TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ ĐÔ THỊ
CHUYÊN ĐỀ
THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC
KHOÁNG SẢN TỚI MÔI TRƯỜNG
TẠI THẠCH HÀ-HÀ TĨNH
Giảng viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Mã sinh viên
Lớp
: ThS. Ngô Thanh Mai
: Ngô Văn Giao
: 11121007
: Kinh tế quản lý tài nguyên
và môi trường 54
Hà Nội - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung chuyên đề là do tôi thực hiện, không sao chép,
cắt ghép các đề tài nghiên cứu hoặc chuyên đề, luận văn của người khác; nếu sai
phạm tôi xin chịu trách nhiệm trước Nhà trường.
Hà Nội, tháng 05 năm 2016
Ký tên
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
ĐT: Điều tra
KTKS: khai thác khoáng sản
WB: Ngân hàng thế giới
CO2: Khí các bo níc
SO2: Khí lưu huỳnh đi oxit
CH4: Khí mê tan
LN: Lâm nghiệp
XD: Xây dựng
RTN: Rừng tự nhiên
RT: Rừng trồng
CA: Công an
CĐ-UBND: Công điện ủy ban nhân dân
Cty: Công ty
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
CPXLTM: Cổ phần xây lắp thương mại
DV: Dịch vụ
CPTMDV: Cổ phần thương mại dịch vụ
CPKS: Cổ phần khoáng sản
HTX: Hợp tác xã
2
DANH MỤC BẢNG BIỂU
BẢNG:
BIỂU ĐỒ:
Biểu đồ 2.1:Phân bố các loại đất huyện Thạch Hà năm 2015....Error: Reference source
not found
trường. Điều đó đã tạo ra những tác động tiêu cực không nhỏ lên quá trình phát
triển của huyện nói chung cũng như việc bảo vệ môi trường tự nhiên, cảnh quan và
môi trường sống của nhân dân địa phương nói riêng. Chính vì vậy, làm thế nào để
phát triển một cách toàn diện, phát huy hết các nguồn lực của địa phương sẵn có,
thu lợi từ các nguồn tài nguyên trên địa bàn nhưng cũng đảm bảo được vấn đề về
cảnh quan và bảo vệ môi trường là một vấn đề rất quan trọng đối với huyên Thạch
Hà-Hà Tĩnh hiện nay và trong thời gian tới.
Với những yếu tố như vậy, nhằm xem xét và đánh giá các ảnh hưởng tới môi
trường từ hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện Thạch Hà, em đã lựa
chọn và nghiên cứu viết đề tài “Ảnh hưởng của hoạt động khai thác khoáng sản
tới môi trường tại Thạch Hà-Hà Tĩnh.”
4
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu ảnh hưởng cảu các hoạt động
khai thác khoáng sản tới môi trường tại Thạch Hà-Hà Tĩnh với để đạt mục tiêu đó
thì các mục tiêu cụ thể bao gồm:
Tổng hợp cơ sở lý thuyết về khoáng sản và khai thác khoáng sản nói
chung và các đặc điểm về KT-XH và ảnh hưởng của khai thác khoáng sản ở Thạch
Hà-Hà Tĩnh
Đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động khai thác khoáng
sản đến môi trường với hai loại chính là đá xây dựng tại mỏ đá Nam Giới-Thạch
Hải và đất sỏi đỏ tại xã Ngọc Sơn. Từ đó tìm ra các nguyên nhân chính tác động đến
môi trường .
+ Các ảnh hưởng từ hoạt động khai thác đá và đất sỏi đến môi trương đất,
môi trường nước, không khí và môi trường sinh thái
+ Nhận thức của người dân về tác động của việc khai thác đất đá tới môi
trường sống
Ngoài ra, tác giả tham khảo nhiều tài liệu từ các nguồn khác nhau như từ các
UBND xã, từ phòng Tài nguyên-Một trường huyện Thạch Hà, các nguồn tài liệu từ
giáo trình và các bài giảng đã được học, các trang báo mạng.
