Đánh giá mức độ nhận biết thương hiệu Maritime Bank tại thành phố Huế
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới cũng như trong nước có nhiều biến động,
những thách thức cũng như cơ hội đối với các doanh nghiệp ngày một lớn hơn, bên
cạnh đó, ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia vào thị trường cùng với hàng loạt
sản phẩm, dịch vụ mới được triển khai dẫn đến việc cạnh tranh ngày càng quyết liệt
giữa các doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, hay một lĩnh vực. Đứng trước
hoàn cảnh này, một trong những yếu tố quyết định giúp doanh nghiệp thành công đó
chính là việc thương hiệu của doanh nghiệp được người tiêu dùng nhận biết. Thương
hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp, có được một thương hiệu mạnh, giúp cho
doanh nghiệp tạo nên sự khác biệt trong quá trình phát triển sản phẩm, dịch vụ của
mình, đồng thời giúp thu hút đầu tư, gia tăng quan hệ với khách hàng…Điều quan
trọng là, doanh nghiệp phải đánh giá được mức độ nhận biết của người tiêu dùng đối
với thương hiệu của mình, từ đó có những hướng điều chỉnh phù hợp nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh trên thị trường.
Đặc biệt, trong lĩnh vực ngân hàng, khi mà các ngân hàng thương mại trong nước
không những cạnh tranh với nhau, mà còn phải trực tiếp đối đầu với những ngân hàng
nước ngoài xâm nhập vào thị trường trong nước. Có được khách hàng là yếu tố sống
còn của ngân hàng, và trước hết phải có được mức độ nhận biết thương hiệu nhất định
trong tâm trí của khách hàng.
Ngân hàng Maritime Bank chi nhánh Huế cũng không ngoại lệ, khi mà trên địa
bàn thành phố Huế có đến trên 20 ngân hàng đang hoạt động và Maritime bank mới
vào thị trường Huế trong khoảng một năm, thì việc đánh giá mức độ nhận biết của
khách hàng càng quan trọng và cấp thiết hơn. Đồng thời Huế đóng vai trò cầu nối giữa
hai miền Bắc - Nam, được xác định là một trong bốn tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng
điểm miền Trung; cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch đúng hướng, trong đó công nghiệp
và du lịch - dịch vụ chiếm gần 78% trong GDP; nhu cầu về các sản phẩm, dịch vụ
ngân hàng trong quá trình phát triển rất lớn. Ý thức được tầm quan trọng của vấn dề
này, tôi quyết định chọn đề tài: “Đánh giá mức độ nhận biết thương hiệu maritime
thành phố Huế. Cách thức thu thập thông tin được thực hiện theo cách phỏng vấn trực tiếp.
Mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phần tầng tỷ lệ, có chú ý về độ tuổi và nghề
nghiệp.
Công thức tính cỡ mẫu:
Z2 . p.(1-p)
n = ----------------e2
Z2: là giá trị tương ứng của miền thống kê (1-)/2 tính từ trung tâm của miền
phân phối chuẩn. Giá trị này được xác định một khi độ tin cậy đã được biết trước.
SV: Lê Tiến Trung - K42 QTKD TM
2
Đánh giá mức độ nhận biết thương hiệu Maritime Bank tại thành phố Huế
Trong kinh doanh, độ tin cậy (confidence level) thường được chọn là 95%. Lúc đó, Z
= 1,96.
P: tỉ lệ của hiện tượng cần nghiên cứu (chọn P=0.5)
e: sai số mẫu cho phép (chọn e=8%)
Như vậy, cỡ mẫu tính được là n=150
Theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng tỷ lệ, thì cơ cấu mẫu phân bố
vào các phường như bảng sau:
Bảng 1: Dân số thành phố Huế năm 2010 - tính đến ngày 31-12-2010
ĐVT: người
Tổng số
338.994
100%
150
7
Phường Phú Hiệp
13.207
3.90%
6
Phường Phú Hậu
10.257
3.03%
5
Phường Thuận Hoà
14.827
4.37%
7
Phường Thuận Thành
13.746
18.811
5.55%
8
Phường Phường Đúc
11.269
3.32%
5
Phường Vĩnh Ninh
7.628
2.25%
3
Phường Phú Hội
12.125
3.58%
5
9
Phường An Cựu
22.62
6.67%
10
SV: Lê Tiến Trung - K42 QTKD TM
3
Đánh giá mức độ nhận biết thương hiệu Maritime Bank tại thành phố Huế
Phường An Hoà
9.768
2.88%
4
Phường Hương Sơ
8.35
2.46%
4.69%
7
Phường An Tây
7.034
2.07%
3
(Nguồn: www.huecity.gov.vn/?cat_id=7)
Thiết kế bảng hỏi: Ban đầu, thảo luận tay đôi với một vài đối tượng theo một dàn
bài soạn sẵn để khai thác các vấn đề có liên quan đến đề tài nhận biết thương hiệu, từ
các thông tin thu thập được, sẽ tiến hành thiết lập bảng hỏi. Tiếp theo, tiến hành điều
tra thử 10 bản nhằm kiểm tra tính hợp lý của bản hỏi và hiệu chỉnh lại bản hỏi. Cuối
cùng, điều tra toàn bộ mẫu đã được chọn.
