Tăng cường công tác quản trị hàng tồn kho tại Công ty TNHH Vinasanwa - Pdf 39

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài:
TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ HÀNG TỒN KHO
TẠI CÔNG TY TNHH VINA-SANWA

Giảng viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Mã sinh viên
Lớp

: TS. Nguyễn Thị Minh Huệ
: Vũ Thị Huyền
: 11121764
: Tài chính doanh nghiệp Pháp 54

Hà Nội - 2016


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU......................................................................................................................1

DANH MỤC BẢNG
MỞ ĐẦU......................................................................................................................1


LỜI CẢM ƠN
Bằng tất cả sự kính trọng và lòng biết ơn của mình, em xin được bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc tới TS.Nguyễn Thị Minh Huệ, đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ, động

Với sự cạnh tranh khốc liệt đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải làm như thế nào để
đứng vững trên thị trường. Đáp ứng tốt nhất nhu cầu người tiêu dùng, với chất
lượng sản phẩm cao giá thành phải chăng.
Để làm được điều đó ngoài việc xây dựng được chiến lược kinh doanh hợp lý
thì các doanh nghiệp cần giám sát các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Từ các khâu tìm kiếm các nhà cung ứng uy tín, đến việc thu mua
nguyên vật liệu đến khi tìm được thị trường tiêu thụ sản phẩm cần được bảo đảm,
tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn, đạt hiệu quả cao trong sản xuất. Tìm kiếm lợi
nhuận tạo điều kiện tích luỹ vốn mở rộng sản xuất.
Hàng tồn kho là một bộ phận của vốn lưu động của doanh nghiệp và nó
chiếm tỷ trọng tương đối lớn. Vì vậy quản trị hàng tồn kho đóng vai trò vô
cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Công
tác quản trị hàng tồn kho có nhiệm vụ duy trì lượng hàng tồn kho hợp lý nhằm
phục vụ cho quá trình sản xuất thông suốt, không bị gián đoạn. Bên cạnh đó là
đảm bảo có đủ hàng hoá đáp ứng yêu cầu của thị trường. Qua đó đáp ứng tốt
hơn nhu cầu khách hàng nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên
thị trường.
Công ty là một loại doanh nghiệp liên doanh nước ngoài, hoạt động sản
xuất kinh doanh chủ yếu của công ty là chuyên sản xuất và cung cấp các loại cửa
thép chống cháy, cửa thép thường, các loại cửa cuốn chống cháy, cửa cuốn
thường và các sản phẩm liên quan. Sản phẩm thích hợp cho các toà nhà cao tầng,
chung cư cao cấp, khách sạn, nhà máy, văn phòng, bệnh viện, hộ gia đình .
1


Chính vì vậy công tác quản trị hàng tồn kho là một trong những vấn đề luôn
được quan tâm hàng đầu. Việc hoàn thiện công tác quản trị hàng tồn kho là một
trong những ưu tiên hàng đầu của công ty, nhằm bảo quản hàng hoá, nguyên vật
liệu cũng như việc công tác dự trữ những mặt hàng này.
Xuất phát từ những ý trên, em đã ý thức được tầm quan trọng của công

Đang trong quá trình sản xuất kinh doanh dở dang

Nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ để sử dụng trong quá trình sản xuất
kinh doanh hoặc cung ứng dịch vụ.
Hàng tồn kho bao gồm:
 Nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ tồn kho, đã mua đang đi đường
hoặc gửi đi gia công chế biến.
 Hàng hóa mua để bán: hàng hóa tồn kho, hàng mua đang đi đường, hàng
gửi đi gia công, chế biến, hàng gửi bán.
 Hàng hóa thành phẩm: thành phẩm tồn kho và thành phẩm gửi bán.
 Sản phẩm dở dang: sản phẩm chưa hoàn thành hoặc sản phẩm hoàn thành
nhưng chưa làm thủ tục nhập kho
 Chi phí dịch vụ dở dang
Tất cả các thành phần trên đều được coi là hàng tồn kho và chiếm một phần
lớn trong tỷ lệ tài sản kinh doanh của doanh nghiệp. Vì doanh thu từ hàng tồn kho là
một trong những nguồn thu cơ bản tạo ra doanh thu và những khoản thu nhập thêm
sau này cho doanh nghiệp. Đó là những tài sản đã sẵn sàng để đem bán hoặc sẽ
được đem bán.
3