Tác giả phân tích số liệu bằng phần mềm Excel, được sử dụng khá phổ biến
trong quá trình phân tích các số liệu điều tra.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các danh mục, chuyên đề kết cấu thành 3
chương bao gồm:
Chương I: Tổng quan về khoáng sản và ảnh hưởng của hoạt động khai
thác khoáng sản đến môi trường. Chương này khái quát các vấn đề cơ bản về
khoáng sản, khai thác khoáng sản và một số tác động tới môi trường từ khai thác
khoáng sản
Chương II: Ảnh hưởng tới môi trường của hoạt động khai thác đá xây
dựng và đất sỏi đỏ ở Thạch Hà-Hà Tĩnh. Chương này đi sâu vào phân tích các ảnh
hưởng đến môi trường của hoạt động khai thác đá xây dựng và đất sỏi đỏ. Với
những ảnh hưởng cụ thể bằng các đánh giá, nhận xét từ các điều tra thực tế cũng
như số liệu sẵn có của địa phương.
Chương III: Các đề xuất và giải pháp nhằm giảm thiểu những ảnh hưởng
tới môi trường. Chương này đưa ra một số giải pháp cũng như đề xuất cụ thể để
giảm thiểu những tác động xấu của hoạt động khai thác góp phần bảo vệ môi trường
và cảnh quan của địa phương trong thời gian tới.
6
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ KHOÁNG SẢN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA
HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN ĐẾN MÔI TRƯỜNG
1.1 Những vấn đề chung về khoáng sản
1.1.1 Khái niệm về khoáng sản
7
- Nội sinh: là các loại khoảng sản được sinh ra và nằm ở trong lòng đất
- Ngoại sinh: là các loại khoáng sản sinh ra trên bề mặt trái đất có thể nhìn
thấy trực tiếp
Phân loại theo thành phần hóa học
- Khoáng sản kim loại: là các khoảng sản có chứa kim loại và được chia ra
các loại sau: kim loại màu, kim loại đen, kim loại quý hiếm.
- Khoáng sản phi kim: Bao gồm các dạng vật liệu xây dựng như đá
vôi, cát, đất sét, đá xây dựng, đá hoa cương , và các khoáng sản phi kim khác…
- Khoáng sản năng lượng: Là các loại khoáng sản có thể đốt cháy, dùng
làm nhiên liệu năng lượng như: khí đốt, dầu mỏ, than…
Phân loại thành phần thì khoáng sản chia làm hai loại
- Loại chứa các khoáng vật hoặc nguyên tố được sử dụng trực tiếp hoặc
dùng làm nguyên liệu cho ngành luyện kim gọi là quặng.
- Loại chứa các khoáng vật khác gọi là khoáng vật mạch
1.1.3 Phân bố khoáng sản
Khoáng sản là các vật chất tích tụ dưới dạng đơn chất hay hợp chất vì thế
diện phân bố của khoáng sản được chai làm nhiều loại tùy theo mức đọ trữ lượng
của loại khoảng sản đó nhưng nhìn chung được chia ra như sau;
-
Mỏ khoáng sản: là những phần vỏ Trái đất có cấu trúc đặc trưng,
trong đó khoáng sản tập trung trong các thân quặng, về mặt số lượng đủ để
khai thác, về mặt chất lượng đảm bảo các yêu cầu sử dụng cho một hoặc nhiều
ngành công nghiệp
- Tỉnh khoáng sản là phần vỏ Trái đất liên quan với một vùng nền, một
đai uốn nếp địa máng hoặc một đáy đại dương chứa các mỏ khoáng sản đặc
trưng cho chúng
trên quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa. Việc phát triển công nghiệp là yếu tố
quan trọng cho việc phát triển nền kinh tế.