Phân tích dữ liệu: dữ liệu thu được sẽ tiến hành làm sạch, mã hóa và xử lý bằng
phần mềm spss 16.0, dùng phương pháp thống kê mô tả nhằm phân tích và đánh giá
các kết quả nhận được…
SV: Lê Tiến Trung - K42 QTKD TM
4
Đánh giá mức độ nhận biết thương hiệu Maritime Bank tại thành phố Huế
SV: Lê Tiến Trung - K42 QTKD TM
5
Đánh giá mức độ nhận biết thương hiệu Maritime Bank tại thành phố Huế
Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ: “Thương hiệu là một cái tên, biểu tượng, ký
hiệu, biểu tượng hoặc hình vẽ, kiểu thiết kế,…hoặc tập hợp các yếu tố trên nhằm xác
định và phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một người bán với hàng hóa và dịch vụ
của các đối thủ cạnh tranh”.
Theo Amber & Styles: “Thương hiệu (brand) là một tập hợp các thuộc tính cung
cấp cho khách hàng mục tiêu các giá trị mà họ đòi hỏi”, quan điểm này cho rằng, sản
phẩm chỉ là một thành phần của thương hiệu, chủ yếu cung cấp lợi ích chức năng cho
khách hàng và nó chỉ là một thành phần của thương hiệu, các yếu tố của marketing
mix (sản phẩm, giá cả, phân phối và xúc tiến) cũng chỉ là thành phần của thương hiệu.
Theo Philip Kotler: “Thương hiệu (brand) là sản phẩm, dịch vụ được thêm vào
các yếu tố để khác biệt hóa với sản phẩm, dịch vụ khác cũng được thiết kế để thỏa mãn
cùng một nhu cầu. Sự khác biệt này có thể là về mặt chức năng, các yếu tố hữu hình
của sản phẩm, chúng cũng có thể là những yếu tố mang tính biểu tượng, cảm xúc hoặc
vô hình mà thương hiệu thể hiện ra”.
Theo định nghĩa của tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): “Thương hiệu là một
dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hóa hay một
dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay tổ chức”.
Đối với pháp luật Việt Nam không có khái niệm Thương hiệu mà chỉ có khái
niệm Nhãn hiệu: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các
tổ chức khác nhau” (Điều 4 – khoản 16 – Luật sở hữu trí tuệ 2005)
Nhìn chung, có hai quan điểm về sản phẩm và thương hiệu: (1) Quan điểm truyền
thống cho rằng: thương hiệu là thành phần của sản phẩm. (2) Trong khi đó quan điểm
hiện đại cho rằng: sản phẩm là thành phần của thương hiệu. Trong đó, quan điểm thứ
hai ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu và thực tiễn chấp nhận. Lý do là khách hàng
Thương hiệu
Hình 1: Sản phẩm và thương hiệu
1.1.3. Cấu tạo của thương hiệu
Một thương hiệu thông thường được cấu tạo bởi hai phần:
Phần phát âm được: là những dấu hiệu có thể nói thành lời, tác động vào thính
giác người nghe như tên gọi, từ ngữ, chữ cái, câu khẩu hiệu (slogan), đoạn nhạc đặc
trưng...
Phần không phát âm được: là những dấu hiệu tạo sự nhận biết thông qua thị giác
người xem như hình vẽ, biểu tượng, nét chữ, màu sắc, kiểu cách, ..
