XÂY DỰNG LUẬN cứ KHOA học PHỤC vụ CÔNG tác lập QUI HOẠCH QUẢN lý CHẤT THẢI rắn CHO các đô THỊ VIỆT NAM NGHIÊN cứu điển HÌNH tại THÀNH PHỐ (1) - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG

TRẦN THỊ QUỲNH NHUNG

XÂY DỰNG LUẬN CỨ KHOA HỌC PHỤC VỤ CÔNG
TÁC LẬP QUI HOẠCH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
CHO CÁC ĐÔ THỊ VIỆT NAM
NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH
TẠI THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT

HÀ NỘI, NĂM 2008


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG

TRẦN THỊ QUỲNH NHUNG

XÂY DỰNG LUẬN CỨ KHOA HỌC PHỤC VỤ CÔNG
TÁC LẬP QUI HOẠCH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN
CHO CÁC ĐÔ THỊ VIỆT NAM
NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH
TẠI THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM
Chuyên ngành: Công nghệ Môi trường
Mã số: 60 85 06

LuËn v¨n th¹c sü kü thuËt


Trần Thị Quỳnh Nhung


-4-

DANH SÁCH CÁC BẢNG

DANH SÁCH CÁC HÌNH

MỤC LỤC

PHỤ LỤC 1: Các số liệu hiện trạng về chất thải rắn tại thành phố Phan Rang –
Tháp Chàm
PHỤ LỤC 2: Tính toán các giải pháp thu gom và vận chuyển chất thải rắn
tại thành phố Phan Rang – Tháp Chàm


-5-

BẢNG DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIÊT TẮT
ATVMT

: An toàn về môi trường

BOT

: Xây dựng - vận hành - chuyển giao

BTTN


QHLN

: Qui hoạch liên nghành

TCXDVN

: Tiêu chuẩn xây dựng Việt nam

TN & MT

: Tài nguyên và Môi trường

TNHH

: Trách nhiệm hữu hạn

TP

: Thành phố

UBND

: Ủy ban nhân dân

VSMT

: Vệ sinh môi trường


-6-

lập quy hoạch quản lý chất thải rắn cho các đô thị Việt nam là rất cần thiết. Trên cơ
sở những luận cứ này em đã tiến hành nghiên cứu điển hình: Lập quy hoạch quản
lý chất thải rắn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm thuộc Tỉnh Ninh Thuận.”
2.

Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu chung:


-7-

Thiết lập một hệ thống đồng bộ các tiêu chí cơ bản trong công tác qui hoạch thu gom
và xử lý chất thải rắn đô thị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn tại các đô
thị Việt nam.
Mục tiêu cụ thể :
Xây dựng các dữ liệu và phương pháp luận phục vụ cho việc lập qui hoạch quản lý
chất thải rắn đô thị cho thành phố Phan Rang – Tháp Chàm theo định hướng đến
2020, nhằm:
- Cải thiện và phát triển hệ thống thu gom, phân loại và vận chuyển chất thải rắn;
- Xây dựng các khu xử lý và chôn lấp chất thải rắn, áp dụng công nghệ xử lý phù
hợp;
- Nâng cao nhận thức và tự giác tham gia của cộng đồng;
- Khuyến khích các thành phân kinh tế, xã hội tham gia vào công tác quản lý chất
thải rắn;
- Thiết lập kế hoạch huy động các nguồn vốn để thực hiện các dự án theo qui hoạch
tổng thể.
3.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

nghiệp: Tổ chức các đợt thu gom để xác định tỷ trọng của chất thải rắn thải,
lấy mẫu phân tích thành phần và tính chất của chất thải rắn thải từ các nguồn
khác nhau tại một số khu vực được lựa chọn trong quá trình khảo sát. Các số
liệu này sẽ cơ sở cho việc đề xuất mô hình thu gom và xử lý trong quá trình lập
qui hoạch

c/

Đề xuất cơ sở lý luận, xây dựng các tiêu chí phục vụ cho công tác lập qui
hoạch quản lý chất thải rắn tại các đô thị Việt nam:
Tiêu chí phục vụ qui hoạch vị trí khu xử lý chất thải rắn
Phân tích lựa chọn phương án công nghệ thu gom và vận chuyển chất thải rắn
Phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật – công nghệ khi qui hoạch các trạm trung
chuyển
Phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật – công nghệ khi qui hoạch các khu xử lý
chất thải rắn tập trung.

-

d/
Ứng dụng nghiên cứu điển hình cho thành phố Phan Rang – Tháp Chàm.
- Dự báo khối lượng chất thải rắn phát sinh tại thành phố Phan Rang – Tháp
Chàm đến năm 2020.
- Đề xuất các giải pháp chiến lược trong qui hoạch và quản lý chất thải rắn tại thành
phố Phan Rang – Tháp Chàm (không bao gồm qui hoạch vị trí khu xử lý chất thải
rắn)
5.

