MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU
ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài ……………………………………………………Trang 2
II. Sơ lược cơ sở lí luận ………………………………………………..Trang 3
III. Đối tượng nghiên cứu ……………………………………………..Trang 3
IV.Thời gian nghiên cứu ……………………………………………...Trang 4
V. Nhiệm vụ nghiên cứu ………………………………………………Trang 4
VI. Phương pháp nghiên cứu ………………………………………….Trang 4
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Ý nghĩa ………………………………………………………..….Trang 5
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG
2.1 Về phía giáo viên………………………………………………......Trang 7
2.2 Về phía học sinh ………………………………………………......Trang 7
CHƯƠNG III : CÁC BIỆN PHÁP
3.1 Bồi dưỡng vốn sống ……………………………………..……...Trang 11
3.2 Dạy Tập làm văn tích hợp qua phân môn Tập đọc.........................Trang 12
3.3 Dạy Tập làm văn tích hợp qua phân môn Luyện từ và câu............Trang 14
3.4 Dạy Tập làm văn tích hợp qua phân môn Chính tả ……………...Trang 15
3.5 Dạy Tập làm văn tích hợp qua phân môn Giáo dục kĩ năng sống..Trang 16
CHƯƠNG IV. DẠY VIẾT BÀI VĂN
4.1 Giúp học sinh nắm chắc yêu cầu đề.. .…………………...............Trang 18
4.2 Hướng dẫn học sinh quan sát .…………………………………...Trang 18
4.3 Rèn kĩ năng lập dàn bài chi tiết...............................................…..Trang 24
4.4 Dựng đoạn và viết bài văn..................................……………….. Trang 26
4.5 Đưa nghệ thuật vào bài văn........................…………………….. Trang 26
4.6 Đưa cảm xúc vào bài văn ………………………………………. Trang 27
4.7 Kết quả…………………………………………………………...Trang 28
C. PHẦN KẾT LUẬN
I. Kết quả đạt được …………………………………………………..Trang 34
Để hoàn thành bài văn học sinh thường rất khó khăn. Do đặc điểm tâm lí,
học sinh tiểu học còn ham chơi, khả năng tập trung chú ý quan sát chưa tinh tế,
năng lực sử dụng ngôn ngữ chưa phát triển tốt, dẫn đến khi viết văn học sinh còn
thiếu vốn hiểu biết về đối tượng chưa biết cách quan sát đối tượng, sự vật xung
quanh…hoặc không biết cách diễn đạt điều muốn viết. Đối với giáo viên đây
cũng là phân môn khó dạy. Giáo viên còn thiếu linh hoạt trong vận dụng phương
pháp và chưa sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động học tập của học sinh. Vì
2
SKKN : “ Nâng cao kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4”
vậy, không phải giờ dạy văn nào cũng đạt hiệu quả mong muốn, và không phải
giáo viên nào cũng dạy tốt phân môn này. Việc tìm tòi phương pháp để hướng
dẫn học sinh quan sát, tìm ý, lập dàn ý, tưởng tượng,…còn nhiều hạn chế. ?
Chúng ta đã tự hào tiếng Việt ta phong phú, giàu hình ảnh, đa dạng về nghĩa, có
sức biểu cảm sâu sắc. Nhưng một thực tế làm buồn lòng những thầy cô giáo
chúng ta đó là khi chấm bài, tôi thấy đa số học sinh đã biến các bài văn miêu tả
thành văn kể, liệt kê một cách khô khan, nghèo nàn về từ, diễn đạt rườm rà tối
nghĩa.
Từ hiện thực trên tôi tự hỏi: “ Làm thế nào để giúp các em có kĩ năng viết
được bài văn thuộc thể loại văn miêu tả? Để giúp các em có thể vẽ lại bằng lời
những sự vật, đồ vật, cây cối, loài vật xung quanh mình? Giúp các em có cơ hội
bộc lộ cảm xúc của cá nhân, mở rộng tâm hồn và phát triển nhân cách”. Trả lời
câu hỏi này, những năm học gần đây, tôi đã cố gắng dùng mọi khả năng và kinh
nghiệm của mình để rèn cho các em có một kiến thức nhất định và xây dựng kĩ
năng viết văn cho các em. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi mạnh dạn trình bày
một vài kinh nghiệm “ Nâng cao kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4”
với hi vọng góp phần nâng cao trình độ của bản thân, nâng cao chất lượng dạy học Tập làm văn lớp 4. Qua đây, tôi mong muốn nhận được nhiều ý kiến trao đổi
của đồng nghiệp để đề tài thực sự có giá trị trong dạy- học .