Nếu để hàng tồn kho quá lâu sẽ làm ảnh hưởng không tốt tới quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vì, khi đó doanh nghiệp sẽ phải chịu những
khoản chi phi sau: chi phí dự trữ, chi phí thanh lý hay cải tiến hàng bị lỗi thời, và
thanh lý hàng bị hư hỏng. Tuy nhiên, việc không dự trữ đủ hàng tồn kho cũng gây
ra rủi ro cho doanh nghiệp vì có khả năng làm giảm hoặc mất các khoản doanh thu
bán hàng tiềm năng hoặc thị phần nếu sau này giá lên mà doanh nghiệp không còn
lượng hàng dự trữ để bán.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quản trị hàng tồn kho. Sau khi
nghiên cứu, em đã tóm tắt lại khái niệm quản trị hàng tồn kho như sau:

thích hợp sẽ mang lại cho doanh nghiệp sự thuận lợi trong hoạt động mua vật tư và
hoạt động sản xuất. đặc biệt, bộ phận cung ứng vật tư sẽ có lợi khi có thể mua một
số lượng lớn và được hưởng giá chiết khấu từ các nhà cung cấp. Ngoài ra, khi
doanh nghiệp dự đoán rằng trong tương lai giá cả nguyên vật liệu sẽ tăng hay một
loại nguyên vật liệu nào đó khan hiếm, hoặc cả hai, thì việc lưu giữ một số lượng
hàng tồn kho lớn sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp luôn được cung ứng đầy đủ, kịp thời
với chi phí ổn định.
Bộ phận sản xuất trong việc thực hiện các kế hoạch sản xuất cũng như sử dụng
hiệu quả các phương tiện sản xuất và nhân lực của mình cũng cần một số lượng
hàng tồn kho luôn có sẵn thích hợp. Do vậy, chúng ta có thể hiểu được là tại sao
các bộ phận sản xuất và cung ứng vật tư trong các doanh nghiệp luôn muốn duy trì
một số lượng lớn hàng tồn kho nguyên vật liệu.
1.1.2.2.Tồn kho sản phẩm dở dang
Tồn kho sản phẩm dở dang bao gồm tất cả các mặt hàng hiện đang còn nằm
tại một công đoạn nào đó của quá trình sản xuất. Ví dụ sản phẩm dở dang trong một
vài công đoạn (như lắp ráp hoặc hoàn thiện sản phẩm), sản phẩm dở dang có thể
đang nằm trung chuyển giữa các công đoạn, hoặc có thể đang được cất giữ tại một
nới nào đó, chờ bước tiếp theo trong quá trình sản xuất.
Tồn trữ sản phẩm dở dang là một phần tất yếu của hệ thống sản xuất công
nghiệp hiện đại bởi vì nó sẽ mang lại cho mỗi công đoạn trong quá trình sản xuất
một mức độ độc lập cao hơn. Hơn nữa, sản phẩm dở dang sẽ giúp doanh nghiệp lập
kế hoạch sản xuất hiệu quả cho từng công đoạn và tối thiểu hóa chi phí phát sinh do
ngừng trệ sản xuất hay có thời gian nhàn rỗi. Vì những lý do này mà bộ phận sản
xuất của các doanh nghiệp sẽ luôn muốn duy trì một mức tồn trữ sản phẩm dở dang
hợp lý. Khi một doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất dài hơn thì mức độ tồn trữ sản
phẩm dở dang cũng lớn hơn.
1.1.2.3.Tồn kho thành phẩm
Tồn kho thành phẩm bao gồm những sản phẩm đã hoàn thành chu kỳ sản xuất
của mình và đang nằm chờ tiêu thụ. Ngoại trừ các thiết bị có quy mô lớn, các thiết
bị đặc biệt như các máy móc công nghiệp, khí tài quân sự, máy bay và các lò phản

hiện vật ban đầu. Về mặt giá trị, công cụ, dụng cụ cũng bị hao mòn dần trong quá
trình sử dụng. Bởi vậy, khi phân bổ giá trị công cụ, dụng cụ vào chi phí sản xuất
kinh doanh, kế toán phải sử dụng phương pháp phân bổ thích hợp sao cho vừa đơn
giản trong công tác kế toán vừa đảm bảo được tính chính xác của thông tin kế toán
mở mức có thể tin cậy được.
Thứ ba: Thành phẩm là sản phẩm đã được chế tạo xong ở giai đoạn chế biến
cuối cùng của quy trình công nghệ trong doanh nghiệp, được kiểm nghiệm đủ tiêu
chuẩn kỹ thuật quy định và nhập kho. Sản phẩm của các doanh nghiệp công nghiệp
sản xuất ra chủ yếu là thành phẩm, ngoài ra có thể có bán thành phẩm. Những sản
6


