng xã hội” [12; tr 251]
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (2 - 1991)
nhấn mạnh “chính sách xã hội là đảm bảo không ngừng nâng cao đời sống vật chất của
mọi thành viên trong xã hội về ăn ở đi lại, học tập nghi ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể
chất… có chính sách bảo trở và điều tiết hợp lý thu nhập giũa các bộ phận dân cư, các
nghành và các vùng” Cùng với thời gian và qua thực tiễn đất nước, nhận thức, quan điểm
và cơ chế chính sách an sinh xã hội trong hệ thống chính sách xã hội của Đảng ta hình
thành và ngày càng phát triển, hoàn thiện.
Nghi quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã khẳng định: “Nâng
cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố
quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước” [13, tr107] Thực tiễn đã chứng tỏ
xã hội hiện nay đang trong tình trạng mất hài hòa về mặt bản thể của mỗi cá nhân là chủ

và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo; cải thiện điều kiện
chăm sóc sức khỏe nhân dân”.
Đại hội XI tiếp tục làm rõ những quan điểm, định hướng, nội dung cụ thể cho từng
chính sách an sinh xã hội: “Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo
16


hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả
năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn
thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống”. Tăng tỷ lệ người lao động
tham gia các hình thức bảo hiểm. Đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ bảo hiểm xã hội, chuyển
các loại hình trợ giúp, cứu trợ sang cung cấp dịch vụ bảo trợ xã hội dựa vào cộng đồng.
Bảo đảm cho các đối tượng bảo trợ xã hội có cuộc sống ổn định, hòa nhập tốt hơn vào
cộng đồng, có cơ hội tiếp cận nguồn lực kinh tế, dịch vụ công thiết yếu. Thanh tra, kiểm
tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội, bảo đảm thực hiện đúng, đầy đủ
chế độ quy định đối với mọi đối tượng.
Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 nhấn mạnh: “Phát triển hệ thống an
sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả. Phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm
như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tiếp cận và tham gia
các loại hình bảo hiểm”.
Thực hiện tốt các chính sách ưu đại và không ngừng nâng cao mức sống đối với
người có công. Mở rộng các hình thức cứu trợ xã hội, nhất là đối với các đối tượng khó
khăn”. Nghị Quyết số15-NQ/TW của Ban chấp hành TW Đảng ngày 1/6/2012 đặt ra yêu
cầu “Chính sách xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng
bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong
từng thời kỳ ..”, đồng thời thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm mức sống tối
thiểu và hỗ trợ kịp thời người có hoàn cảnh khó khăn.
1.2.2 Chính sách Nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân hiện nay
Thứ nhất, yêu cầu an sinh xã hội đối với nông dân hiện nay

điều kiện thuận lọi cho họ thoát nghèo, từng bước vững chắc hòa nhập vào hệ thống bảo
hiểm y tế và bảo hiểm xã hội tự nguyện
Thứ hai, về bản chất của chính sách an sinh xã hội đối với nông dân.
Đảng và Nhà nước nhận thức rằng, hệ thống chính sách an sinh xã hội là tạo ra lưới
an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả các thành viên xã hội trong trường hợp bị giả
mất thu nhập hay gặp phải những rủi ro khác, nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa, hạn
chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống ổn định cho mỗi thành
viên trong xã hội. An sinh xã hội thực hiện một phần công bằng và tiến bộ xã hội. Trên
bình diện xã hội, an sinh xã hội là một công cụ để cải thiện các điều kiện sống của các
tầng lớp dân cư, đặc biệt là đối với những người nghèo khó, những nhóm dân cư “yếu
18