SKKN : “ Nâng cao kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4”
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I.
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Ý nghĩa của việc nâng cao kĩ năng viết văn cho học sinh lớp 4.
Theo quan điểm tích hợp, các phân môn của bộ môn Tiếng Việt được tập
hợp lại xung quanh trục chủ điểm và các bài đọc. Nhiệm vụ cung cấp kiến
thức và rèn luyện kĩ năng gắn bó chặt chẽ với nhau. Như vậy, muốn dạy- học
có hiệu quả Tập làm văn miêu tả (tả đồ vật, cây cối, con vật, ..) nhất thiết
người giáo viên phải dạy tốt các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả,
Luyện từ và câu…. Vì trong các bài đọc, trong câu chuyện, trong các bài tập
Luyện từ và câu thường xuất hiện các đoạn văn, khổ thơ có nội dung miêu tả
rất rõ về đồ vật, cây cối, con vật, con người,...
Bài tập làm văn nếu không sáng tạo sẽ trở thành một bài văn khô cứng,
góp nhặt của người khác, nội dung bài văn sẽ không hồn nhiên, trong sáng,
mới mẻ như tâm hồn của các tác giả nhỏ tuổi.
Nhìn chung, nhiều năm nay, nhà trường chúng ta đã chú ý đến việc nâng
cao chất lượng môn học này nhưng chưa tạo cho công việc này những điều kiện
đầy đủ. Nhiều học sinh thực sự lúng túng khi phải bắt tay vào xây dựng dàn ý,
viết một đoạn văn bản, chữa lỗi dùng từ, đặt câu,…bằng tiếng mẹ đẻ của mình.
Giờ học Tập làm văn lẽ ra phải là giờ sinh động, hấp dẫn lại trở nên buồn tẻ,
tạo nên không khí "không thích học". Làm văn là một hoạt động giao tiếp, việc
rèn luyện kĩ năng làm văn vừa cần phải sử dụng đúng từ ngữ, diễn đạt mạch
lạc, trôi chảy, sinh động phù hợp với đối tượng giao tiếp và phải lôi cuốn, hấp
dẫn người đọc…
Để đạt được mục tiêu trên, việc bồi dưỡng nâng cao kĩ năng viết văn miêu
tả cho học sinh lớp 4 đặt ra những nhiệm vụ sau :
- Bồi dưỡng hứng thú học tập làm văn cho học sinh.
5
lớp 4. Chưa đặt kĩ mục tiêu khi thực hiện viết bài văn. Một số giáo viên do
chạy theo thành tích và để đảm bảo thời gian cho các tiết học khác nên trong
những tiết dạy tập làm văn thường gò cả lớp làm theo một khuôn mẫu để dễ
hướng dẫn hoặc có khi đọc cả bài văn mẫu cho học sinh chép rồi học thuộc
thành ra bài nào cũng như bài ấy chẳng có gì khác nhau cả. Giáo viên sợ phải
gợi ý cho học sinh viết theo nhiều hướng khác nhau thì khi học sinh gặp khó
khăn sẽ không thể giải quyết tình huống được.
2.2 Về phía học sinh
Để có được một kĩ năng, thông thường buộc phải trải qua nhiều bước
luyện tập từ thấp đến cao, lúc đầu phải làm theo mẫu, sau đó mới có thể vận
dụng sáng tạo. Nhưng trên thực tế, học sinh thường nhảy cóc qua một số bước,
7
SKKN : “ Nâng cao kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4”
phần tập và phần luyện thường bị coi nhẹ. Phần đông vẫn chưa có thói quen
chuẩn bị bài chu đáo trước khi đến lớp. Kĩ năng phân tích đề, lập dàn ý chi tiết,
làm bài văn,… còn nhiều hạn chế. Các em sắp xếp ý còn lộn xộn, lủng củng,
nhớ đâu viết đó, bài viết thiếu trọng tâm hình ảnh trong bài văn rời rạc, ít liên
tưởng hoặc chỉ là sao chép một cách sống sượng bài văn mẫu. Năng lực cảm thụ
văn học của học sinh chưa đồng đều dẫn đến chất lượng làm văn chưa cao.