1.1.4.2 Khoáng sản là nguồn cung cấp các sản phẩm xuất khẩu có giá trị cao
Tài nguyên khoáng sản là yếu tố quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho quá
trình tích luỹ vốn và phát triển ổn định. Với những nước được thiên nhiên ưu đãi
nguồn tài nguyên khoáng sản lớn, đa dạng có thể rút ngắn quá trình tích luỹ vốn
bằng cách khai thác các sản phẩm thô để bán hoặc để đa dạng hoá nền kinh tế tạo
nguồn vốn tích ban đầu cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Sự
giàu có về khoáng sản là cơ sở để phát triển nhiều ngành kinh tế, ít bị phụ thuộc vào
sự biến động và nguồn cung nguyên nhiên liệu từ nước ngoài. Vốn là một yếu tố
không ổn định trên thị trường thế giới điều này cho phép những nước có nguồn tài
nguyên phong phú có thể tăng trưởng trong những điều kiện không ổn định.Trong
khi những nước ít may mắn hơn về tài nguyên phải căng thẳng để điều chỉnh sự lên
xuống về giá cả khi phải nhập khẩu các nguồn nguyên liệu. Điều này đã khẳng định
tầm quan trọng của tài nguyên khoáng sản trong quá trình phát triển nền kinh tế của
các nước. Việc phát triển dự vào khoáng sản là điều tất yếu của mỗi đất nươc và
minh chứng là Việt Nam là quốc gia như vậy: Công nghiệp khai thác khoáng sản
có sức ảnh hưởng to lớn đến đời sống kinh tế - xã hội.. Ở Việt Nam, ngành khai
khoáng là ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm tỷ trọng GDP lớn, và cũng là một trong
9
những ngành công nghiệp gây nhiều tác động nhất đến môi trường và xã hội. Điều
này được biểu hẹn rõ ở bảng: “Tổng sản phẩm trong nước phân theo ngành kinh tế
Việt Nam 2010-2014” đề cập ở phụ lục.
1.1.4.3 Khoáng sản là nhân tố có khả năng tạo vùng, do đó góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế và phân công lao động theo vùng lãnh thổ
Sự phân bố của nguồn nhân lực đều phụ thuộc vào những điều kiện khác
nhau và khoáng sản là một trong số đó. Nhìn chung ở khu vực nào có mỏ khoáng
bóc lớp đất đá phủ trên loại khoáng sản cần khai thác.
Khai thác hầm lò: Khi khoáng sản có ích nằm sâu trong lòng đất, do
những hạn chế về kĩ thuật hay kinh tế không thể khai thác lộ thiên thì người ta thu
hồi khoáng sản qua đường lò, giếng đứng hoặc giếng nghiêng đào sau vào lòng đất
Khai thác bằng lướt vớt hoặc bằng các thiết bị hút bơm đặt trên các tau
nổi thu hồi khoáng sản có ích dạng rời rạc, hoặc kết hạc như sỏi đá, ti tan…
Khai thác theo kiểu lỗ khoan áp dụng cho khai thác dầu mỏ và khí đốt
cũng như các loại chất lỏng có ích nằm trong lòng đất cũng như nằm sâu dưới
đáy biển.
1.2.2.2 Hình thức khai thác khoáng sản theo quy mô thực tế
- Khai thác, chế biến khoáng sản quy mô công nghiệp
Khai thác, chế biến khoáng sản quy mô công nghiệp đang từng bước được
nâng cao về năng lực công nghệ, thiết bị, quản lý. Hoạt động sản xuất, kinh
doanh đã có sự gắn kết chặt chẽ giữa mục tiêu lợi nhuận, kinh tế với trách nhiệm
bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên khoáng sản. Do khả năng đầu tư còn hạn
chế nên các mỏ khai thác quy mô công nghiệp ở nước ta hiện chưa đồng đều về
hiệu quả kinh tế, về việc chấp hành các quy định của pháp luật về khoáng sản, về
bảo vệ môi trường.
- Khai thác, chế biến khoáng sản quy mô nhỏ, tận thu
Hình thức khai thác này đang diễn ra phổ biến ở hầu hết các địa phương
trong cả nước và tập trung chủ yếu vào các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng
Ngoài ra nhiều tỉnh còn khai thác than, quặng sắt, antimon, thiếc, chì, kẽm, bôxit,
quặng ilmenit dọc theo bờ biển để xuất khẩu. Do vốn đầu tư ít, khai thác bằng
phương pháp thủ công hoặc bán cơ giới là chính, nên trong quá trình khai thác, chế
biến đã làm ảnh hưởng đến môi trường, cảnh quan.
- Khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản
Việc khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản, kéo theo các hậu quả
nghiêm trọng như tàn phá môi trường, làm thất thoát, lãng phí tài nguyên. Việc
khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản gây hậu quả lớn đến môi trường, chủ
12
Bảng 1.1. Tác động đến môi trường không khí trong quá trình khai thác
khoáng sản.