1.1.4. Đặc điểm của thương hiệu
Thương hiệu có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất: thương hiệu là loại tài sản vô hình, có giá trị ban đầu bằng không. Giá trị của
nó được hình thành dần do sự đầu tư vào chất lượng sản phẩm và phương tiện quảng cáo.
Thứ hai: thương hiệu là tài sản thuộc sở hữu của doanh nghiệp, nhưng lại là nằm
ngoài phạm vi doanh nghiệp và tồn tại trong tâm tí người tiêu dùng.
Thứ ba: thương hiệu được hình thành dần qua thời gian nhờ nhận thức của người
tiêu dùng khi họ sử dụng sản phẩm của những nhãn hiệu được yêu thích, tiếp xúc với
hệ thống các nhà phân phối, và qua quá trình tiếp nhận thông tin về sản phẩm.
Thứ tư: thương hiệu là tài sản có giá trị tiềm năng, không bị mất đi cùng sự thua
lỗ của công ty.
SV: Lê Tiến Trung - K42 QTKD TM
7
Đánh giá mức độ nhận biết thương hiệu Maritime Bank tại thành phố Huế
Như vậy, khái niệm Thương hiệu có nghĩa rộng hơn Nhãn hiệu và nó chính là nội
dung bên trong của nhãn hiệu, hay nói cách khác nhãn hiệu là hình thức, là sự biểu
hiện ra bên ngoài của thương hiệu. Ngoài ra, thương hiệu còn có nhiệm vụ, tầm nhìn
8
Đánh giá mức độ nhận biết thương hiệu Maritime Bank tại thành phố Huế
nhận “trả” giá cao hơn so với thương hiệu khác và sẵn lòng giới thiệu cho người khác
về thương hiệu mà họ trung thành.
1.2.2.2. Tạo hình ảnh tốt về thương hiệu và tạo tính tin cậy
Một thương hiệu mạnh sẽ tạo cảm giác cho khách hàng tiềm năng về một ngân
hàng lớn, vững mạnh. Một thương hiệu tốt, có hiệu quả sẽ giúp cho ngân hàng có vẻ lớn
hơn so với thực tế. Hình ảnh về quy mô hoạt động của ngân hàng rất quan trọng trong
trường hợp khách hàng muốn có sự đảm bảo rằng ngân hàng mà họ dự định thiết lập
mối quan hệ tiền gửi, tiền vay, dịch vụ tài chính khác sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển
trong tương lai.
Ngoài ra, thương hiệu còn giúp cho ngân hàng nâng cao hình ảnh về chất lượng:
một sản phẩm có thương hiệu tốt thì có vẻ có chất lượng cao hơn so với sản phẩm
cùng loại của một thương hiệu chưa được phổ biến, hay thừa nhận.
Ngân hàng có thương hiệu tốt cũng đem lại cho khách hàng hiện tại và tiềm năng
của ngân hàng về hình ảnh ngân hàng đã tồn tại trong thời gian dài, có kinh nghiệm,
cũng như đáng tin cậy hơn để thực hiện các giao dịch tài chính so với các ngân hàng
khác. Từ đó tạo điều kiện cho ngân hàng thâm nhập thị trường và cung cấp các chủng
loại sản phẩm, dịch vụ mới thông qua kế hoạch tiếp thị.
1.2.2.3. Giảm thiểu được các rủi ro
Hoạt động kinh doanh ngân hàng có rất nhiều rủi ro, trong đó có rủi ro tín dụng,
rủi ro hoạt động, rủi ro thanh khoản, rủi ro hối đoái, rủi ro lãi suất... vì thế ngân hàng
nào có thương hiệu mạnh thì ngân hàng đó hạn chế được rủi ro do lợi thế quy mô, uy
tín mang lại. Đồng thời, do đã có thương hiệu nên các ngân hàng này thường có hệ
thống quản trị rủi ro mạnh, tập trung nhiều chuyên gia giỏi và công nghệ quản trị cao
giúp cho ngân hàng mình giảm thiểu được rủi ro một cách hiệu quả.
1.2.2.4. Tăng tính hấp dẫn đối với nguồn vốn và nguồn nhân lực tài năng
Vốn và nguồn nhân lực bao giờ cũng khan hiếm trong điều kiện cạnh tranh giữa
mình một thương hiệu mạnh, tin cậy. So với các hoạt động của các ngành kinh doanh
khác, hoạt động của ngân hàng có nhiều nét đặc thù. Một trong những đặc thù của ngân
hàng thương mại là lòng tin. Vì thế, thương hiệu mạnh đóng vai trò vô cùng quan trọng.