phẩm hàng hóa xuất kho để tiêu thụ, đã thanh toán hay chấp nhận thanh toán gọi là
sản lượng hàng hóa thực hiện.
Thứ tư: Sản phẩm dở dang là những sản phẩm đến cuối kỳ kinh doanh vẫn
chưa hoàn thành nhập kho, chúng vẫn còn tồn ở các phân xưởng sản xuất. Có
những sản phẩm đã hoàn thành nhưng chưa nhập kho mà doanh nghiệp xuất bán
trực tiếp hoặc gửi bán thì được ghi giảm giá trị sản phầm dở dang.
Thứ năm: Hàng hóa (tại các doanh nghiệp thương mại) được phân theo từng
ngành hàng, gồm có: Hàng vật tư thiết bị, hàng công nghệ phẩm tiêu dùng, hàng
lương thực, thực phẩm chế biến. Kế toán phải ghi chép số lượng, chất lương, và giá
phí chi tiêu mua hàng theo chứng từ đã lập trên hệ thống sổ thích hợp, phân bổ hợp
lý chi phí mua hàng cho số hàng đã bán và tồn cuối kỳ.
1.1.4.Vai trò, ý nghĩa của công tác quản trị hàng tồn kho
 Vai trò:
- Đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường theo đúng
kế hoạch dự kiến: quá trình phân công lao động xã hội đã dẫn đến chuyên môn hóa
sản xuất. Kết quả của chuyên môn hóa sản xuất là hình thành nên các ngành, các
doanh nghiệp, các đơn vị kinh tế tương đối tách biệt nhau. Mặt khác, do đặc điểm
của sản xuất nên tiến độ và thời gian sản xuất sản phẩm không ăn khớp và đồng

vì vậy cần đảm bảo có đủ hàng hóa để cung ứng cho thị trường và xã hội.
1.2.Nội dung quản trị hàng tồn kho trong doanh nghiệp
1.2.1.Hoạch định
1.2.1.1.Dự báo nhu cầu
Trong ngành công nghiệp sản xuất, rất nhiều hoạt động, đều được dựa trên dự
báo nhu cầu sản xuất trong tương lai. Vì lý do này, các nhà sản xuất luôn xem dự
báo nhu cầu sản xuất là một trong những nền tảng quan trọng để thực hiện quy trình
sản xuất một cách chính xác, đúng thời điểm và hiệu quả.
Để giữ vị thế trên thương trường, nhà sản xuất phải nhanh chóng thích ứng với
thị trường biến động cũng như liên tục đem đến những sản phẩm chất lượng và dịch
vụ đột phá đến khách hàng. Vì vậy, họ cần đến dự báo nhu cầu sản xuất.
Dự báo nhu cầu sản xuất là một phần của hệ thống Hoạch định tài nguyên
doanh nghiệp (ERP) để dự toán số lượng nguyên vật liệu sản xuất, và tiên liệu
thói quen mua sắm của khách hàng để tối ưu hóa lượng hàng tồn kho mà vẫn đáp
ứng được nhu cầu khách hàng. Dự báo được dựa trên dòng thời gian, là một
trong những phương pháp dự báo phổ biến nhất, lấy dữ liệu lịch sử để đưa ra dự
báo tương lai. Tuy nhiên, phương pháp này lại bỏ qua các yếu tố ngoại sinh
trong quá trình sản xuất dựa trên số lượng nhu cầu trong những kì trước. Nó cho
phép kỹ sư sản xuất kết hợp các tình huống giả định trong kế hoạch sản xuất của
mình và đưa ra các hoạt động thích hợp để đảm bảo mục tiêu sản xuất. Các hoạt
động đó được bắt đầu từ số liệu dự toán, vì vậy dự đoán nhu cầu ảnh hưởng trực
tiếp đến hiệu suất của công việc lập kế hoạch sản xuất và quản lý rất nhiều quy
trình và hệ thống trong doanh nghiệp như bán hàng, sản xuất, tài chính, cung ứng
và phân phối.
8


Dự đoán nhu cầu sản xuất là công cụ chính cho các nhà sản xuất xác định
chính xác tỷ lệ cung ứng hàng hóa tối ưu nhất là bao nhiêu, từ đó xây dựng ra kế
hoạch mua vật liệu tương ứng để giữ mức sản xuất ở mức vừa đủ, cắt giảm chi phí.