Vốn sống và vốn kiến thức văn học của học sinh nhất là học sinh vùng nông
thôn quê chúng tôi còn hạn chế. Đa số các em là con trong những gia đình có bố
mẹ làm nghề nông thuần túy nên số phụ huynh có điều kiện và có ý thức mua
sách báo cho con em mình đọc còn rất ít . Hơn nữa không ít em chưa có thói
quen đọc sách, ham đọc sách vì thế các em ít có sự say mê với các tác phẩm văn
học.
Bài viết của các em còn mắc nhiều lỗi chính tả, Chưa xác định được
trọng tâm đề bài cần miêu tả. Nhiều em thường liệt kê, kể lể dài dòng, diễn
Những lời văn trên ta thấy rằng các em chưa phân biệt chi tiết nào là
của ngôn ngữ nói. Chi tiết nào là của ngôn ngữ viết. Liên tưởng và so sánh
cần chọn lọc như thế nào.Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi cho học sinh
lớp 4B làm bài kiểm tra thu dược kết quả như sau:
Kết quả khảo sát đầu năm học 2012-2013
Khảo sát
Đầu năm
SS
Bài điểm
h/s
23
9-10
6
Bài điểm Bài điểm Bài điểm
7- 8
7
5- 6
7
3- 4
3
Bài điểm
1- 2
Kết quả khảo sát đầu năm học 2014-2015
Khảo sát
Đầu
năm
SS
h/s
21
Bài điểm Bài điểm Bài điểm Bài điểm
9-10
4
7- 8
8
5- 6
7
3- 4
2
Bài điểm
1- 2
0
Đây cũng chính là một thực trạng khiến tôi luôn băn khoăn, trăn trở về
cách làm văn nhất là văn miêu tả của học sinh lớp 4 và của cả những năm học
trước. Trước thực tế ấy, tôi đã luôn tìm tòi và suy nghĩ: Làm thế nào để nâng
trước một đề văn hàng 15- 20 phút chưa viết được, giáo viên thường cho rằng
các em không nắm được lí thuyết viết thể văn nọ, thể văn kia mà không hiểu
rằng nguyên nhân đầu tiên làm các em không có hứng thú viết là do các em
đã không tạo được một quan hệ thân thiết giữa mình và đề bài - đối tượng của
miêu tả, nghĩa là các em không có nội dung, không có gì để nói, để viết về
cái đó. Nguyên nhân của tình trạng trên là việc thiếu hụt vốn sống, vốn cảm
xúc. Vì vậy phải bồi dưỡng vốn sống cho các em. Trước hết đó là vốn sống
trực tiếp giáo viên cho các em quan sát, trải nghiệm những gì sẽ phải viết
bằng cách đàm thoại theo một hệ thống câu hỏi. Cho học sinh đóng vai thực
hiện hoặc quan sát tranh ảnh, cảnh vật xung quanh …
Giáo viên cần làm cho vốn sống thực này không cản trở trí tưởng tượng
phong phú của học sinh. Nhưng trí tưởng tượng dù bay bổng đến mấy vẫn
phải có cơ sở, bắt nguồn từ đời sống thực. Một em học sinh ở vùng núi xa xôi
chưa từng thấy một chiếc cặp sách, con gấu bông thì không thể tả đúng chiếc
cặp sách, con gấu bông, cây bàng đang thay lá khi chưa hề nhìn thấy chúng
lần nào và không thể gây ra xúc động khi phải tả con lợn nhà em trong khi
nhà chưa bao giờ nuôi lợn. Cần tổ chức tốt quá trình quan sát, trải nghiệm
11
SKKN : “ Nâng cao kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4”
thực tế của học sinh. Khi học sinh quan sát, giáo viên nên đóng vai trò dẫn
dắt, gợi mở, tạo nguồn cảm hứng, khơi dậy suy nghĩ trong các em cần đưa
thêm tranh ảnh để hỗ trợ cho việc quan sát. Sau khi các em đã quan sát, làm
quen với đối tượng rồi thì cần phải ghi lại cụ thể về những gì đã quan sát
được.
3. 2. Dạy Tập làm văn tích hợp thông qua phân môn Tập đọc.
