Công tác xã hội đối với việc phát huy vai trò tích cực của nhóm cán bộ cao tuổi hưu trí tại câu lạc bộ thăng long hà nội - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

CAO THỊ HOÀNG VÂN

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT HUY
TÍNH TÍCH CỰC CỦA NHÓM CÁN BỘ CAO TUỔI
HƯU TRÍ TẠI CÂU LẠC BỘ THĂNG LONG ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

CAO THỊ HOÀNG VÂN - C00245

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT HUY
TÍNH TÍCH CỰC CỦA NHÓM CÁN BỘ CAO TUỔI
HƯU TRÍ TẠI CÂU LẠC BỘ THĂNG LONG ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH: CÔNG TÁC XÃ HỘI
MÃ SỐ : 60 90 01 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. TS Đặng Cảnh Khanh


Tác giả luận văn

Cao Thị Hoàng Vân

ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN...............................................................................................i
LỜI CẢM ƠN...................................................................................................ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT...................................................................v
CLB...................................................................................................................v
Câu lạc bộ..........................................................................................................v
CTXH................................................................................................................v
Công tác xã hội..................................................................................................v
NCT...................................................................................................................v
Người cao tuổi...................................................................................................v
DANH MỤC BẢNG........................................................................................vi
PHẦN MỞ ĐẦU...............................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài...........................................................................................1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu................................................................4
2.1. Mục đích.............................................................................................................................4
2.2. Nhiệm vụ............................................................................................................................4

3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu.......................................................................4
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn........................................................11
5. Đối tượng nghiên cứu..................................................................................12
6. Khách thể nghiên cứu..................................................................................12
7. Câu hỏi nghiên cứu......................................................................................12
8. Giả thuyết nghiên cứu.................................................................................12

90
3.3.1.1. Những nhu cầu chủ yếu của Hội viên CLB Thăng Long................................................90

3.3.2. Vận dụng công tác xã hội với người cao tuổi trong CLB Thăng Long.95
3.3.2.3. Thu thập dữ liệu.........................................................................................................97

KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ.......................................................................99
1.Kết luận........................................................................................................99
2.Kiến nghị....................................................................................................100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................102

iv


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CLB
CTXH
NCT

Câu lạc bộ
Công tác xã hội
Người cao tuổi

v


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Người cao tuổi Việt Nam qua các cuộc tổng điều tra.....................43
Bảng 2.2. Người cao tuổi - dự báo đến năm 2050 ở một số nước...................44

những sai lầm trong quá khứ thì thường than trách bản thân…trong khi đó họ
rất khó chia sẻ với con cháu hay những người thân.
Hơn nữa, bước vào giai đoạn cao tuổi đồng nghĩa là con người bước vào
giai đoạn nghỉ ngơi. Tuy nhiên chỉ có một số ít người cao tuổi có điều kiện
kinh tế khá giả: Cán bộ, viên chức nhà nước nghỉ hưu, sự hỗ trợ của con

1


cháu…Còn lại đa số người tuổi, nhất là những người neo đơn đều gặp phải
những khó khăn về kinh tế do sự suy giảm của thu nhập. Trong khi đó các
nhu cầu của người cao tuổi, nhất là khám chữa bệnh hay chế độ dinh dưỡng
đòi hỏi những chi phí nhất định.. (Bộ lao động thương binh và xã hội, 2012).
Trên thế giới, các mô hình trợ giúp người cao tuổi khá phổ biến, đặc biệt
ở các nước châu Âu. Tại các nước có nền kinh tế phát triển, khi dân số già đi
sẽ gia tăng nhu cầu về các dịch vụ chăm sóc cho người già và trung tâm
dưỡng lão đã trở thành nơi bầu bạn cùng chia sẻ và được chăm sóc y tế tốt
nhất. Điển như ở Phần Lan, chế độ phúc lợi và bảo hiểm xã hội ở đây rất tốt.
Trong nhà dưỡng lão này, tất cả mọi người đều được hưởng phúc lợi một cách
bình đẳng, bất kể họ đóng góp nhiều hay ít, họ sẽ được các nhân viên CTXH
chăm sóc chu đáo từ ăn uống, luyện tập đến việc chia sẻ, trò chuyện. Với một
số cụ không thể đóng góp chút nào, ngân sách thành phố sẽ bảo đảm toàn bộ
chi phí cho họ trong nhà dưỡng lão (Hồng Quang, Triệu Hà, Đoàn Hà, 2014).
Còn ở Việt Nam, tâm lý “Trẻ cậy cha, già cậy con” nên mô hình CTXH với
người cao tuổi vẫn chưa được quan tâm đúng mực.
Chính vì vậy, người cao tuổi nói chung và nhóm người cao tuổi về hưu
ngày càng trở thành một vấn đề cần quan tâm của xã hội, đặc biệt từ góc độ
chính sách và công tác xã hội nhằm có những biện pháp giúp đỡ.
Nhóm người cao tuổi, đặc biệt là cán bộ lão thành cách mạng và hưu trí có
nhiều thành tích đóng góp trong mọi lĩnh vực phát triển kinh tế- xã hội của đất

