TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH
CHUYÊN ĐỀ
THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài:
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
CHI NHÁNH THÁI BÌNH
Giảng viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Mã sinh viên
Lớp
: TS. Nguyễn Thùy Dương
: Khiếu Trọng Huy
: 11121682
: Ngân hàng CLC
Hà Nội - 2016
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình hội nhập quốc tế hoá, khu vực hoá, sự tăng trưởng
thời gian thực tập tại chi nhánh BIDV Thái Bình, em quyết định chọn đề tài:
“Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay tại
ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh Thái Bình”
làm đề tài cho chuyên đề của mình.
2. Mục đích nghiên cứu:
+ Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến công tác thẩm
định và chất lượng công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay.
+ Phân tích thực trạng chất lượng công tác thẩm định tín dụng cho vay
tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Thái Bình và
đánh giá công tác thẩm định đó.
+ Đề xuất và đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác
thẩm định tín dụng cho vay tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt
Nam chi nhánh Thái Bình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
+ Đối tượng nghiên cứu: Thẩm định tín dụng và công tác nâng cao chất
lượng thẩm định tín dụng cho vay tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển
Việt Nam chi nhánh Thái Bình.
+ Phạm vi nghiên cứu: Những vấn đề liên quan tới hoạt động thẩm định
tín dụng cho vay tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi
nhánh Thái Bình trong 3 năm: 2013, 2014, 2015.
4. Nội dung nghiên cứu
+ Thực trạng thẩm định tín dụng cho vay tại Ngân hàng TMCP Đầu tư
và Phát triển Việt Nam chi nhánh Thái Bình qua 3 năm 2013, 2014, 2015.
+ Tình hình thẩm định tín dụng cho vay của Ngân hàng.
2
+ Đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thẩm định
tín dụng cho vay.
(Theo luật các tổ chức tín dụng NHTM)
NHTM là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, trong đó
có hai mặt cơ bản:
- Nhận ký thác của các doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức, cơ quan
nhà nước.
- Sử dụng các khoản ký thác đó để cho vay và chiết khấu.
Các loại hình của NHTM:
+ NHTM quốc doanh: là NHTM được thành lập bằng 100% vốn của
nhà nước.
+ NHTM cổ phần: là NHTM được thành lập dưới hình thức công ty
cổ phần.
+ Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của
bên ngân hàng Việt Nam và bên ngân hàng nước ngoài có trụ sở tại Việt Nam
và hoạt động theo luật pháp Việt Nam.
+ Chi nhánh NHTM nước ngoài: là ngân hàng được thành lập theo luật
pháp nước ngoài nhưng hoạt động theo luật pháp nước sở tại.
4
+ NHTM 100% vốn nước ngoài: là NHTM được thành lập tại VN với
100% vốn điều lệ thuộc sở hữu nước ngoài; trong đó phải có một NH nước
ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ (NH mẹ). NHTM 100% vốn nước ngoài
được thành lập dưới hình thức công ty TNHH một thành viên hoặc từ hai
thành viên trở lên, là pháp nhân VN, có trụ sở chính tại VN.
Quá trình phát triển của NHTM gắn liền với quá trình phát triển của thị
trường tài chính thông qua các giai đoạn từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp. Khi mới ra đời, tổ chức và nghiệp vụ hoạt động rất đơn giản nhưng
càng về sau, theo đà phát triển của kinh tế hàng hóa, tổ chức cũng như các
nghiệp vụ của các ngân hàng càng phát triển và hoàn thiện hơn. Ngày nay các
thặng dư cho ngân hàng đồng thời tạo tiện ích cho khách hàng để đôi bên
cùng có lợi.
Nghiệp vụ tài sản nợ (Nguồn vốn):
Đây là nghiệp vụ tạo điều kiện và tiền đề cho hoạt động của NHTM.
Các NHTM thực hiện huy động mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền
kinh tế dưới mọi hình thức để thực hiện nhiệm vụ đầu tư, cho vay đối với các
thành phần kinh tế, giúp họ đổi mới trang thiết bị sản xuất, nâng cấp nhà
xưởng phục vụ kinh doanh.