 Mô hình lượng đặt hàng kinh tế cơ bản (EOQ)
9


Mô hình được xây dựng dựa trên 6 giả thiết cơ bản là:
- Nhu cầu cả năm phải biết trước và không thay đổi
- Phải biết trước chu kỳ đặt hàng, chu kỳ đặt hàng ngắn và không thay đổi
- Lượng hàng của một đơn hàng được thực hiện trong một chuyến hàng ở một
thời điểm đã định trước
- Sự thiếu hụt trong tồn kho hoàn toàn không xảy ra nếu như đơn hàng thực
hiện đúng thời gian
- Không tiến hành khấu trừ theo số lượng
- Duy nhất chỉ có 2 loại chi phí là chi phí đặt hàng và chi phí tồn trữ.
Với 6 giả thiết trên, mô hình này đưa ra công thức tính toán sản lượng đơn
hàng tối ưu của mỗi đơn hàng (ký hiệu Q*) theo công thức (1) và tổng chi phí tồn
kho tối thiểu (ký hiệu C*) theo công thức (2) sau đây:
Q*=

(1)

C*=

Trong đó:
D: nhu cầu nguyên vật liệu cả năm
S: chi phí đặt hàng cho mỗi đơn hàng
H: chi phí tồn trữ tính cho 1 đơn vị sản phẩm
Mô hình EOQ
Q

Q*

Trên đồ thì ROP được biểu diễn như sau:

Q*

ROP

 Mô hình lượng đặt hàng theo sản xuất (POQ)
Mô hình này được áp dụng trong trường hợp lượng hàng được đưa đến một
cách liên tục, hàng được tích lũy dần trong một thời kỳ sau khi đơn đặt hàng được
ký kết, khi những sản phẩm vừa được sản xuất vừa được bán ra một cách đồng thời.
Trong những trường hợp như thế, chúng ta phải quan tâm đến mức sản xuất hàng
ngày của nhà sản xuất và nhà cung ứng.
11


Vì mô hình này đặc biệt thích hợp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
người đặt hàng nên nó được gọi là mô hình sản lượng đặt hàng theo sản xuất.
Trong mô hình này được xây dựng trên các giả thiết sau:
- Nhu cầu cả năm phải biết trước và không thay đổi
- Phải biết trước chu kỳ đặt hàng, chu kỳ đặt hàng ngắn và không thay đổi
- Lượng hàng của một đơn hàng có thể được thực hiện trong nhiều chuyến
hàng ở những thời điểm đã định trước
- Sự thiếu hụt trong tồn kho hoàn toàn không xảy ra nếu như đơn hàng thực
hiện đúng thời gian
- Không tiến hành khấu trừ theo sản lượng
- Duy nhất chỉ có 2 loại chi phí là chi phí đặt hàng và chi phí tồn trữ.
Nếu ta gọi:
Q: sản lượng của đơn hàng
H: chi phí tồn trữ cho 1 đơn vị tồn kho mỗi năm
P: mức độ sản xuất (cũng là mức độ cung ứng hàng ngày)

Mức tồn kho tối đa = P.

- d. = Q(1- )

Như đã trình bày ở trên, chúng ta có thể tính chi phí tồn trữ hàng năm (bằng
tích số của mức tồn kho tối đa chia 2 và nhân với chi phí tồn trữ cho 1 đơn vị hàng
trong năm) như sau:
Chi phí tồn trữ hàng năm =

(1- ).H

Để tìm được sản lượng hàng năm tối ưu chúng ta cho:
Chi phí tồn trữ hàng năm = chi phí đặt hàng năm
Có nghĩa:

Q* =

13


TC = Cđh + Ctt =
 Hệ thống tồn kho kịp thời (Just In Time inventory system – JIT)
Một doanh nghiệp tiến hành thực hiện hệ thống tồn kho JIT chỉ phải mua mỗi
ngày một lượng hàng đủ dùng trong ngày. Mọi hàng hóa mua trong ngày sẽ được
giao lập tức cho khách hàng, do vậy sẽ không có gì cần phải để trong kho hàng hóa.
Vậy “kịp thời” có nghĩa nguyên vật liệu được nhận đúng lúc để sử dụng sản xuất và
được giao bán đúng lúc cho khách hàng. Để tránh tồn đọng hàng mà vẫn đảm bảo
sự vận chuyển nhẹ nhàng của hàng hóa trong doanh nghiệp sản xuất khi áp dụng hệ
thống JIT thì bộ phận bán hàng sẽ đưa ra tín hiệu để xác định hàng hóa cần bán
trong thời gian tới, tín hiệu sẽ được truyền đến bộ phận phụ trách việc cung ứng để

dùng vào việc khác.
- Có tính linh động cao trong phối hợp mua bán.
- Tạo áp lực để xây dựng mối quan hệ tốt với các nhà cung cấp
1.2.2.Tổ chức thực hiện
Trong khâu bảo quản dự trữ: Phải luôn đảm bảo kho, bến bãi tốt,thực hiện
đúng chế độ bảo quản. Xác định được định mức dự trữ tối thiểu, tối đa cho từng loại
hàng tồn kho, cung ứng kịp thời cho sản xuất, tiêu thụ với chi phí tồn trữ thấp nhất.
Khi hàng tồn kho vượt quá định mức tối đa, tối thiểu thì phải có cảnh báo kịp thời
để điều chỉnh cho hợp lý không bị ngưng đọng hàng hóa trong kho, góp phần nâng
cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Hàng hóa được sắp xếp khoa học là một trong những yếu tố giúp việc tìm
kiếm, vận chuyển, nhập xuất kho được tiến hành nhanh hơn, tiết kiệm thời gian và
sức lực. Những hàng hóa được sử dụng thường xuyên, số lượng lớn nên để ở vị trí
gần với cửa ra vào và ngược lại. Có được cách sắp xếp, bố trí hàng hóa, vật tư khoa
học là một trong những yếu tố giúp tiết kiệm diện tích kho bãi, gia tăng năng suất
lao động cùng với việc tra xuất, quản lý, kiểm soát được thuận tiện, dễ dàng hơn.
Trong khâu thu mua: Việc quản lý hàng tồn kho hiệu quả một mặt phải theo
dõi nắm bắt thông tin về tình hình thị trường, khả năng cung ứng của nhà cung cấp,
các chính sách cạnh tranh tiếp thị được các nhà cung cấp áp dụng, tính ổn định của
nguồn hàng,…Đồng thời phải quản lý chặt chẽ về số lượng, chất lượng, quy cách
phẩm chất, chủng loại giá mua, chi phí mua và tiến độ thu mua, cung ứng phù hợp
với kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.2.3.Kiểm soát hàng tồn kho
Trong một doanh nghiệp, hàng tồn kho bao giờ cũng là một trong những tài
sản có giá trị lớn nhất trên tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp đó. Thông thường
giá trị hàng tồn kho chiếm 40% – 50% tổng giá trị tài sản của một doanh nghiệp.
Chính vì lẽ đó, việc kiểm soát tốt hàng tồn kho luôn là một vấn đề hết sức cần thiết
và chủ yếu trong quản trị sản xuất tác nghiệp.
 Kiểm soát mức dự trữ
15

- Việc theo dõi ghi sổ nhật ký hàng vận chuyển .
- Kiểm tra việc thực hiện kiểm tra chất lượng hàng nhập, xuất kho, quy trình
làm việc và xác nhận chất lượng hàng nhập kho của bộ.
- Xem xét tính độc lập của thủ kho với người giao nhận hàng và các kế toán
viên phần hàng tồn kho.
• Đối với kiểm soát sản xuất và chi phí sản xuất:
Thông thường ở doanh nghiệp sản xuất có một bộ phận kiểm soát sản xuất để
16