hóa đất nước. Tuy nhiên, CLB Thăng Long vẫn chưa đáp ứng hết được những
nhu cầu của những thành viên như mặt đời sống tinh thần, một số thành viên
chưa có tiếng nói trong CLB, vai trò của một số người chưa được phát huy…
Vì vậy, để hoàn thiện hơn các hoạt động cũng như đưa CLB trở thành một
trung tâm chuẩn đầu tiên điển hình về người cao tuổi ở Việt Nam cần có
những biện pháp can thiệp của CTXH.
Chính từ thực tế trên, chúng tôi lựa chọn chủ đề nghiên cứu “Công tác xã
hội đối với việc phát huy vai trò tích cực của nhóm cán bộ cao tuổi hưu trí
tại Câu lạc bộ Thăng Long Hà Nội”. Qua chủ đề nghiên cứu này, chúng tổi
muốn nghiên cứu thực trạng, đề xuất giải pháp phát huy vai trò người cao tuổi
qua các mô hình công tác xã hội không chỉ góp phần cải thiện, đem lại hiệu
quả cao hơn cho các mô hình công tác xã hội nói chung mà còn góp phần

3


nâng cao các hoạt động của ngành công tác xã hội hướng tới phát huy khả
năng lao động, cống hiến của nhóm cán bộ hưu trí cao tuổi, vì mục tiêu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích

Nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động công tác xã hội trong việc
phát huy tích cực vai trò tích cực của nhóm cán bộ hưu trí cao tuổi tại câu lạc
bộ Thăng Long từ đó đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nâng cao hiệu quả
của các mô hình công tác xã hội đối với người cao tuổi.
2.2. Nhiệm vụ

Thứ nhất, luận văn sử dụng các lý thuyết cơ bản của ngành công tác xã
hội, các lý thuyết liên ngành có liên quan, quan điểm Mác - Lê Nin, tư tưởng

nữ trong gia đình hoàn toàn khác nhau, sự an toàn của phụ nữ tuỳ thuộc vào
thiện ý của người cha, người chồng hay các con trai . Sau đó tác giả phân tích sự
tác động của công nghiệp hoá, đô thị hoá và di cư đến sự biến đổi gia đình, trong
đó có sự chăm sóc, trợ giúp người già. Ảnh hưởng đầu tiên là tỷ lệ những người
có thu nhập từ các xí nghiệp ngoài gia đình gây ra sự suy giảm quyền lực của
cha mẹ đối với thế hệ trẻ, đồng thời giảm khả năng sống cùng con cái của các
bậc cha mẹ. Thứ hai, công nghiệp hoá thu hút một số lượng lớn phụ nữ tham gia
vào lực lượng lao động, do đó làm giảm khả năng chăm sóc người già trong gia
đình và hình thành những hộ gia đình riêng biệt không sống chung cùng với các
bà mẹ chồng. Thứ ba, ảnh hưởng của học vấn làm giảm mức sinh, từ đó hạ thấp
số người chăm sóc gia đình- trong đó có chăm sóc người cao tuổi. Thêm vào đó,
quá trình di cư vào đô thị làm giảm các hộ gia đình nhiều thế hệ, bởi thế, sự
chăm sóc người cao tuổi cũng bị tác động đáng kể bởi sự vắng mặt của con cái.
Tuy nhiên, tác giả cũng đưa ra một nhận định là sự phát triển kinh tế mặc dù có
thể làm xãi mòn vai trò truyền thống của gia đình trong việc cung cấp sự chăm
sóc cho người già, nhưng nó cũng có thể mang yếu tố tích cực ở chỗ người già
có được sự độc lập hơn và phúc lợi toàn diện.
Công trình “Chăm sóc người cao tuổi ở Nhật Bản trong thế kỷ 21” của
Takako Sodei đăng trên Tạp chí Xã hội học số 3/2001 điểm lại hệ thống an sinh
xã hội trong chăm sóc người cao tuổi của nhà nước Nhật Bản trước đây và hiện
nay và mô tả những khó khăn mà nhiều người đang phải đối mặt trong việc chăm
sóc người cao tuổi tại nhà và xem những nguyên nhân gây ra khó khăn; giải thích