Nghiệp vụ tài sản có (Sử dụng vốn):
- Nghiệp vụ dữ trữ tiền mặt: Ngân hàng dự trữ tiền mặt nhằm duy trì
khả năng thanh khoản của ngân hàng, đáp ứng nhu cầu rút tiền và thanh toán
thường xuyên, liên tục của khách hàng vào bất cứ lúc nào. Dự trữ tiền mặt cao
hay thấp phụ thuộc vào quy mô hoạt động, cơ cấu và tính chất nguồn vốn của
NHTM. Các khoản dự trữ của NHTM không sinh lời.
- Nghiệp vụ đầu tư: Ngân hàng tham gia góp vốn liên doanh, liên kết,
thành lập công ty con...
- Nghiệp vụ cho vay: Cho vay là nghiệp vụ đem lại lợi nhuận chủ yếu
cho các NHTM. Các NHTM sử dụng phần lớn số tiền huy động được để cho
6
vay đối với nền kinh tế. Lợi nhuận thu được từ hoạt động cho vay là nguồn
thu nhập chính để bù đắp các loại chi phí trong hoạt động của Ngân hàng và
thu lợi của NHTM.
Các dịch vụ Ngân hàng:
Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của mình, các NHTM đã tiến hành
cung ứng các dịch vụ phục vụ khách hàng như: dịch vụ thanh toán, đại lý, tư
vấn tài chính,... trên cơ sở đó Ngân hàng thu phí dịch vụ. Ngày nay do nhu
cầu phát triển của nền kinh tế đòi hỏi hoạt động dịch vụ Ngân hàng ngày càng
trong xã hội.
+ Với tư cách là người cho vay, Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho
các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khi họ có nhu cầu về vốn để bổ sung vào
hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.
1.2.2. Đặc điểm
- Ngân hàng đóng vai trò trung gian trong quá trình huy động vốn và
cho vay.
- Đối tượng cho vay: Các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân.
- Loại hình cho vay: Trái phiếu, kỳ phiếu, hợp đồng cho vay…..
- Huy động vốn vay và cho vay ra với những thời hạn rất phong phú linh
hoạt (ngắn, trung và dài hạn) và đều được thực hiện dưới hình thức tiền tệ.
- Mục đích: Lợi nhuận (thông thường là ăn chênh lệch giữa lãi suất vay
và cho vay).
- Quá trình vận động và phát triển tín dụng ngân hàng không hoàn toàn
phù hợp với quy mô phát triển sản xuất và lưu thông hàng hóa.
- Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung và điều hòa vốn giữa
các chủ thể trong nền kinh tế.
1.2.3. Vai trò
1.2.3.1 Đối với nền kinh tế
Thứ nhất, vai trò kinh tế cơ bản của tín dụng ngân hàng là luân chuyển
vốn từ những người (cá nhân, hộ gia đình, công ty và chính phủ) có nguồn
8
vốn thặng dư (do chi tiêu ít hơn thu nhập) đến những người thiếu hụt (do nhu
cầu chi tiêu vượt quá thu nhập). Nhu cầu vay vốn không chỉ để đầu tư kinh
doanh mà còn dùng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng trước mắt. Như vậy, nếu
không có ngân hàng, thì việc luân chuyển vốn giữa các chủ thể trong nền kinh
tế sẽ ách tắc. Chính vì vậy, kênh luân chuyển vốn qua ngân hàng có ý nghĩa
khả năng tài chính để trang trải cho các khoản chi tiêu nâng cao chất lượng
cuộc sống…
Thứ ba, tín dụng ngân hàng ràng buộc trách nhiệm khách hàng phải
hoàn trả vốn gốc và lãi trong thời hạn nhất định như thỏa thuận. Do đó, buộc
khách hàng phải nỗ lực, tận dụng hết khả năng của mình để sử dụng vốn vay
hiệu quả, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, đem lại lợi nhuận cho doanh
nghiệp và đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.
1.2.3.3 Đối với ngân hàng
Thứ nhất, tín dụng là hoạt động truyền thống, chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong tổng tài sản có và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng (từ
60 đến 80%). Mặc dù tỷ trọng của hoạt động tín dụng đang có xu hướng
giảm, nhưng tín dụng ngân hàng vẫn luôn là nghiệp vụ sử dụng vốn quan
trọng nhất đối với mỗi ngân hàng.