Thương hiệu mạnh phụ thuộc vào các nhà lãnh đạo có những hoạch định chiến lược,
quản trị chiến lược tốt, đảm bảo cho ngân hàng vừa đạt lợi ích ngắn hạn, vừa gia tăng thị
phần để đạt mục tiêu dài hạn.
Thứ hai: ngành ngân hàng là lĩnh vực sử dụng nhiều công nghệ thông tin nhất,
các số liệu thống kê cho thấy 82% công nghệ ngành ngân hàng được điện tử hóa. Trình
độ công nghệ thông tin về phần mềm, quản lý nhân lực sẽ tạo hình ảnh về một ngân
hàng hiện đại, rồi từ đó mới có đủ năng lực cạnh tranh với các ngân hàng trong khu
vực và trên thế giới.
SV: Lê Tiến Trung - K42 QTKD TM
10
Đánh giá mức độ nhận biết thương hiệu Maritime Bank tại thành phố Huế
Với những khác biệt trên, ngành ngân hàng được đánh giá là một định chế tài
chính cực kỳ quan trọng, đóng vai trò khẳng định mức độ văn minh của hoạt động
kinh tế và chất lượng cuộc sống cộng đồng. Ngân hàng là dòng máu của nền kinh tế.
Nếu hệ thống ngân hàng hoạt động tốt thì sẽ phân bổ vốn hiệu quả cho phát triển đầu
tư, kinh doanh, dịch vụ, phát triển kinh tế có chất lượng và bền vững... Nếu ngành
ngân hàng bộc lộ việc mất khả năng thanh khoản thì sẽ ảnh hưởng chung đến toàn hệ
thống và làm giảm nhịp điệu tăng trưởng của nền kinh tế.
1.3. Nhận biết thương hiệu
1.3.1. Khái niệm nhận biết thương hiệu
Nhận biết thương hiệu là giai đoạn đầu tiên trong tiến trình mua sắm và là một
tiêu chí quan trọng để đo lường sức mạnh của thương hiệu. Một thương hiệu càng nổi
tiếng thì càng dễ dàng được khách hàng lựa chọn. Tuy vậy, việc quảng bá thương hiệu
này, người ta sử dụng các kỹ thuật nghiên cứu như, phỏng vấn qua điện thoại hoặc
phỏng vấn trực tiếp. Người được phỏng vấn (đáp viên) sẽ được nhắc nhớ bằng cách
cho xem một danh sách các thương hiệu trong cùng nhóm sản phẩm (Show card), sau
đó sẽ trả lời xem mình nhận ra được những thương hiệu nào. Ở tầng này, bắt đầu xuất
hiện sự liên hệ giữa thương hiệu và sản phẩm, nghĩa là khách hàng đã có thể nhớ ra
thương hiệu khi được cho biết trước nhóm sản phẩm của thương hiệu. Tuy nhiên mối
liên hệ này còn rất yếu.
- Nhận biết không nhắc nhở: Ở cấp độ này, đáp viên sẽ tự mình nêu tên thương
hiệu mà không cần xem danh sách các thương hiệu. Mức độ nhận biết thương hiệu ở
tầng này đạt được là nhờ vào chiến lược định vị thương hiệu hiệu quả. Số thương hiệu
được khách hàng liệt kê được thường ít hơn nhiều so với khi được nhắc nhớ, vì chỉ
những thương hiệu có tên trong bảng xếp hạng của não mới được họ nhớ.
- Nhận biết đầu tiên: Đây là tầng cao nhất trong các cấp độ nhận biết thương
hiệu. Đáp viên nêu tên thương hiệu trước nhất khi được hỏi về nhóm sản phẩm. Trong
trường hợp này thương hiệu đã chiếm vị trí đặc biệt trong trí nhớ của khách hàng, vị trí
đầu tiên trong bảng xếp hạng của não. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp khoảng cách
giữa thương hiệu hạng nhất và thương hiệu hạng nhì là không lớn (ví dụ: Coca-Cola và
Pepsi)
1.3.2.2. Tầm quan trọng của nhận biết thương hiệu
Nhận biết thương hiệu là mục tiêu phải đạt đến trước tiên trong một chiến dịch
truyền thông quảng bá thương hiệu, nhất là đối với thương hiệu mới.Ví dụ: Mỗi khi
nhớ về McDonald, khách hàng có thể liên tưởng đến những thuộc tính như : Trẻ con
yêu thích, Ông Ronald McDonald - người sáng lập, thức ăn nhanh, Nước Mỹ...