5


việc dự định thành lập một hệ thống mới gọi là hệ thống chăm sóc người cao tuổi
của Bộ Y tế và Phúc lợi Nhật Bản, dự đoán tương lai chăm sóc người cao tuổi tại
Nhật Bản. Nhìn chung những nguyên nhân ảnh hưởng tới việc chăm sóc người
cao tuổi ở Nhật Bản cũng giống như ở châu Á nói chung đã được Karen


Nam từ truyền thống đến hiện đại, ở các vùng miền khác nhau của nhiều tác
giả thuộc các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, do đó, nó đưa ra được cái nhìn
phong phú từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau như văn hoá, tâm lý học, y học,
xã hội học… Đa số các bài viết nhấn mạnh vai trò của người cao tuổi đối với
gia đình và xã hội, thực trạng người già ở nông thôn và đô thị, mối quan hệ
giữa người cao tuổi với thế hệ trẻ…
“Người cao tuổi Việt Nam- thực trạng và giải pháp” (1999) là tập hợp
các bài viết về người cao tuổi với những vấn đề như: phát huy vai trò người cao
tuổi trong sự nghiệp đổi mới, những vấn đề về chính sách xã hội đối với người
cao tuổi, tình trạng sức khoẻ hiện nay của người cao tuổi Việt Nam, các hoạt
động văn hoá- tinh thần của người cao tuổi, mối quan hệ giữa gia đình và người
cao tuổi và các tổ chức của người cao tuổi…
Bài viết “Chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi trong sự
nghiệp đổi mới” của thạc sỹ Nguyễn Thị Hằng đặt ra một vấn đề không chỉ đối
với người cao tuổi Việt Nam mà còn đối với người cao tuổi trên thế giới nói
chung, đó là trong khi tuổi thọ của con người ngày càng cao thì sẽ đặt ra yêu
cầu và nhiệm vụ mới trong việc chăm sóc và phát huy vai trò của người cao
tuổi. Tác giả đề cập đến vai trò to lớn của người cao tuổi Việt Nam hiện nay
trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước- lớp người tiêu biểu cho chân lý
“Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp
trong công tác chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi.
“Thực trạng về người cao tuổi và định hướng xây dựng chính sách
chăm sóc người cao tuổi” của TS. Nguyễn Hải Hữu đưa ra cái nhìn khái quát
về thực trạng sức khoẻ, đời sống vật chất, tinh thần và nguyện vọng của người
cao tuổi Việt Nam hiện nay. Trong đó nhấn mạnh nhu cầu được tham gia lao
động với rất nhiều ý nghĩa và mục đích khác nhau: lao động để nuôi sống bản
thân, để khuây khoả hay hỗ trợ thêm cho bản thân và gia đình… Thông qua
phân tích một số số liệu thu được từ các cuộc điều tra của Viện Khoa học lao
động, tác giả đưa ra một số nhận định như: điều kiện vật chất của người cao

nhóm tuổi trẻ hơn (60- 69), có trình độ học vấn cao, mức sống dư giả, trước
đây làm việc trong các tổ chức của nhà nước có xu hướng tham gia nhiều hơn
vào các tổ chức chính thức như Đảng, chính quyền,… Ngược lại, người cao
tuổi ở khu vực nông thôn, ở nhóm tuổi trên 70, trình độ học vấn thấp, mức sống
thấp, sức khoẻ kém tham gia ít hơn hoặc chủ yếu tham gia vào các hình thức tổ
chức phi chính thức như đám cưới hỏi, lễ giỗ…
8