thế” trong xã hội. Xét về bản chất kinh tế, thì an sinh xã hội là một bộ phận thu nhập quốc
dân, thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập xã hội, điều hòa lợi ích, góp sức vào tiết
kiệm để đầu tư và phát triển kinh tế đất nước. An sinh xã hội dựa trên nguyên tắc san sẻ
trách nhiệm và thực hiện công bằng xã hội, được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương
thức và các biện pháp khác nhau. An sinh xã hội tạo cho những người bất hạnh, những
người kém may mắn hơn những người bình thường khác có thêm những điều kiện, những
động lực cần thiết để khắc phục những biến cố, những rủi ro xã hội, có cơ hội để phát
triển, hoà nhập vào cộng đồng; kích thích tính tích cực xã hội trong mỗi con người, kể cả
những người giàu và người nghèo; người may mắn và người kém may mắn; là yếu tố tạo
nên sự hòa đồng mọi người không phân biệt chính kiến, tôn giáo, chủng tộc, vị trí xã
hội… đồng thời, giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, góp phần tạo nên một
cuộc sống công bằng, nhân văn.
Thứ ba, vai trò của chính sách an sinh xã hội đối với nông dân.
Đảng, Nhà nước xác định rõ vai trò cơ bản của hệ thống chính sách an sinh xã hội ở
nước ta:
Một là, bảo đảm, luôn duy trì và hướng tới sự an toàn của các thành viên trong xã
hội nói chung và người nông dân nói riêng. Đây là vai trò nhằm phát huy hết mọi tiềm

cũng được hưởng những ưu đãi từ chính sách an sinh xã hội của Đảng, Nhà nước.
Dân cư nông thôn, nhất là vùng khó khăn, vùng dân tộc, miền núi là những đối tượng
phải đối mặt với nhiều rủi ro trong cuộc sống. Bản thân họ không thể tự chống đỡ với
những rủi ro này. Vì vậy, phát triển hệ thống an sinh xã hội nông thôn cần phải dựa trên
những nguyên tắc cơ bản và thiết yếu là phổ cập, bảo đảm cho mọi người dân đều có
quyền tham gia và hưởng lợi, chia sẻ, công bằng xã hội và nâng cao trách nhiệm cá nhân.
Nhìn chung, cư dân nông thôn là một đối tượng yếu thế, không chỉ ở đời sống vật
chất, tinh thần của nông dân hiện nay còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, nghèo túng và bởi
những hạn chế, khuyết điểm trong công tác thực hiện chính sách của các cấp chính quyền,
mà họ còn là những người đã từng tham gia cống hiến và hy sinh to lớn cho công cuộc
dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Họ đã và đang phải gánh chịu những hậu quả mà
chiến tranh để lại, không chỉ thế có những gia đình mà thế hệ con cháu của họ cũng đang
phải chịu di chứng tàn ác của chiến tranh, dù nó đã kết thúc mấy chục năm, thực sự những
khó khăn đó còn dai dẳng và nặng nề. Vì thế, chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà
nước, hơn ai hết cần ưu tiên hướng tới. Không ai khác, người nông dân chính là người
chủ và là người được hưởng lợi trực tiếp từ những thành quả mà quá trình công nghiệp
20


hóa, đô thị hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Những rủi ro đối với người nông
dân từ tự nhiên và xã hội còn rất nhiều và mỗi người nông dân đều đã và đang cố gắng để
vượt qua những khó khăn đó. Vì thế, không thể để nông dân lại trở thành những nạn nhân
của rủi ro từ những chính sách xã hội.
Thứ tư, hệ thống chính sách an sinh xã hội đối với nông dân hiện nay
Hiện nay, hệ thống an sinh xã hội đối với nông dân ở nước ta gồm: Bảo hiểm y tế tự
nguyện, Bảo hiểm xã hội tự nguyện, Trợ giúp xã hội, Xóa đói giảm nghèo, Cung ứng dịch
vụ xã hội cơ bản.
Bảo hiểm y tế tự nguyện
Con người ai cũng muốn sống khỏe mạnh, ấm no hạnh phúc, nhưng trong đời người
những rủi ro bất ngờ về sức khỏe như ốm đau, bệnh tật, luôn có thể xảy ra.Các chi phí