Trong các bài tập đọc thuộc thể loại văn miêu tả thì số lượng từ miêu tả rất
phong phú, sử dụng sáng tạo, hấp dẫn, lôi cuốn người đọc. Sách giáo khoa
ảnh này để ca ngợi một hình ảnh khác (mượn cái không đẹp của cây
sầu riêng để tăng thêm hương vị của trái sầu riêng).
+ Ví dụ 2: Khi dạy đến bài “Hoa học trò” Tiếng việt 4 – Tập 2/43.
Trong phần tìm hiểu bài tôi giúp các em cảm nhận được cái hay, cái
độc đáo qua cách dùng từ của Xuân Diệu. Để giúp người đọc cảm
nhận được số lượng hoa phượng ra nhiều và rất đẹp, ông đã sử dụng
một loạt các điệp từ, điệp ngữ để diễn tả điều đó:
“Phượng không phải là một đóa, không phải vài cành. Phượng đây
là cả một loạt, cả một vùng, cả một góc trời đỏ rực. Mỗi hoa chỉ là
một phần tử của cái xã hội thắm tươi, người ta quên đóa hoa, chỉ
nghĩ đến cây, đến hàng, đến những tán hoa lớn xòe ra như muôn
ngàn con bướm thắm đậu khít nhau”.
Để giúp học sinh hiểu khi quan sát cây cối người ta cần phải phối
hợp nhiều giác quan. Tả lá phượng tác giả viết:
“Lá xanh um, mát rượi, ngon lành như lá me non.”
Chỉ bằng một câu nhưng tác giả đã sử dụng tới ba giác quan: mắt
(xanh um), khứu giác (mát rượi), vị giác (ngon lành).
Vậy qua môn Tập đọc học sinh tích lũy được “vốn liếng” từ không hề
nhỏ. Bằng cách này, tôi đã giúp các em hiểu thêm rằng để có bài văn miêu tả
hay cần biết cách dùng từ và sử dụng biện pháp nghệ thuật hợp lí.
Ví dụ:
Ở giữa biển rộng, cờ đỏ sao vàng phấp phới bay trên những
con tàu lớn. Trăng của các em sẽ soi sáng những ống khói nhà máy chi
chít, cao thẳm rải trên đồng lúa bát ngát vàng thơm …
( Bài Trung thu Độc lập )
13
khăn quàng cổ của mẹ.
Hoặc tả cây bàng trường em đang mùa thay lá
14
SKKN : “ Nâng cao kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4”
- Câu 1 : Chỉ vài hôm, lộc non đã nhú lên.
- Câu 2:
Chỉ vài hôm, lộc non đã tràn đầy trên bàn tay của cây bàng.
Tôi cho học sinh nhận xét xem câu nào hay hơn (100% học sinh trả
lời là câu 2 hay hơn vì nó tạo cho người đọc hình ảnh liên tưởng rất cụ
thể qua việc sử dụng từ và các biện pháp so sánh, nhân hóa…
Việc chọn từ giáo viên nên để học sinh thoải mái, không ép hay áp đặt.
Sau mỗi lần học sinh chọn điền từ tôi cũng để học sinh khác bình luận, nhận
xét xem câu nào hay hơn. Các em học chưa tốt môn văn có thể học hỏi được
nhiều từ, câu của các bạn học sinh năng khiếu giúp các em lựa chọn các câu
văn hay để viết đoạn văn, vừa khiến cho các em thoải mái trong giờ học, vừa
nhớ lâu…
Tóm lại: Với biện pháp này, tôi đã rèn cho học sinh kĩ năng viết câu
văn có hình ảnh, đủ ý.
3.4 Dạy Tập làm văn tích hợp thông qua môn Chính tả.
Như ở phần thực trạng tôi đã trình bày, bài văn của các em bị sai lỗi
chính tả rất nhiều, điều đó gây khó chịu cho người đọc. vì vậy trong tất
cả các tiết chính tả, tôi luôn chú ý rèn cho các em có ý thức viết đúng
chính tả (đây cũng là mục tiêu của các môn Chính tả).
Ngoài ra thông qua giờ chính tả, tôi cũng giúp các em tích lũy thêm
- Trong bài văn này tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nào?