Đặc biệt, bài viết “Cần có hình thức dịch vụ nào trong chính sách đối
với người cao tuổi” của Phạm Kiên Cường đưa ra quan điểm hạn chế đưa
người cao tuổi đến sống trong các nhà dưỡng lão, các trung tâm bảo trợ xã hội
theo phương châm xã hội hoá là một phương án lý tưởng vì nó vừa phù hợp với
đặc điểm tâm lý của người cao tuổi nước ta, đồng thời tiết kiệm được kinh phí
đầu tư xây dựng cơ sở nuôi dưỡng tập trung, bộ máy phục vụ các cụ và chi phí
hành chính khác.
Luận văn thạc sỹ “Thực trạng việc làm của người già đồng bằng sông
Hồng và các nhân tố tác động” (2001) của tác giả Nguyễn Thị Phương nêu lên
vấn đề nan giải của người già đồng bằng sông Hồng là phần lớn người già vẫn
còn tham gia lao động, thậm chí lao động nặng nhọc để kiếm ăn, nhưng thu nhập
rất thấp, không thể đảm bảo cho một mức sống được cho là bình thường. Thông
qua phân tích tài liệu thứ cấp, từ kết quả 2 cuộc nghiên cứu tại đồng bằng sông
Hồng, luận văn mô tả bức tranh về các hoạt động việc làm của người già và
những nguyên nhân dẫn tới việc người già vẫn còn lao động; phân tích các dạng
hoạt động của người cao tuổi trong lĩnh vực việc làm của họ, những lý do làm
việc của người cao tuổi, tìm hiểu những hoạt động của người cao tuổi nhằm mục
đích gì, từ hệ quả việc làm hằng ngày của người cao tuổi, tìm hiểu vai trò của
người cao tuổi trong gia đình. Trong các phân tích của mình, tác giả đưa ra nhận
định về cuộc sống của những người goá, đặc biệt là những phụ nữ goá (thực tế
phụ nữ goá cao hơn nam giới goá khi về già) thường bị chi phối bởi những yếu

muốn được nhà nước hỗ trợ về mặt chăm sóc sức khoẻ.
Cuốn sách “Người cao tuổi và các mô hình chăm sóc người cao tuổi
ở Việt Nam” của tác giả Đặng Vũ Cảnh Linh và các cộng sự là một công
trình nghiên cứu phối hợp giữa Ủy Ban Dân số, Gia đình và Trẻ trong giai
đoạn 2006-2007 và của Viện Nghiên cứu truyền thống và phát triển năm
2008-2009. Trong cuốn sách này nhóm đã đi khảo sát tìm ra một số quan
điểm, phải chăm sóc người cao tuổi coi họ là một nhóm cần được quan tâm từ
góc độ công tác xã hội bao gồm các hoạt động chăm sóc sức khoẻ, đời sống
vật chất và tinh thần cho nhóm người cao tuổi trong xã hội, đảm bảo cho họ
những quyền lợi cơ bản như quyền được nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, quyền
được tiếp cận các dịch vụ y tế, văn hóa xã hội, có môi trường sống tốt đẹp
trong gia đình và xã hội.
Nhìn chung đã có nhiều công trình nghiên cứu, sách, bài viết đã đề cập
đến nhiều vấn đề của người cao tuổi như vai trò của người cao tuổi đối với gia
10