- Từ biết đến quen: Khách hàng thường chọn sử dụng thương hiệu nào tạo cho họ
cảm giác QUEN. Mức độ QUEN tỉ lệ thuận với mức độ NHẬN BIẾT. Đối với các sản
phẩm đơn giản như xà phòng , kẹo cao su, khăn giấy, bút bi... Quá trình đi đến quyết
SV: Lê Tiến Trung - K42 QTKD TM
12
1.3.3. Các yếu tố nhận biết thương hiệu
Thương hiệu của một doanh nghiệp hay một tổ chức nào đó được nhận biết bởi
cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chức khác theo 3 yếu tố chính sau
SV: Lê Tiến Trung - K42 QTKD TM
13
Đánh giá mức độ nhận biết thương hiệu Maritime Bank tại thành phố Huế
1.3.3.1. Nhận biết qua triết lý kinh doanh
Đối với một doanh nghiệp, việc truyền tải triết lý kinh doanh của mình tới khách
hàng và công chúng là một trong những việc được coi là quan trọng nhất và cũng khó
khăn nhất. Để làm được điều này doanh nghiệp phải thiết kế một loạt các công cụ như:
khẩu hiệu, phương châm kinh doanh, cách ngôn kinh doanh. Đối với mỗi loại công cụ
đều phải được khẳng định được tư duy Marketing của doanh nghiệp như:
Khẩu hiệu: nó phải là cam kết của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng và
công chúng, đồng thời nó phải nói lên cái đặc thù trong sản phẩm, dịch vụ doanh
nghiệp, nó cũng là tuyên ngôn trong cạnh tranh và định vị thị trường, nó cũng phải
ngắn gọn, dễ nhớ, dễ phát âm, có thể sử dụng phù hợp với môi trường văn hóa khi
dịch thuật và có sức truyền cảm mạnh.
Phương châm kinh doanh: cũng với tinh thần Marketing, phương châm kinh
doanh lấy yếu tố con người làm cơ sở cho mọi quyết định, đồng thời thường xuyên cải
tiến sản phẩm, thậm chí cả tư duy của toàn bộ đội ngũ lãnh đạo và nhân viên trong
doanh nghiệp.
Cách ngôn và triết lý: lấy việc thỏa mãn nhu cầu mong muốn người tiêu dùng,
củng cố mức sung túc cho cộng đồng và xã hội, tạo vị thế cạnh tranh cho doanh
nghiệp; lấy việc giành thắng lợi đó làm đặc trưng cho mọi hoạt động của mình, thường
xuyên tái tạo những giá trị mới. Mỗi thương hiệu đều phải phấn đấu triết lý của mình
thành hiện thực.
1.3.3.2. Nhận biết qua hoạt động của doanh nghiệp
khắp nơi qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Các phương tiện này có thể là
phát sóng (truyền thanh, truyền hình), in ấn (báo, tạp chí) và những phương tiện khác
(thư tín, biển quảng cáo, phương tiện di động, internet, email, SMS)
Tiếp thị trực tiếp: là việc sử dụng thư tín, điện thoại và các công cụ tiếp xúc phi
cá nhân khác nhằm truyền thông hay thu hút sự đáp lại từ khách hàng hay các triển
vọng nào đó.
Khuyến mãi: là hình thức trái ngược hoàn toàn đến truyền thông thương mại đại
chúng, mục đích là tạo ra thêm động cơ cho khách hàng để ra quyết định mua hàng
ngay. Các hoạt động khuyến mãi rất phong phú: biếu không sản phẩm dùng thử, phiếu
mua hàng với giá ưu đãi, trưng bày tại nơi mua hàng và tặng phẩm kèm theo khi mua.
Quan hệ công chúng và truyền miệng: quan hệ công chúng bao gồm các chương
trình khác nhau được thiết kế nhằm đề cao hoặc bảo vệ hoặc nâng cao hình ảnh của
một doanh nghiệp hay những sản phẩm dịch vụ nhất định nào đó, chẳng hạn như: hội
thảo, họp báo, hội nghị khách hàng, phim tài liệu. Truyền miệng có nghĩa là mọi người
nói với nhau về doanh nghiệp, đây có lẽ là cách thông thường nhất để cho những
khách hàng mới biết đến doanh nghiệp.