Môi
trường
Dạng tác
động
Sinh bụi
Môi
trường
không
khí
Nguyên nhân
-Các quá trình bốc dỡ,vận chuyển nguyên liệu và sản
phẩm.
-Các quá trình đập,nghiền,sàng.
-Các quá trình sấy nguyên liệu và sản phẩm.
-Các quá trình gia công nhiệt sản phẩm.
Khí thải
-Các quá trình đốt cháy nhiên liệu.
chứa khí độc
-Khí thải bốc ra từ nguyên liệu và sản phẩm trong quá
tới 182,6 triệu m3 đất đá và khoảng 70 triệu m3 nước thải từ mỏ.
Quá trình khai thác khoáng sản thường qua ba bước: mở cửa mỏ, khai thác
và đóng cửa mỏ. Như vậy, tất cả các công đoạn khai thác đều tác động đến tài
nguyên và môi trường đất. Hơn nữa, công nghệ khai thác hiện nay chưa hợp lý, đặc
biệt các mỏ kim loại và các khu mỏ đang khai thác hầu hết nằm ở vùng núi và trung
du. Vì vậy, việc khai thác khoáng sản trước hết tác động đến rừng và đất rừng xung
quanh vùng mỏ.
1.2.3.3 Tác động đến thảm thực vật rừng gây biến đông quần thể sinh học
Một số nơi khai thác các loại khoáng sản phải phá bỏ các rừng nguyên sinh,
các rừng phòng hộ làm cho các loài sinh vật không có nơi sinh sống phải di cư làm
cho quá trình phát triển của chúng cũng như sự ổn định đa dạng sinh học không
được đảm bảo.
Bảng 1.2. Tác động đến môi trường sinh thái trong quá trình khai thác
khoáng sản.
Phá rừng
Môi
trường
sinh thái
Thực vật và
động vật bị
suy thoái
Bệnh nghề
nghiệp
-Chiếm đất xây dựng công nghiệp và dân dụng.
-Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp.
-Cung cấp nguyên liệu và nhiên liệu cho sinh hoạt khu
dân cư.
khoáng sản như Sắt Titan nằm ngay mép nước biển khoảng 80 - 100m, do
vậy nguy cơ xói lở bờ biển là rất lớn, điều đó có thể thành hiện thực khi có
bão lớn, triều cường, hoặc mực nước biển dâng do biến đổi khí hậu toàn cầu.
Tại các khu vực khai thác các loại khoáng sản ở gần bờ biển đã xuất hiện
các hiện tượng địa chất động lực ven biển như biến dạng đường bờ biển, sạt
lở bờ moong, cát bay, cát chảy…
Do đặc thù của khai thác mỏ là một hoạt động công nghiệp không giống các
hoạt động công nghiệp khác về nhiều mặt, như phải di dời một khối lượng lớn đất
đá ra khỏi lòng đất tạo nên một khoảng trống rất lớn và rất sâu. Một khối lượng lớn
chất thải rắn được hình thành do những vật liệu có ích thường chỉ chiếm một phần
nhỏ của khối lượng quặng được khai thác, dẫn đến khối lượng đất đá thải vượt khối
lượng quặng nằm trong lòng đất. Chất thải rắn, không sử dụng được cho các mục
đích khác, đã tạo nên trên bề mặt đất địa hình mấp mô, xen kẽ giữa các hố sâu và
các đống đất, đá.
1.2.3.5 Mâu thuẫn xã hội
Công nghiệp khai thác khoáng sản là phương tiện đi đến xóa đói, giảm nghèo
và phát triển bền vững. Như vậy, về lý thuyết, khai thác khoáng sản góp phần làm
tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và cải thiện cơ sở hạ tầng. Những yếu tố
này chính là động lực cho xóa đói, giảm nghèo.
15
Bảng 1.3. Tác động tới môi trường kinh tế xã hội trong quá trình khai thác
khoáng sản.
-Không sử dụng nhân lực địa phương.
-Người nơi khác đến tìm việc làm.
-Gia tăng dân số.