Thứ hai, thông qua hoạt động tín dụng mà ngân hàng đa dạng hóa được
danh mục tài sản có, giảm thiểu rủi ro.
Thứ ba, thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng mở rộng được các
loại hình dịch vụ khác, như thanh toán, thu hút tiền gửi, kinh doanh ngoại tệ,
tư vấn…
1.2.4. Phân loại
1.2.4.1 Phân loại theo thời hạn tín dụng
Theo tiêu thức này, người ta chia tín dụng thành 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới 1 năm. Tín dụng
ngắn hạn được dùng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các
doanh nghiệp và phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân.
10
- Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm.
Loại tín dụng này được cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ
1.2.4.5 Phân loại theo xuất xứ của tín dụng
- Tín dụng gián tiếp: Là hình thức cấp tín dụng thông qua một trung
gian tài chính như NHTM hoặc tổ chức tín dụng khác.
- Tín dụng trực tiếp: Là hình thức cấp tín dụng giữa người có tiền (hoặc
hàng hóa) với người sử dụng tiền (hoặc hàng hóa) đó, không cần phải thông
qua một trung gian tài chính nào cả.
1.3. Thẩm định tín dụng
1.3.1. Khái niệm thẩm định tín dụng
“Thẩm định tín dụng là sử dụng các công cụ và kỹ thuật phân tích
nhằm kiểm tra, đánh giá mức độ tin cậy và rủi ro của một phương án hoặc
dự án mà khách hàng đã xuất trình nhằm phục vụ cho việc ra quyết định
tín dụng.”
(Nguồn: TS. Nguyễn Minh Kiều, “Tín dụng và thẩm định tín dụng ngân
hàng”, Nhà xuất bản Lao Động Xã Hội)
Thẩm định tín dụng: là nghiệp vụ sử dụng các công cụ và kỹ thuật
nhằm kiểm tra, đánh giá mức độ tin cậy và rủi ro của phương án kinh doanh
của khách hàng đã xuất trình. Từ cơ sở đó, lãnh đạo ngân hàng có thể đưa ra
quyết định tín dụng đúng đắn.
1.3.2. Mục đích và ý nghĩa của công tác thẩm định tín dụng
Mục đích: đánh giá một cách chính xác và trung thực khả năng trả nợ
của khách hàng để làm cơ sở quyết định cho vay.
Ý nghĩa:
- Giúp đánh giá được mức độ tin cậy của phương án kinh doanh mà
khách hàng đã lập và nộp cho ngân hàng.
- Phân tích, đánh giá được mức độ rủi ro của phương án khi quyết định
cho vay.
12
Ngân hàng biết được nhu cầu của khách hàng, mục đích vay vốn, thu
nhập… thông qua quá trình thẩm định khách hàng. Điều này làm cơ sở cho
việc quyết định áp dụng kỹ thuật tín dụng nào, phương thức hoàn trả và kì hạn
hoàn trả…
- Thẩm định tín dụng cho vay thực hiện qua quy trình cấp tín dụng
đảm bảo tính thống nhất trong việc tổ chức, quản lý việc cấp tín dụng của
Ngân hàng đối với khách hàng.
1.3.3.2. Đối với khách hàng
- Thẩm định tín dụng giúp khách hàng có được khoản vay tốt, đem lại
hiệu quả cao.
- Giúp khách hàng biết được nhu cầu thực sự gì tránh tình trạng vay
tiền quá nhiều không cần thiết gây lãng phí nguồn vốn của ngân hàng và tăng
chi phí của khách hàng khi thanh toán khoản vay ngân hàng.
Tóm lại, có thể thấy hoạt động thẩm định tín dụng giữ một vai trò quan
trọng và hết sức cần thiết trong hoạt động tín dụng của ngân hàng nói chung
và hoạt động tín dụng cho vay nói riêng. Nó chính là cơ sở để ra quyết định
cấp tín dụng hay không, thời hạn tín dụng, lãi suất… Đồng thời cũng là cơ sở
để đưa ra các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng.