SV: Lê Tiến Trung - K42 QTKD TM
15
Đánh giá mức độ nhận biết thương hiệu Maritime Bank tại thành phố Huế
Bán hàng trực tiếp: thì tương phản hoàn toàn với quảng cáo. Nó là sự truyền
thông được xác định rõ, mang tính chất trực tiếp truyền đi một thông điệp mang tính
thích nghi cao (với đội tượng nhận) tới một số ít đối tượng nhận rất chọn lọc. Bán hàng
trực tiếp xảy ra thông qua tiếp xúc trực tiếp giữa người bán và người mua, hoặc là mặt
đối mặt, hoặc thông qua một phương tiện viễn thông nào đó như điện thoại.
Logo: là một dạng thức đặc biệt của biểu trưng về mặt thiết kế, nó có thể được
cấu trúc bằng chữ, bằng ký hiệu hoặc hình ảnh. Nhưng khác với tên doanh nghiệp và
+ Chứng chỉ dịch vụ: huy chương, cờ, thẻ, chứng chỉ, trang phục của nhân viên.
Các hình thức tuyên truyền trực tiếp: gồm thiết kế thư mời, tặng phẩm, vật kỷ
niệm, bản giới thiệu danh mục sản phẩm, tạp chí, bao bì, nhãn hiệu, các hình thức
trưng bày giới thiệu sản phẩm, quảng cáo trên báo chí và truyền hình.
Tóm tắt chương 1
Thương hiệu trong hoạt động của ngân hàng hết sức cần thiết, nó là một bộ phận
quan trọng trong chiến lược kinh doanh của bất cứ ngân hàng nào. Tuy nhiên, thương
hiệu chỉ có giá trị khi nó là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố kể cả trong tác nghiệp và
điều hành. Hiệu quả cuối cùng là làm cho khách hàng hài lòng khi sử dụng dịch vụ của
ngân hàng. Trong điều kiện có nhiều tổ chức tín dụng cùng cung ứng một loại dịch vụ
với chi phí bằng nhau, thì một thương hiệu có mức độ nhận biết cao sẽ thu được lượng
khách hàng đông đảo hơn.
SV: Lê Tiến Trung - K42 QTKD TM
17
Đánh giá mức độ nhận biết thương hiệu Maritime Bank tại thành phố Huế
CHƯƠNG II
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ NHẬN BIẾT THƯƠNG HIỆU
MARITIME BANK TẠI THÀNH PHỐ HUẾ
2.1. Tổng quan về Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam
Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank) chính thức thành lập
theo giấy phép số 0001/NH-GP ngày 08/06/1991 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam. Ngày 12/07/1991, Maritime Bank chính thức khai trương và đi vào hoạt
động tại Thành phố Cảng Hải Phòng, ngay sau khi Pháp lệnh về Ngân hàng Thương
mại, Hợp tác xã Tín dụng và Công ty Tài chính có hiệu lực. Khi đó, những cuộc tranh
luận về mô hình ngân hàng cổ phần còn chưa ngã ngũ và Maritime Bank đã trở thành
Việt Nam.
2.1.2. Tầm nhìn
Từ năm 2010, Maritime Bank đã xác định mục tiêu trong thời gian tới sẽ là một
trong năm định chế tài chính lớn nhất Việt Nam.
2.1.3. Sứ mệnh
- Cung cấp tới từng khách hàng những sản phẩm dịch vụ tài chính có giá trị vượt
trội với phong cách chuyên nghiệp trên cơ sở hiểu rõ mong muốn và đặc thù kinh
doanh của khách hàng.
- Thiết lập cho cán bộ công nhân viên một môi trường làm việc chuyên nghiệp
với nhiều cơ hội phát triển trên cơ sở được đánh giá, khích lệ theo hiệu quả thực chất
của công việc.
- Đem lại lợi ích bền vững cho các cổ đông thông qua việc triển khai mạnh mẽ
Chiến lược kinh doanh mới và thực hiện các công cụ quản trị rủi ro chặt chẽ theo tiêu
chuẩn Quốc tế và phù hợp với quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
2.1.4. Giá trị cốt lõi
Tạo lập giá trị bền vững.