-Mức độ hợp lí các giải pháp về dịch vụ các
Đô thị hóa với các mức
nghiệp khai thác khoáng sản không có tính ổn định và bền vững. Hoạt động này chủ
yếu phụ thuộc vào nguồn tài nguyên không tái tạo, có nghĩa là, hoạt động này sẽ
chấm dứt và công nhân sẽ mất việc làm khi mỏ cạn kiệt.
Thứ ba, ngành khai khoáng có tác động rất lớn đến môi trường sống. Bụi,
khí độc, nước thải...của ngành khai khoáng đang là thủ phạm trực tiếp khiến cho
môi trường sống đang bị suy thoái nghiêm trọng.
Thứ tư, đời sống dân cư, an ninh trật tự của khu vực có khoáng sản bị
biến động. Bởi, các mỏ khai khoáng thường thu hút nguồn lao động từ nhiều địa
16
phương khác đến, việc nhập cư với số lượng lớn lao động dẫn đến nhiều hệ lụy. Giá
cả thị trường tăng, đời sống văn hóa, truyền thống địa phương bị tác động, tình hình
xã hội phức tạp...
1.2.3.6 Thiếu tài nguyên khoáng sản cho phát triển kinh tế trong tương lai
Việc khia thác không hợp lý nguồn tài nguyên không chỉ ảnh hưởng đến môi
trường mà còn ảnh hưởng nhiều đến trữ lượng và chất lượng của tài nguyên. Khai
thác thiếu định hướng thiếu quản lý sẽ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng và thiếu
tài nguyên trong tương lai là điều không thể tránh khỏi. Trên thế giới có nhiều quốc
gia đã rơi vào “ Cái bẫy tài nguyên”như Nigeria, Angola, Hà Lan… do mất cân đối
trong cơ cấu kinh tế, do nền quản trị yếu kém và lạc hậu về khoa học công nghệ.
Trong việc khai thác tài nguyên hiện nay đang có nhiều tranh chấp trong sử
dụng tài nguyên và môi trường, nhiều hoạt động phát triển được tiến hành đồng thời
trên cùng một không gian lãnh thổ. Vì vậy cần so sánh hiệu quả kinh tế và môi
trường của các phương án quy hoạch, để lựa chọn quy hoạch ngành kinh tế ưu tiên
phát triển, đem lại hiệu quả cao trong một khoảng thời gian nhất định. Không nhất
thiết cứ phải ngay hôm nay khai thác hết loại khoáng sản để rồi tương lai phải đi
mua. Vì vậy việc khai thác các mỏ khoáng sản phải là sự lựa chọn khôn ngoan, thực
chất đây là một sự đánh đổi chọn lọc giữa các ngành kinh tế như phát triển du lịch
vẫn luôn là nhân tố tất yếu để phát triển và càng ngày càng được sử dụng vào nhiều
mục đích quan trọng. Tuy nhiên, nếu việc sử dụng không kèm theo bảo vệ sẽ dẫn
đến nhiều hệ lụy và đi vào cạn kiệt, sút kém về cả số lượng và chất lượng. Từ đó đòi
hỏi nhà nước cũng như các tổ chức phải có những chính sách khai thác phù hợp, tiết
kiệm, khai thác luôn đi đôi với bảo vệ môi trường. Đảm bảo cho sự phát triển của
nền kinh tế nước ngày càng phát triển toàn diện và bền vững trong tương lai.
1.3. Tổng quan một số nghiên cứu về tác động của khai thác khoáng sản
đến môi trường và sức khỏe.
Quản lý khai thác tài nguyên khoáng sản đi đôi với bảo vệ môi trường là một
vấn đề quan trọng trong phát triển bền vững hiện nay của mỗi quốc gia. Việc làm
thế nào vừa sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên vừa đảm bảo được môi trường trong
lành, xanh sạh đẹp là một yêu cầu đối với các nhà quản lý. Đây là điều rất quan
trọng trong đời sống của người dân nói riêng và sự phát triển của toàn xã hội nói
chung; là một vấn đề mang tính bức thiết hiện nay vì vậy đã có nhiều tác giả trong
và ngoài nước nghiên cứu từ lý luận đến thực tế để làm rõ những ảnh hưởng của
khai thác khoáng sản đến môi trường.