1.3.4. Nội dung thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay
Khả năng thu hồi nợ vay phụ thuộc vào các yếu tố như sau:
- Tư cách của khách hàng vay vốn.
- Tình hình tài chính của khách hàng.
- Tính khả thi của phương án kinh doanh.
- Tình hình tài sản đảm bảo nợ vay.
- Khả năng quản lý và kiểm soát rủi ro.
Do đó, để đảm bảo khả năng thu hồi nợ vay, công tác thẩm định tín
dụng cần tập trung những nội dung chính như sau:
- Thẩm định tư cách của khách hàng vay vốn: gồm thẩm định điều kiện
15
Thẩm định năng lực pháp lý của khách hàng
Căn cứ vào bộ luật dân sự để đánh giá và xác định năng lực pháp lý của
khách hàng.
Theo đó, để được nhà nước công nhận có tư cách pháp lý thì chủ thể
phải đáp ứng ít nhất một hoặc hai điều kiên sau:
- Có khả năng hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ theo qui định của
pháp luật.
- Có năng lực thực tế để thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý.
Thẩm định uy tín của khách hàng
Khi thẩm định uy tín của khách hàng, ngân hàng cần đánh giá các vấn
đề sau:
-
Tìm hiểu các thông tin mà khách hàng trình bày có nhất quán với
những thông tin trong hồ sơ mà đã cung cấp.
- Những thông tin trong quá khứ của khách hàng.
- Uy tín của khách hàng còn thể hiện ở lòng tin của các chủ thể khác
có quan hệ với khách hàng.
- Ngoài ra, đối với các khách hàng lần đầu tiên có quan hệ với ngân
hàng thì điều mà ngân hàng cần chú ý là phải tìm hiểu rõ lý do tại sao khách
hàng đó lại tìm đến ngân hàng mình. Và tự đặt ra câu hỏi là: liệu khách hàng
đó có bị các ngân hàng khác từ chối vì thiếu tư cách, thiếu uy tín trong quan
hệ kinh doanh không.
Thẩm định năng lực tài chính của khách hàng.
Chỉ tiêu chính mà ngân hàng cần thẩm định là:
hàng đề ra.
•Môi trường vĩ mô:
- Môi trường kinh tế: thực trạnh kinh tế và xu hướng phát triển của nền
kinh tế có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển, các yếu tố mà ngân hàng cần xem
xét đó là: tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế, lãi suất, tỷ lệ lạm
phát và chính sách tiền tệ.
- Môi trường chính trị, pháp luật: sự ổn định về chính trị, sự nhất quán
về quan điểm chính sách cũng như sự hoàn chỉnh của hệ thống pháp luật là cơ
sở kinh doanh ổn định và công bằng. Ngân hàng cần đánh giá các chính sách,
17
quy định của pháp luật liên quan đến lĩnh vực kinh doanh của cá nhân có ảnh
hưởng như thế nào tới cá nhân.
- Môi trường công nghệ: ảnh hưởng khá rõ nét tới hoạt động sản xuất
kinh doanh của cá nhân. Sự thay đổi công nghệ nhanh chóng sẽ ảnh hưởng
đến quá trinh sản xuất, do đó, đòi hỏi cá nhân cần quan tâm đến việc đầu tư
công nghệ, dây chuyền sản xuất tránh nguy cơ lạc hậu.
- Môi trường văn hoá – xã hội: cần xem xét các yếu tố như: độ tuổi,
văn hoá, trình độ học vấn, … vì các yếu tố này ảnh hưởng tới nhu cầu của
khách hàng.
1.4. Chất lượng thẩm định tín dụng cho vay
1.4.1. Khái niệm
Chất lượng thẩm định tín dụng là việc phân tích, đánh giá và lựa chọn
được những phương án, dự án vay vốn có hiệu quả tài chính cao, có khả năng
hoàn trả đúng hạn, đánh giá chính xác, thực chất kết quả của món vay. Đồng
thời phát hiện và loại bỏ những phương án, dự án vay vốn mà nếu thực hiện
sẽ dẫn đến thua lỗ.
Chất lượng thẩm định là nhân tố quyết định chất lượng các món vay.