đình và xã hội, hệ thống an sinh xã hội đối với người cao tuổi, sự tham gia các
hoạt động, tổ chức xã hội của họ… Trong số đó, đã có một số bài viết, nghiên
cứu ít nhiều đề cập gián tiếp tới vấn đề công tác xã hội đối với người cao tuổi,
tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu một cách hệ thống về công tác xã hội
đối với người cao tuổi, thông qua các mô hình thực tế như câu lạc bộ và từ đó
đưa ra những giải pháp can thiệp CTXH nhằm giúp đỡ, phát huy vai trò của
người cao tuổi.
4. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Luận văn tổng hợp khá đầy đủ và có tính hệ thống các công trình nghiên
cứu Việt Nam và thế giới về công tác xã hội đối với việc phát huy vai trò người
cao tuổi trong cộng đồng, mối quan hệ với lao động, cống hiến của người cao
tuổi trong từng lĩnh vực nói riêng, vận dụng các lý thuyết ngành công tác xã hội
và lý thuyết khoa học liên ngành, bước đầu xây dựng khung cơ sở lý luận cho

phương, nhóm quản lý câu lạc bộ, nhóm những người làm công tác xã hội đối
với người cao tuổi.
7. Câu hỏi nghiên cứu
Người cao tuổi là cán bộ hưu trí sinh hoạt tại câu lạc bộ Thăng Long
hiện nay đang có vai trò gì, đóng góp gì trong các hoạt động cộng đồng
Công tác xã hội đối với việc phát huy vai trò tích cực của cán bộ hưu trí
cao tuổi tại câu lạc bộ Thăng Long hiện nay đang được triển khai, thực hiện
như thế nào
Cần những giải pháp gì để nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác
xã hội đối với việc phát huy vai trò tích cực của cán bộ hưu trí cao tuổi tại câu
lạc bộ Thăng Long
8. Giả thuyết nghiên cứu
Vai trò cán bộ hưu trí cao tuổi biểu hiện qua hoạt động xã hội tiếp tục
lao động, cống hiến, hoạt động vui chơi giải trí, sinh hoạt cộng đồng, hoạt
động tuyên truyền, vận động tạo ra sự đồng thuận của nhân dânvới các chính
sách của Đảng, nhà nước là hiện tượng khá phổ biến của người cao tuổi tại
câu lạc bộ Thăng Long.
Hoạt động xã hội của cán bộ hưu trí cao tuổi là hoạt động có tổ chức,
phong phú, đa dạng theo nhiều lĩnh vực, nhiều cấp độ khác nhau, phụ thuộc vào
khả năng, điều kiện, mong muốn bản thân người cao tuổi, phụ thuộc vào mô
hình tổ chức, hoạt động của câu lạc bộ Thăng Long và đơn đặt hàng của xã hội.

12


Điểm mạnh và hạn chế trong hoạt động xã hội của cán bộ hưu trí cao
tuổi mang tính đặc thù về lứa tuổi, ngành nghề đào tạo, công việc chuyên môn
trước đây, năng lực, trình độ và điều kiện cá nhân, gia đình hiện tại. Điểm
mạnh của cán bộ hưu trí cao tuổi trong hoạt động lao động, cống hiến, khẳng
định vai trò của họ biểu hiện ở khả năng sáng tạo, sự chín chắn về kinh

viên tiến hành thu thập và phân tích sơ yếu lyc lịch của 25 cán bộ hưu trí cao
tuổi.
Do các mẫu lý lịch thu thập được của các cán bộ hưu trí cao tuổi tuy
phong phú về nội dung nhưng không thống nhất và đồng đều nên học viên
không có điều kiện thống kê hay tiến hành phân tích định lượng trong các
nhóm chỉ báo. Học viên lựa chọn phân tích những dữ liệu thu được này theo
phương pháp định tính, có tính chất bổ sung, tham chiếu cho các phương pháp
khác để đánh gia năng lực, trình độ, cơ hội tham gia hoạt động của người cao
tuổi trong cộng đồng.
10.2. Phương pháp điều tra Xã hội học
Luận văn sử dụng phương pháp điều tra phỏng vấn sâu (định tính) là
phương pháp thu thập thông tin cơ bản, phục vụ nghiên cứu đề tài. Đề tài tiến
hành phỏng vấn sâu 25 trường hợp trong đó bao gồm 20 cán bộ hưu trí đang
cao tuổi đang sinh hoạt tại câu lạc bộ Thăng Long, có vai trò hoạt động lao
động, cống hiến trong cộng đồng theo lĩnh vực hoạt động của họ trước đây;
05 nhà quản lý, các chuyên gia nghiên cứu về người cao tuổi, một số người có
chuyên môn tốt về công tác xã hội…nhằm nghiên cứu, giải thích một số nội
dung nghiên cứu được đặt ra trong luận văn.
Để thực hiện phương pháp phỏng vấn sâu, học viên xây dựng bộ tiêu chí
phỏng vấn sâu cơ bản, một số câu hỏi linh hoạt phù hợp với các đối tượng được
mời tham gia trả lời phỏng vấn. Học viên sử dụng 2 hình thức phỏng vấn trực tiếp,
phỏng vấn điện thoại có ghi âm và hình thức gửi câu hỏi, thu thập ý kiến người trả
lời qua email và các mạng xã hội như facebook, twitter, google +.
Các câu hỏi phỏng vấn sâu đều được xây dựng trên tinh thần khai thác
thông tin khách quan, tôn trọng người trả lời, hoàn toàn không đưa ra gợi ý,
chụp mũ hay quy kết của người thực hiện nghiên cứu.
10.3. Phương pháp công tác xã hội
Vận dụng lý thuyết, phương pháp tiếp cận công tác xã hội để phân
tích các dữ liệu thu thập được trong quá trình thực hiện nghiên cứu, định
hướng cho việc nghiên cứu, xây dựng các giải pháp, mô hình hiệu quả cho