xem xét số lượng chủng loại sản phẩm được sản xuất có đúng theo yêu cầu hay lệnh
sản xuất không, kiểm soát chất lượng sản phẩm ở các phân xưởng, phế liệu cũng
như kiểm soát quá trình bảo vệ và theo dõi nguyên vật liệu của phân xưởng sản
xuất. Ngoài ra doanh nghiệp cũng có một cơ cấu kiểm soát nội bộ đối với kế toán
chi phí sản xuất để chi phí sản xuất được tính đúng đủ hợp lý cho từ đối tượng. Khi
kiểm tra cơ cấu kiểm soát sản xuất và chi phí sản xuất, kiểm toán viên cũng có thể
tiến hành xem xét một số vấn đề củ yếu sau:
- Việc ghi chép của nhân viên thống kế phân xưởng tổ, đội, cũng như sự giám
sát của quản đốc phân xưởng hoặc tổ trưởng, đội trưởng có thường xuyên và chặt
chẽ không.
- Xem xét việc chép nhật ký sản xuất của từng bộ phận sản xuất theo dõi số
lượng, chất lượng, chủng loại, sản phẩm hỏng, phế liệu. .
- Quan sát quy trình làm việc bộ phận kiểm tra chất lượng ở phân xưởng, tính
độc lập của bộ phận này với bộ phận kiểm nhận hàng nhập kho.
- Xem xét mẫu kiểm soát công tác kế toán chi phí của Doanh nghiệp có được
thực hiện thường xuyên hay không. Điều đó được thể hiện thông qua các dấu hiệu
kiểm tra số kế toán chi phí của những người có trách nhiệm và độc lập với những
người ghi sổ.
- Xem xét phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang có tuân thủ đúng nguyên
tắc và tính nhất quán giữa kỳ này so với kỳ trước hay không, cũng như sự giám sát

vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất đáp ứng được
nhu cầu khách hàng.
 Kỳ luân chuyển hàng tồn kho

Chỉ tiêu này cho biết thời gian cần thiết để tiêu thụ số hàng tồn kho bình
quân trong kì của DN. Thời gian của kì phân tích một tháng là 30 ngày, một quý là
90 ngày, một năm là 360 ngày hoặc 365 ngày. Để duy trì hoạt động kinh doanh thì
hàng hoá cần phải trữ ở một số lượng cần thiết nào đó. Tuy nhiên, lưu giữ quá nhiều
hàng tồn kho đồng nghĩa với việc vốn sử dụng kém hiệu quả (dòng tiền sẽ giảm đi
do vốn kém hoạt động và như vậy lãi vay sẽ tăng lên). Điều này làm tăng chi phí
lưu giữ hàng tồn kho và tăng rủi ro khó tiêu thụ hàng tồn kho này do có thể không
hợp nhu cầu tiêu dùng cũng như thị trường kém đi. Do vậy tỷ số này cần xem xét để
xác định thời gian tồn kho có hợp lý theo chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp và mức độ bình quân chung của ngành cũng như mức tồn kho hợp lý đảm
bảo cung cấp được bình thường.
1.2.4.3. Chỉ tiêu đánh giá tác động của công tác quản trị hàng tồn kho đến sản xuất
18


kinh doanh.
 Thời gian gián đoạn sản xuất
Là khoảng thời gian mà một số bộ phận sản xuất của công ty phải ngưng hoạt
động tạm thời do một số điều kiện khách quan hoặc chủ quan tác động ví dụ như
không có đủ nguyên vật liệu để sản xuất, một số thiết bị máy móc bị hỏng đột
xuất…Chỉ tiêu này sẽ phản ánh phần nào hiệu quả của công tác quản trị hàng tồn
kho của công ty, có thể được tính theo quý, năm hoặc theo từng giai đoạn. Bởi vì,
nếu hoạt động quản trị hàng tồn kho của công ty không hiệu quả có thể làm gián
đoạn quá trình cung ứng nguyên vật liệu dẫn đến giảm hiệu suất sản xuất kinh
doanh và có thể bị trễ thời gian giao sản phẩm cho khách hàng, làm ảnh hưởng đến
hiệu quả hoạt động và uy tín của công ty đối với khách hàng.