1.4.2.1. Kết quả thẩm định tình hình tài chính khách hàng
Các kết quả thẩm định tình hình tài chính doanh nghiệp giúp cán bộ
thẩm định đưa ra được kết luận và đề xuất đúng đắn về tính khả thi, hiệu quả
về mặt tài chính của phương án kinh doanh, khả năng trả nợ, nguồn trả nợ và
thời gian trả nợ của khách hàng. Từ đó, giúp lãnh đạo ngân hàng đưa ra các
quyết định tín dụng chính xác, hợp lý. Mục tiêu của thẩm định tín dụng là
giảm rủi ro, nâng cao hiệu quả của hoạt động thẩm định. Vì vậy, việc phân
tích và đánh giá tỷ lệ nợ quá hạn là rất quan trọng, cho biết khả năng thu hồi
gốc và lãi của ngân hàng ra sao. Nếu tỷ lệ nợ quá hạn cao thì chất lượng tín
dụng thấp, và ngược lại.
1.4.2.2. Thời gian thẩm định
Nếu thời gian thẩm định quá ngắn thì không đánh giá được hết tình
hình thực tế của khách hàng. Nhưng nếu thời gian thẩm định quá dài, chưa
chắc cán bộ thẩm định làm việc tỉ mỉ, cẩn thận, mà rất có thể họ đang làm
19
lỡ mất cơ hội giúp NHTM có thêm khách hàng, nguồn thu và tốn chi phí
cho công tác thẩm định. Do đó, quy trình thẩm định cần phải được thực
hiện theo quy trình cụ thể, với khoảng thời gian hợp lý, đảm bảo mục tiêu
tài trợ của NHTM và đảm bảo kế hoạch kinh doanh của khách hàng so với
dự kiến.
1.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định tín dụng
1.4.3.1. Yếu tố chủ quan
- Đội ngũ cán bộ thẩm định: Người quản lý và cán bộ thẩm định là
nhân tố quyết định trực tiếp đến chất lượng thẩm định tín dụng. Nếu nhà quản
lý nhận thức đúng ý nghĩa của thẩm định tín dụng thì họ mới tạo những điều
kiện thuận lợi cho cán bộ thẩm định. Nếu cán bộ thẩm định có năng lực
chuyên môn tốt, thực hiện tốt quy trình thẩm định thì kết quả thẩm định tín
dụng thường đáng được tin cậy. Do tính chất phức tạp và phạm vi liên quan
hành theo nhiều giai đoạn nên tổ chức công tác thẩm định có ảnh hưởng không
nhỏ tới sự thành bại của công việc thẩm định. Nếu công tác này được tổ chức
một cách khoa học,hợp lý trên cơ sở phân công trách nhiệm cụ thể cho từng cá
nhân, có kiểm tra, giám sát chặt chẽ, kết quả thẩm định tín dụng sẽ cao.
1.4.3.2. Yếu tố khách quan
- Khách hàng vay: Là chủ đầu tư, chủ thể vay vốn ngân hàng. Các
thông tin từ khách hàng cung cấp có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng
thẩm định tài chính dự án. Nếu thông tin khách hàng cung cấp là đầy đủ và
chính xác thì tác động tốt đến chất lượng thẩm định tài chính dự án. Còn nếu
thông tin này không đầy đủ và không chính xác thì tác động tiêu cực đến chất
lượng công tác thẩm định tài chính dự án.
- Môi trường pháp lý: Công tác thẩm định chịu sự chi phối của các văn
bản pháp luật do các cơ quan thẩm quyền ban hành. Hệ thống các văn bản
pháp luật chặt chẽ, hợp lý sẽ tác động tích cực đến hiệu quả thẩm định, đảm
bảo lợi ích cho vay của NHTM.
21
- Môi trường kinh tế: Ảnh hưởng của tình hình kinh tế đất nước, khu
vực và thế giới cũng ảnh hưởng đến quá trình hoạt động kinh doanh và tiến độ
thực thi của phương án kinh doanh, từ đó tác động tới khả năng trả nợ của
doanh nghiệp.
- Môi trường văn hóa – xã hội: các phương án kinh doanh của doanh
nghiệp có được thực hiện hiệu quả hay không một phần bị ảnh hưởng bởi tập
tục văn hóa nơi đó, các điều lệ và quy định xã hội.
22