Theo IFSW – Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội Quốc tế (tại Đại hội
Montreal – tháng 7/2000): CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội,
việc giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người và sự tăng quyền
lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải

15


mái dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội.
CTXH can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ.
Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề theo
định nghĩa này thì CTXH sẽ không được công nhận tại các nước, chưa có nền
giáo dục phát triển cao về CTXH.
Theo quan niệm của các học giả Trung Quốc (“Trung Quốc đại bách
khoa toàn thư, xã hội học quyển” bản 1, trang 291, xuất bản 1991): CTXH là
một sự nghiệp và môn khoa học chuyên ngành của nhà nước và xã hội để giải
quyết và dự phòng những vấn đề xã hội nảy sinh do thành viên xã hội thiếu
khả năng thích ứng với cuộc sống xã hội hay mất thăng bằng chức năng xã
hội. Tính năng của nó là điều chỉnh quan hệ xã hội, cải thiện chế độ xã hội,
đẩy mạnh xây dựng xã hội, thúc đẩy sự phát triển của xã hội thông qua phục
vụ xã hội và quản lý xã hội” (theo Trịnh Hàng Sinh, 2008, 28).
Định nghĩa của Crouch.R.C “Social Work Defined” (1979): CTXH là
sự cố gắng hỗ trợ những người không làm chủ các phương tiện sinh tồn tiếp
cận được với chúng và đạt được mức độ độc lập cao nhất có thể có được”.
Theo Từ điển XHH (G.Endruweit và G.Trommsdorff – NXB Thế giới,
Hà Nội, 2001): CTXH là một dịch vụ đã chuyên môn hóa – một việc giúp đỡ
có tính cá nhân – để giải quyết những vấn đề xã hội đặc biệt.
CTXH là hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp cao, được thực hiện
theo các nguyên tắc và phương pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân và nhóm
người trong việc giải quyết các vấn đề đời sống của họ; qua đó CTXH theo

đưa ra nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể. Đối lập với trị liệu tâm lý
nhóm, mục tiêu của CTXH không chỉ là trị liệu những vấn đề về tâm lý,
tình cảm mà còn là trao đổi thông tin, phát triển các kỹ năng xã hội và lao
động, thay đổi các định hướng giá trị và làm chuyển biến các hành vi
chống lại xã hội thành các nguồn lực hiệu quả. Các kỹ thuật can thiệp đều
được dưa vào quá trình công tác xã hội nhóm nhưng không hạn chế kiểm
soát những trao đổi về trị liệu”
Khái niệm trên có đưa ra sự khác biệt giữa công tác xã hội nhóm và trị
liệu tâm lý nhóm ở việc “phát triển các kỹ năng xã hội và lao động, thay đổi
định hướng giá trị và làm chuyển biến hành vi chống lại xã hội”.Để kiểm
chứng cho những khác nhau trên, chúng ta tìm hiểu khái niệm về trị liệu tâm

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status