Lấy ví dụ minh họa. (nghệ thuật so sánh, ví dụ như: thân thẳng
như thân trúc. Năm cánh dài đỏ tía như ức gà chọi, trái kết màu
chín đậm, óng ánh như những hạt cườm…)
- Em học tập được gì khi học bài văn này? (học được cách miêu tả,
cách dùng từ, sử dụng các biện pháp nghệ thuật.)
3.5 Dạy Tập làm văn tích hợp thông qua môn Giáo dục kĩ năng sống.
Học tốt các môn học là chưa đủ mà phải biết áp dụng các kiến
thức đã học vào việc giải quyết các tình huống trong thực tiễn cuộc sống
thì đó mới là điều đáng hoan nghênh. Những câu chuyện trong từng chủ
điểm sẽ là bài học sâu sắc thêm vào đó là những trải nghiệm qua các bài
16
SKKN : “ Nâng cao kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4”
tập, trò chơi bồi dưỡng cho các em vốn sống, vốn hiểu biết, kĩ năng giao
tiếp với mọi người, phát triển được tư duy, ngôn ngữ khả năng diễn đạt
hỗ trợ tốt cho việc viết văn nhất là văn miêu tả.
Tóm lại: Thông qua tất cả các môn học này, người giáo viên có thể
khéo léo khai thác để làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh (từ ngữ miêu tả)
và giúp học sinh biết cách sử dụng chúng một cách hợp lí. Song do đặc
trưng của môn học, mỗi giờ học chỉ thiên về một mặt nào đó, nó chỉ hỗ
trợ để học sinh học tốt hơn phân môn Tập làm văn. Vì thế người giáo
viên không thể lạm dụng để biến nó thành một giờ dạy Tập làm văn
chính.
17
sẽ không có một bài văn nào của học sinh bị lạc đề.
4.2.Hướng dẫn học sinh quan sát.
18
SKKN : “ Nâng cao kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4”
Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của sự vật để
giúp người nghe, người đọc hình dung được các đối tượng ấy (Tiếng Việt
4 tập 1, trang 140), tức là lấy câu văn để biểu hiện các đặc tính, chân tướng sự
vật, giúp người đọc như được nhìn tận mắt, sờ tận tay vào sự vật miêu tả. Đây
là biện pháp được coi là cơ bản nhất. Bởi kết quả của quan sát được thể hiện
rõ trong từng bài làm của học sinh. Em nào quan sát tinh vi, thấu đáo thì em
đó sẽ nhận ra được những nét riêng biệt, đặc sắc của sự vật mình định tả để
thể hiện trong bài viết. Còn em nào quan sát hời hợt, phiếm diện thì bài viết
của các em sẽ khô khan, nông cạn. Vì vậy, khi dạy văn miêu tả, giáo viên chú
ý hướng dẫn học sinh quan sát và miêu tả theo các trình tự hợp lý.
4.2.1 Quan sát theo trình tự không gian:
Quan sát toàn bộ trước rồi đến quan sát từng bộ phận, tả từ xa đến gần, từ
ngoài vào trong, từ trái qua phải,... (hoặc ngược lại).
Ví dụ: Quan sát cây bàng. Tôi hướng dẫn các em quan sát theo trình tự:
+ Quan sát từ xa:
- Hình dáng của cây khi nhìn từ xa.
+ Quan sát khi đến gần:
- Gốc, rễ, thân, cành, lá, hoa, quả.
- Cảnh vật xung quanh tác động đến cây (nắng, gió, khí hậu, chim chóc,
ong bướm, con người…)
Ví dụ: Tả từ xa đến gần: Từ xa nhìn lại, cây bàng như một chiếc ô xanh
khổng lồ che rợp cả một khoảng sân trường. Thân nó to thật, to đến nỗi hai
dáng cây kì lạ này. Thân nó khẳng khiu, cao vút, cành ngay thẳng đuột...”.
Tác giả đã tả nét đặc sắc nhất của quả, hoa và dáng cây sầu riêng.
4.2.4 Quan sát bằng nhiều giác quan:
Đây là thao tác quan trọng nhất và có tính chất quyết định nhiều mặt.
Thông thường học sinh chỉ dùng mắt để quan sát. Do đó, kết quả thu được
thường chỉ là các nhận xét và cảm xúc gắn liền với thị giác. Xong tôi đã
hướng dẫn các em biết cách phối hợp nhịp nhàng các giác quan để quan sát.