Phương pháp nghiên cứu
 Kế thừa các kết quả đã nghiên cứu trước đây ở trong và ngoài nước : Toàn bộ

Phối kết hợp các chiến lược quản lý chất thải, bao gồm các chiến lược giảm
nguồn thải, tái sử dụng, tái chế, làm phân hữu cơ, thu gom, thu hồi năng lượng
và chôn lấp.

Giảm nguồn thải, tái sử dụng, tái chế, làm phân hữu cơ và thu hồi năng lượng là các
chiến lược chuyển dòng vận động chất thải lệch hướng khỏi bãi chôn lấp mà nhờ đó
tăng tuổi thọ của bãi chôn lấp và giảm chi phí cả về kinh tế, cả về môi trường trong
quản lý chất thải. Phối kết hợp các chiến lược chuyển dòng này vào trong quy hoạch
quản lý chất thải là cái cốt lõi để xác định nhu cầu về năng lực thu gom chất thải và
tuổi thọ của bãi chôn lấp. Thu hồi năng lượng từ thiêu đốt chất thải không chỉ đơn
thuần là sản xuất năng lượng mà còn làm giảm bớt khối lượng chất thải phải chôn lấp
tới 90%. Tuy vậy, thu hồi năng lượng không phải là phương án khả thi về kinh tế và
về kỹ thuật khi mà còn có một tỷ lệ chất thải hữu cơ lớn trong nguồn thải. Bởi vì chất
thải hữu cơ có độ ẩm cao, gây khó khăn cho việc thiêu đốt.
2.

Phối kết hợp các khía cạnh xã hội, kinh tế, luật pháp, thể chế, môi trường và
công nghệ trong quản lý chất thải.

Trong thực tế phần lớn công tác quản lý chất thải bao gồm các quyết định về công
nghệ, tài chính, luật pháp hay cưỡng chế thi hành, phạt hành chính. Tất cả các yếu tố
này cần được phối kết hợp vào trong các quyết định về quản lý chất thải. Thí dụ, khi
lựa chọn địa điểm xây dựng bãi chôn lấp, sẽ là không đầy đủ khi chỉ xác định địa
điểm này vì lý do ít tốn kém. Người quản lý chất thải cần xác định cả tác động môi
trường tiềm tàng của mỗi địa điểm, tác động xã hội đối với người dân địa phương và
cả sự ủng hộ của họ đối với địa điểm đề xuất lựa chọn. Các công nghệ chôn lấp cũng


- 10 -


Chôn lấp / Đổ thải cuối cùng
- Giảm thiểu chất thải rắn,
- Thu hồi, tái chế và tái sử dụng lại chất thải,
- Xử lý và thải bỏ chất thải an toàn, hợp vệ sinh,
Các công việc phân loại chất thải rắn thải tại nguồn, thu gom, xử lý và tái chế chất
thải rắn sinh hoạt ở hầu hết các nước phát triển đã được tổ chức đồng bộ từ chính
sách, pháp luật, công cụ kinh tế và có sự tham gia của nhiều thành phần trong xã hội.
Ở các nước đang phát triển, phương thức 3R (Reduce, Reuse, Recycle) hiện đang
được áp dụng rộng rãi trong việc hoạch định các chính sách về chất thải rắn. Đó là
phương thức: giảm thiểu-tái sử dụng-tái chế chất thải rắn.
Các khuynh hướng sau đang được cân nhắc và áp dụng trong điều kiện phát triển của
từng quốc gia:
Khuynh hướng thứ nhất: Gia tăng của các chương trình phân loại chất thải rắn ngay
tại nguồn. Việc phân loại tại nguồn sẽ giúp cho chính quyền thành phố thực hiện
được các việc sau:
- Áp đặt một hệ thống mới cho các loại thành phần khác nhau của chất thải rắn.
- Phân chia chi phí cho việc tái sinh từng loại chất thải rắn.
- Giáo dục cho các hộ gia đình về sự cần thiết của việc phân chia các loại chất thải
rắn có khả năng tái sinh được trong chất thải rắn sinh hoạt của gia đình.
Khuynh hướng thứ hai: Phát triển trên qui mô toàn thế giới của các chương trình xử
lý / chuyển hóa chất thải rắn thải thành năng lượng.
Chuyển đổi từ chất thải thành năng lượng là cách làm sạch và có hiệu quả nhất để xử
lý các loại chất thải có khả năng tái sinh được và có thể được chuyển đổi sang giá trị
thị trường một cách hợp lý. Mặc dù trong thập kỷ tới đây, việc đốt các loại chất thải
sẽ có thị phần riêng của nó, nhưng việc chuyển đổi từ chất thải rắn thải sang năng
lượng cũng sẽ phát triển ở rất nhiều nước do các nước đang phải tìm kiếm các nguồn
năng lượng sạch và rẻ tiền cho tương lai.
Khuynh hướng thứ ba: Thu hồi chi phí qua các hoạt động của chương trình quản lý
chất thải rắn.