phí lớn. Cũng giống như bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm y tế tự nguyện loại trừ thanh
toán cho các trường hợp như: tự tử, chết do say rượu, dùng chất ma túy, vi phạm pháp
luật, bệnh lây qua đường tình dục, bệnh xã hội.
- Nhà nước đã có ngân sách chữa bệnh tâm thần, lao, phong, AIDS… , điều dưỡng,
an dưỡng bệnh bẩm sinh, dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, tai nạn lao động tai nạn giao
thông,chiến tranh, thiên tai.
- Ngoài những quyền lợi giống như người tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc, người
tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện được hưởng thêm các dịch vụ y tế đặc biệt như tạo hình
thẩm mỹ, phục hồi chức năng, làm chân tay giả, răng giả…
Tóm lại, Nhà nước thực hiện không vì mục đích lợi nhuận. Người nông dân tự
nguyện tham gia để được chăm sóc sức khỏe khi đau ốm, bệnh tật từ quỹ bảo hiểm y tế.
Với hình thức này, người tham gia mua bảo hiểm y tế tự chi trả kinh phí mà không có sự
trợ giúp từ bên ngoài.
Bảo hiểm xã hội tự nguyện cho nông dân
Theo quan niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) bảo hiểm xã hội là hình thức
bảo trợ mà xã hội dành cho các thành viên của mình thông qua các biện pháp công bằng
nhằm tránh tình trạng khốn khó về kinh tế xã hội do bị mất hoặc bị giảm thu nhập đáng kể
vì bị bệnh tật, tai nạn lao động, mất sức lao động và tử vọng; chăm sóc y tế và trợ cấp cho
gia đình có con nhỏ.
Theo Luật bảo hiểm xã hội Việt Nam năm 2006 ( có hiệu lực từ ngày 01-01-2007),
bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế cho bù đắp một phần thu nhập của người thai sản,

22


tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở
đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.
Theo điều 2 của điều lệ bảo hiểm Việt Nam,chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc gồm 5
vấn đề sau:
+ Chế độ trợ cấp ốm đau.

chính sách dựa vào nhu cầu của con người trước đây đã được thay thế bằng phương pháp
dựa vào quyền con người. Do vậy, cộng đồng quốc tế và các nhà hoạch định chính sách
cho rằng dùng thuật ngữ cứu trợ xã hội không còn phù hợp nữa và thay thế cụm từ này
bằng trợ giúp xã hội cho phù hợp hơn. Điều này thể hiện bằng việc Chính phủ ban hành
Nghị định số 07/2000/NĐ-CP; theo Nghị định số 67/2007/NĐ-CP việc trợ cấp xã hội bao
gồm hai nhóm trợ cấp thường xuyên và trợ cấp đột xuất.
Thứ nhất, trợ giúp thường xuyên đây là hình thức trợ giúp xã hội đối với những
người hoàn toàn không thể tự lo được cuộc sống trong thời gian dài (một hoặc nhiều năm)
hoặc trong suốt cả cuộc đời của đối tượng được cứu trợ. Đối tượng xã hội là một phạm trù
chung, chỉ những người không may gặp rủi ro, bất hạnh gặp khó khắn trong cuộc sống,
mà ta thường gọi là nhóm người thiệt thòi, yếu thế, người già cô đơn, trẻ em mồ côi,
người tàn tật, người lang thang xin ăn … Đối tượng của trợ giúp xã hội là những người
đặc biệt khó khắn, cần có sự giúp đỡ về vật chất và tinh thần từ Nhà nước, cộng đồng và
xã hội để bảo đảm cuộc sống, do đó không có sự phân biệt vị thế và thành phần xã hội đối
với họ. Các đối tượng trợ giúp thường xuyên được quy định bởi nghi định số
07/2000/NĐ-CP ngày 09-03-2000 của chính phủ bao gồm:
Trẻ em mồ côi là trẻ em dưới 16 tuổi, mồ côi lẫn cha lẫn mẹ hoặc bị bỏ rơi, bị mất
nguồn nuôi dưỡng hoặc không có người thân thích để nương tựa; trẻ em mồ côi cha hoặc
mẹ những người còn lại mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại điều 88 Bộ luật dân sự
hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của Pháp luật.
Người già cô đơn không có nơi nương tựa đối với nam là những người từ 60 tuổi trở lên
sống độc thân; còn đối với phụ nữ là những người từ 55 tuổi trở lên. Đây điều là những
người già còn vợ chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương
tựa, không có nguồn thu nhập và hiện đang được hưởng trợ cấp xã hội vẫn tiếp tục được
hưởng.
Người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập và không có nơi nương tựa; người tàn
tật nặng tuy có người thân thích nhưng họ già yếu hoặc già đình nghèo không đủ khả
năng kinh tế để chăm sóc.
24


sự quan tâm của xã hội. Tình trạng đói nghèo ảnh hưởng tiêu cực đến vấn đề kinh tế - xã
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status