+ Các công trình nghiên cứu trong nước:
-
Tháng 5 năm 2012 sinh viên Hoàng Cúc Phương, khoa Tài nguyên Môi
trường, đại học Nông lâm Thái Nguyên nghiên cứu đề tài “ Đánh giá ảnh hưởng
của hoạt động khai thác quặng apatit đến môi trường tại mỏ apatit Lào Cai”. Nghiên
cứu đã cung cấp và đánh giá chi tiết hiện trạng khai thác và tác động của việc khai
thác apatit ở Lào Cai đến môi trường xung quanh như ảnh hưởng đến môi trường
đất, không khí, nước. Các chất thải nguy hại có liên quan từ việc khai thác apatit.
18
20
CHƯƠNG II
ẢNH HƯỞNG TỚI MÔI TRƯỜNG CỦA HOẠT ĐỘNG
KHAI THÁC ĐÁ XÂY DỰNG VÀ ĐẤT SỎI ĐỎ
Ở THẠCH HÀ-HÀ TĨNH
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, tài nguyên và môi trường huyện
Thạch Hà-Hà Tĩnh.
2.1.1 Vị trí địa lý
Thạch Hà là huyện có lịch sử từ lâu đời của tỉnh Hà Tĩnh với hơn 1000 năm
hình thành và phát triển, với vị trị trung độ nằm phần phái Đông tỉnh Hà Tĩnh, trên
tọa độ 18,10 08 – 18,29 độ vĩ Bắc và 105,38 -106,2 độ kinh đông; phía bắc giáp các
huyện Can Lộc và Lộc Hà; phía nam giáp huyện Cẩm Xuyên; phía tây là huyện
Hương Khê và phía đông là biển. Thành phố Hà Tĩnh nằm lọt vào giữa, cắt địa bàn
huyện thành hai phần tách rời nhau. Phần phía tây là các xã, duyên sơn và đồng
bằng, phần phía đông là các xã duyên hải.
2.1.2 Địa hình
Địa hình huyện Thạch Hà có xu hướng thấp dần từ Tây Nam sang Đông, bị
chia cắt thành bởi 3 hệ thống sông: Nghèn, Rào Cái và sông Cày nên hình thành ba
vùng địa hình khá rõ rệt: vùng đồng bằng, vùng bán sơn địa và vùng ven biển.
Bảng 2.1: Diện tích các vùng của huyện Thạch Hà năm 2015
Đất
Diện tích (km2)
%
Đồng bằng
176.2
49.63
Đồi núi-Bán sơn địa
118.35
33.34
2.1.3.1 Tài nguyên đất
- Tài nguyên đất: Năm 2015, tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là
35.443,3 ha với các loại đất chủ yếu sau:
+ Đất cồn cát, bãi cát ven biển: Diện tích khoảng 8.845 ha, chiếm 24,89%
diện tích tự nhiên. Loại đất này thích hợp cho việc trồng các loại cây lâm nghiệp để
chắn sóng và chắn cát bay, có kết cấu rời rạc, nghèo dinh dƣỡng đang có nguy cơ sa
mạc hóa nếu không có phƣơng án cải tạo tốt.
+ Đất cát pha, cát nhẹ: Có diện tích 3.600 ha, chiếm 10,13% tổng diện
tích tự nhiên toàn huyện. Loại đất này thích hợp với trồng các loại cây công
nghiệp ngắn ngày.
+ Đất chua mặn, nhiễm mặn, mặn: Có diện tích 600 ha, tập trung chủ yếu ở
các khu vực sông Nghèn, Rào Cái, sông Cày (nhiều nhất ở các xã: Thạch Sơn,
Thạch Kênh và Thạch Long). Đất có thành phần cơ giới trung bình, nếu đƣợc thau
chua, rửa mặn sẽ thích hợp với trồng lúa. Đất này chuyển sang nuôi trồng hải sản ở
những nơi có điều kiện sẽ có hiệu quả kinh tế cao.
+ Đất nông nghiệp: 23.040,47 ha, chiếm 64,9% diện tích tự nhiên
+ Đất phi nông nghiệp: 9.092,68 ha, chiếm 25,61% diện tích tự nhiên
+ Đất chưa sử dụng: 3.370,63 ha, chiếm 9,49% diện tích tự nhiên