2.1.5. Cam kết hành động
Hướng tới mục tiêu trở thành một trong những ngân hàng cổ phần lớn nhất Việt Nam,
Maritime Bank luôn kiên trì thực hiện theo những tiêu chí mà Ngân hàng đã cam kết.
- Với khách hàng:
Chúng tôi hiểu rằng, sự thành công của Maritime Bank phụ thuộc chủ yếu vào sự hài
lòng và thành công của khách hàng. Vì sự tin tưởng khách hàng trao gửi, chúng tôi cam kết:
+ Cung cấp các dịch vụ chất lượng cao, linh hoạt và nhanh chóng.
+ Không ngừng đa dạng hóa nhằm đưa ra những sản phẩm phù hợp nhất với các
đối tượng khách hàng.
+ Đảm bảo tuyệt đối an toàn và bảo mật.
- Với nhân viên:
SV: Lê Tiến Trung - K42 QTKD TM
19
20
Đánh giá mức độ nhận biết thương hiệu Maritime Bank tại thành phố Huế
+Ý nghĩa logo:
Logo là sự kết hợp, song hành của chữ Maritime Bank và số 1 cách điệu, thể hiện
mục tiêu phấn đấu của Maritime Bank trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam.
Số 1 cách điệu với hình dáng mũi tàu. Điều này giúp liên tưởng tới khởi đầu của
Ngân hàng với cổ đông sáng lập là ngành Hàng hải, nhấn mạnh vào lịch sử phát triển
lâu dài của Ngân hàng và thể hiện cam kết có trước có sau, luôn đảm bảo chữ tín với
khách hàng. Đồng thời, điều đó cũng gợi mở về hình ảnh hiên ngang, đứng đầu sóng
ngọn gió, sẵn sàng và tự tin đối mặt với mọi thử thách. Ngoài ra, theo quan niệm Á
Đông, số 1 là số SINH, căn bản của mọi sự biến hóa, là con số khởi đầu, luôn đem lại
những điều mới mẻ, tốt đẹp, tượng trưng cho công danh, trí tuệ, sự nhất quán, phát
triển và danh tiếng. Theo quan niệm của người phương Tây, số 1 lại tượng trưng cho
sự hùng mạnh, quyết đoán, vững vàng.
Hình ảnh logo là sự kết hợp giữa một nét thanh và một nét đậm, thể hiện sự hài
hòa giữa yếu tố bền vững và sự uyển chuyển, khả năng thích nghi với mọi biến động
của nền kinh tế. Với hai màu chủ đạo đen – đỏ là hai màu tương phản mạnh, gây được
tín hiệu mạnh về thị giác, thể hiện sự bền vững, rõ ràng, minh bạch.
- Slogan: Từ khi thành lập cho đến nay thì mọi hoạt động của ngân hàng đều
hướng đến mục tiêu cuối cùng đó là đưa Maritime Bank trở thành NHTMCP hàng đầu
tại Việt Nam. Hoạt động xây dựng đặc tính, hình ảnh thương hiệu mới cùng chiến lược
định vị rõ ràng và triển khai hệ thống nhận diện mới đồng bộ, nhất quán trên toàn hệ
thống đã giúp phần nào thực hiện thắng lợi mục tiêu đó: Một ngân hàng hiện đại, năng
động, chuyên nghiệp với các sản phẩm, dịch vụ phong phú, uy tín và chất lượng cao
theo tiêu chuẩn quốc tế; mang lại giá trị gia tăng cho khách hàng, cổ đông và ngân
hàng ngày càng lớn. Vì vậy câu slogan: “Tạo lập giá trị bền vững” không thay đổi:
Maritime Bank một thương hiệu NHTMCP mạnh với sự phát triển bền vững.
2008 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đã gây ra không ít những
khó khăn và trở ngại cho Maritime Bank. Vì vậy để lấy lại niềm tin của khách hàng,
nâng cao sức cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập, khẳng định vị thế của mình trên thị
SV: Lê Tiến Trung - K42 QTKD TM
22
Đánh giá mức độ nhận biết thương hiệu Maritime Bank tại thành phố Huế
trường thì trong 2 năm: 2009 và 2010 hoạt động khuyếch trương thương hiệu của
Maritime Bank đã diễn ra vô cùng mạnh mẽ với việc cho ra mắt logo mới và triển khai
hệ thống nhận diện trên toàn hệ thống.