tại kho để phát hiện nguyên nhân và có biện pháp xử lý kịp thời.
1.2.5.3.Khả năng tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp
Khả năng xâm nhập và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: chiến lược tiêu thụ của doanh nghiệp
đang theo đuổi, khả năng nguồn lực của công ty (sức mạnh tài chính, trình độ của
đội ngũ cán bộ kinh doanh, vị trí địa lý, danh tiếng của doanh nghiệp…), đặc tính
của khách hàng (số lượng khách hàng, thói quen tiêu dùng, khả năng thanh toán…),
đặc tính sản phẩm (tuổi thọ, kiểu dáng, chất lượng…). Do vậy, nhân tố này có ảnh
hưởng rất lớn đến lượng sản phẩm hàng hóa tồn kho của doanh nghiệp.
Nếu khả năng xâm nhập và mở rộng thị trường lớn tức là doanh nghiệp có thể
dự báo chính xác nhu cầu sử dụng sản phẩm hàng hóa trong kỳ. Vì vậy, sản phẩm
hàng hóa dự trữ hàng tồn kho cũng phải đảm bảo kịp thời cho hoạt động tiêu thụ
trên các thị trường đó.
Nếu khả năng xâm nhập và mở rộng thị trường thấp thì phải xác định mức tồn
kho hợp lý, tránh tình trạng để hàng hóa ứ đọng do không khai thác được nhu cầu ở
thị trường mới.
1.2.5.4.Rủi ro biến động khác
Đối với các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh quốc tế thì sự biến
động về tỷ giá hối đóa là một rủi ro lớn trong công tác quản trị hàng tồn kho
vì nó tác động đến giá cả hàng hóa khi tiến hành xuất nhập khẩu. Sự thay đổi
đột ngột của tỷ giá và sự trở ngại trong công tác dự báo chính xác tỷ giá là
những khó khan then chốt. Đồng thời, sự thay đổi tỷ giá còn làm các chi phí
giao dịch ra tăng khi khoảng không gian mua bán trong các thị trường ngoại
hối được mở rộng.
Để hạn chế sự tác động của rủi ro này, các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập
khẩu thường lựa chọn đồng tiền mạnh để xác định giá trị sản phẩm hàng hóa dự trữ
tồn kho.
1.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị hàng tồn kho của doanh nghiệp
1.3.1.Các nhân tố chủ quan
 Quy mô kinh doanh

 Quy mô, trình độ nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực luôn là nhân tố quyết định sự phát triển của công ty. Nếu
trình độ của đội ngũ cán bộ, nhân viên công ty thấp sẽ làm cho hoạt động kinh
doanh có thể bị gián đoạn, gây ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của
công ty. Ví dụ nếu máy móc bị hư hỏng bất ngờ mà nhân viên không biết cách xử lý
kịp thời sẽ làm giảm năng suất lao động hoặc bị gián đoạn hoạt động sản xuất do
máy móc bị hư hỏng bất ngờ mà không biết cách xử lý. Vì vậy, công ty cần tính
toán sao cho lường hàng dự trữ phù hợp với trình độ nguồn nhân lực của công ty.
21


 Cơ sở vật chất kỹ thuật
Nó phản ánh thực lực của công ty. Cơ sở vật chất kỹ thuật tốt, hiện đại tạo điều
kiện tốt trong dự trữ hàng hóa. Bởi công ty có cơ sở vật chất hiện đại thì doanh
nghiệp sẽ quản lý thông tin về các mặt hàng nhanh chóng, chính xác hơn, bảo quản
hàng hóa tốt hơn…làm tăng sức cạnh tranh của công ty so với các đối thủ cạnh
tranh. Nhưng nếu cơ sở vật chất thấp kém sẽ làm giảm chất lượng hàng hóa, tăng
chi phí dự trữ, hiệu quả hoạt động của công ty không cao và hạn chế trong vấn đề
nhập hàng, nếu tình trạng này kéo dài sẽ làm mất cơ hội kinh doanh của công ty.
 Thương hiệu, các lợi thế cạnh tranh
Xác định được nhân tố này sẽ giúp công ty xác định rõ hơn lượng hàng tồn kho
dự trữ. Nếu dự trự không đủ, làm gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ dẫn
tới việc công ty bị giảm uy tín, mất thị phần vào tay đối thủ cạnh tranh.
1.3.2.Các nhân tố khách quan
 Môi trường vĩ mô
-Môi trường kinh tế: Các chính sách kinh tế của Nhà nước, tốc độ tăng trưởng
kinh tế qua các năm chính là cơ sở để doanh nghiệp đánh giá, ra quyết định cho
mức tồn kho dự trữ của mình. Nếu nền kinh tế đang trong thời kỳ lạm phát mà
doanh nghiệp dự trữ quá ít sẽ làm cho chi phí tăng cao, làm giảm doanh thu, lợi
nhuận của doanh nghiệp. Tùy từng thời kỳ, từng năm mà doanh nghiệp phải theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status