Những đoạn văn hay và hấp dẫn là những thành công của tác giả trong việc
20
SKKN : “ Nâng cao kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4”
dùng nhiều giác quan để quan sát. Tuy nhiên, tuỳ từng kiểu bài ta có những
cách quan sát khác nhau.
Huy động tất cả các giác quan trong quá trình quan sát: Thị giác (nhìn)
thính giác (nghe), khứu giác (ngửi), xúc giác (sờ, nắm), vị giác (nếm). Rèn
luyện thói quen quan sát nhiều góc cạnh của sự vật sẽ giúp học sinh có được
những bài văn “giàu ý”. Tuy nhiên không thể dàn trải mênh mông mà bài văn
phải có trọng tâm. Học sinh biết lựa chọn chi tiết nổi bật, lướt qua chi tiết phụ
để viết sâu dùng “từ đắt”.
Ví dụ: Quan sát cây bàng: Tôi hướng dẫn như sau:
Các em dùng mắt để quan sát từ xa xem hình dáng của nó như thế nào?
trông nó giống cái gì?…(cái ô khổng lồ, lâu đài nấm)
Em hãy dùng tay để sờ xem vỏ của cây bàng như thế nào (sần sùi, hơi
nham nhám)
Em hãy dùng mắt và tai để quan sát và lắng nghe xem trên cây có những
loài vật nào? Chúng làm gỉ? …
Với mỗi bộ phận của cây tôi đều có một câu hỏi gợi ý và giúp các em sử
- Những thói quen sinh hoạt và những hoạt động của con vật.
Để tạo cho học sinh hình dung về đối tượng giáo viên chuẩn bị tranh
ảnh hỗ trợ để việc quan sát đạt hiệu quả. Phải quan sát và phải biết cách trả
lời câu hỏi. Thường mỗi câu hỏi học sinh phải trả lời bằng một đoạn văn chứ
không phải một câu cộc lốc. Ví dụ như câu hỏi : Thân cây thế nào? (trong bài
quan sát cây hoa hồng). Tôi không bằng lòng với câu trả lời kiểu: “Thân cây
cao, cành đâm ra mọi phía”. Cao hơn, tôi đòi hỏi ở học sinh sự quan sát tỉ mỉ
(màu sắc, độ cao, to, cách bố trí các cành, cành non, cành già, gai) và trả lời
bằng một đoạn văn.
22
SKKN : “ Nâng cao kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4”
Cành
Những chiếc
gai
Cành thấp
Thân cây cao bằng vai em, màu xanh tươi. Cành cây tua tủa đan chéo
vào nhau, vươn ra mọi phía. Đôi ba mầm non mới trồi lên mập mạp đầy sức
sống. Rải rác trên cành lá những chú gai nhọn hoắt đứng nghiêm trang như
những chú lính gác cho nàng công chúa hoa hồng .
Nụ hoa
vừa nở
Lá có rất
+ Mở bài: (bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp)
+ Thân bài: có thể gồm nhiều đoạn mỗi đoạn diễn đạt một nội dung.
+ Kết bài: (theo cách mở rộng hoặc không mở rộng.)
Tóm lại: Cho dù làm bài tại lớp hay về nhà, tôi luôn nhắc nhở các em phải
lập nhanh một dàn bài.
Ví dụ:
Dàn ý tả cây cối - cây bàng:
+ Mở bài: Giới thiệu cây bàng:
Ở sân trường em, có lúc nào em không
biết vì khi em tới trường đã thấy nó.
Thân bài:
- Tả bao quát: hình dáng: cây cao đến
tầng hai, như một chiếc ô.
24
SKKN : “ Nâng cao kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4”
- Tả chi tiết:
Rễ cây: nhô lên khỏi mặt đất. Thân cây: tròn, màu nâu, xù xì. Tán lá:
xanh um, mát rượi, che kín một khoảng sân trường. Hoa: những chùm hoa
li ti màu trắng xen giữa đám lá xanh. Quả: quả bàng lấp ló chín vàng trong
kẽ lá…
+ Kết bài: Tình cảm của em đối với cây bàng.
- Cây bàng như một gian nhà nhỏ che mưa, che nắng.
- Chăm sóc cây bàng để nó ngày một xanh tốt.
Dàn bài tả con vật – con gà trống