- Quảng cáo: Có thể thấy quảng cáo là một trong những công cụ quan trọng
trong hoạt động khuyếch trương thương hiệu của Maritime Bank. Ngân hàng đã tiến
hành chiến dịch quảng cáo để khuyếch trương thương hiệu trên các phương tiện thông
tin đại chúng như: truyền hình, phát thanh, báo chí và quảng cáo ngoài trời, trên
internet… với tổng kinh phi lên tới gần chục tỷ đồng.
+Truyền hình: Maritime Bank đã tiến hành quảng cáo hình ảnh thương hiệu
mới với sự xuất hiện của logo mới trên các kênh truyền hình của đài truyền hình Việt
Nam bao gồm VTV1, VTV3; đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh bao gồm:
HTV7, HTV9 và đài truyền hình Đà Nẵng vào các khung giờ cao điểm thường có
nhiều khán giả theo dõi trong vòng 60 ngày liên tục bắt đầu từ ngày 1.1.2010 –
30.2.1010. với tổng kinh phí lên tới 4 tỷ đồng.
+ Phát thanh: Hoạt động quảng cáo trên đài phát thanh tập trung chủ yếu ở kênh
VOV giao thông, bên cạnh đó cũng có quảng cáo trên sóng AM và FM.
+ Quảng cáo báo chí: Từ ngày 1.1.2010 – 30.1.2010 với tổng kinh phí là 1 tỷ đồng
+ Quảng cáo ngoài trời: Băng rôn với hình ảnh logo mới của Maritime Bank
được treo trên hầu hết các tuyến phố ở các thành phố lớn như: Hà Nội, Hồ Chí Minh,
Đà Năng và khẩu hiệu ở phía dưới “ Tạo lập giá trị bền vững”. Ngoài ra còn có quảng
cáo trên xe buýt như tuyến xe buýt 29 với tổng kinh phí lên tới 1184 triệu đồng diễn ra
100 triệu đồng.
+ Truyền hình: Tiến hành quay tin, đăng tin và làm phóng sự với tổng kinh phí
là 100 triệu đồng.
+ PR nội bộ: gửi email nội bộ thông báo về hệ thống nhận diện mới, bài viết trên
tập san và forum nội bộ, chính sửa website của ngân hàng.
+ Tổ chức sự kiện: Hoạt động khuyếch trương thương hiệu của Maritime Bank
diễn ra mạnh mẽ cùng với sự kiện: Đại nhạc hội Maritime Bank đón chào năm mới
ngày 10/1/2010.
Tên chương trình: Maritime Bank – Chào năm mới.
Đơn vị phối hợp: Ban văn nghệ ĐTHVN – Công ty An Thuận Media.
Ngày và giờ phát sóng: Chủ nhật 19h30 ngày 10/01/10.
Thời lượng phát sóng: 120phút từ 20h - 22h. Kênh phát sóng: Phát sóng trực tiếp
trên VTV3.
Địa điểm tổ chức sự kiện: Khu liên hiệp thể thao quốc gia Mỹ Đình – Sân Vận
động Mỹ Đình.
Đối tượng tham dự: Độ tuổi từ 20-60 với lượng khán giả dự kiến: 30.000 người.
Điểm nhấn chương trình: Giới thiệu về bộ nhận diện thương hiệu mới Maritime
Bank nhằm làm nổi bật thương hiệu Maritime Bank với tổng kinh phí là 3400 triệu
VNĐ chưa kể chi phí quàng cao và PR cho chương trình vì đã được tính vào chi phí
của quảng cáo và PR ở phần trên.
Chương trình đã diễn ra rất sôi động tại Sân vận động Mỹ Đình với sự xuất hiện
của gần 15 ngôi sao ca nhạc: Hồng Nhung, Đàm Vĩnh Hưng, Quang Dũng, Mỹ Tâm,
Hồ Quỳnh Hương, Hồ Ngọc Hà, Lưu Hương Giang, Lam Trường, Hà Anh Tuấn,
Hoàng Hải, Mỹ Dung, nhóm Mây Trắng, nhóm M4U… cùng gần 30000 khán giả,
thực sự hâm nóng bầu không khí se lạnh của mùa đông Hà Nội.
SV: Lê Tiến Trung - K42 QTKD TM
24
khách hàng. Các hoạt động này đã được đầu tư với tổng kinh phí lên tới 790 triệu
đồng.
SV: Lê Tiến Trung - K42 QTKD TM
25