Tất cả chất thải rắn đều được phân loại ngay tại nguồn phát sinh và thu gom bằng túi
nilon. Chất thải rắn tại Singapore phát sinh từ các hộ gia đình, được thu gom theo
từng cụm khu vực và đưa tới các điểm tập trung để xử lý. Việc thu gom CTR do các
công ty tư nhân đảm nhiệm, nhà nước hỗ trợ tiền xây dựng các nhà máy tiêu hủy chất
thải. Bộ Môi trường giám sát chặt chẽ việc quản lý CTR trên phạm vi toàn quốc.
Hàng tháng, người dân có nghĩa vụ đóng góp phí thu gom chất thải, mỗi gia đình nộp
6 USD/tháng, nếu căn hộ có sân vườn nộp 11 USD/tháng.


- 13 -

Hoạt động của các nhà máy xử lý chất thải rắn ở Singapore hoàn toàn dưới sự điều
hành của nhà nước và chi phí hoạt động thu chi đều nộp vào ngân sách và do ngân
sách nhà nước cấp. Khi vận chuyển chất thải rắn tới các nhà máy để đốt, các công ty
tư nhân phải trả chi phí xử lý cho nhà máy. Chi phí này được tính vào giá thành thu
gom vận chuyển mà các hộ gia đình phải chi trả phí vận chuyển cho các công ty tư
nhân. Phí thu gom vận chuyển mà các hộ gia đình phải trả khác nhau tùy theo loại
nhà ở họ sử dụng. Loại nhà ở kiểu biệt thự mức chi phí thu gom cao nhất, sau đó đến
nhà ở chung cư của tư nhân và cuối cùng là nhà ở chung cư của nhà nước. Do phải
chịu các chi phí vận chuyển và xử lý cho từng chuyến xe chở chất thải rắn nên các
công ty tư nhân dịch vụ vệ sinh thường kết hợp với các công ty thu hồi và tái chế chất
thải rắn, thu hồi các loại chất thải rắn có khả năng tái chế, vừa hạn chế được lượng
chất thải rắn phải vận chuyển vừa thu được thêm lợi nhuận.
Tro đốt sau quá trình xử lý, gồm cả một số kim loại được đóng thành từng kiện và
được vận chuyển bằng tàu biển ra một nơi tập trung gần một hòn đảo khác của
Singapore, thực hiện quá trình lấn biển, mở rộng đất đai cho quốc gia này.
Kinh nghiệm quản lý chất thải rắn của Mỹ: Quản lý chất thải rắn ở Mỹ sử dụng 4 “
công cụ cơ bản “. Tùy theo từng địa phương mà các công cụ này có thể được kết hợp
với nhau để giải quyết đáp ứng các yêu cầu riêng của mình. ở Mỹ lượng chất thải rắn
được tái chế chiếm 27% tổng lượng chất thải rắn hàng năm. Khoảng 16% chất thải

xử lý bằng phương pháp đốt thu hồi nhiệt lượng, phần còn lại 1.150.000 tấn cộng với
331.000 tấn tro xỉ thải từ các lò đốt là được xử lý ở khâu cuối cùng tại các bãi chôn
lấp hợp vệ sinh.
Hiện nay ở Thụy Điển có tổng số 282 bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh với công
suất từ 10.000 tấn/năm đến 100.000 tấn/năm với tổng cộng 4,75 triệu tấn chất thải rắn
được chôn lấp. Bên cạnh việc áp dụng các phương pháp công nghệ tiên tiến để quản
lý chất thải rắn , ở Thụy Điển, sự tham gia tích cực của cộng đồng dân cư trong việc
phân loại chất thải rắn ngay tại nguồn phát sinh là trách nhiệm rất lớn từ các cấp
chính quyền thành phố đến các nhà sản xuất, cùng với các chính sách thích hợp của
chính phủ và nhà nước Thụy Điển.
Kinh nghiệm quản lý chất thải rắn ở Nhật Bản: Xử lý chất thải rắn ở Nhật Bản không
chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn liên quan đến các yếu tố chính trị, kinh tế và văn hóa.
Do diện tích lãnh thổ bé, Nhật Bản đang áp dụng phương pháp thiêu đốt để xử lý chất
thải rắn. Hiện nay, Nhật Bản có 1.915 xí nghiệp thiêu đốt chất thải rắn đang hoạt
động, công suất của xí nghiệp lớn nhất là 1.980 tấn/ngày đêm. Sau khi phân loại, 68%
CTR sinh hoạt được chuyển đến các xí nghiệp này. Việc thiêu đốt chất thải rắn ở
Nhật Bản hiện đang đạt hiệu quả kinh tế nhất thế giới. Phần lớn các xí nghiệp có các
lò thiêu hủy nhỏ, hoạt động theo chu kỳ, bên cạnh đó có các lò đốt lớn, hoạt động liên
tục.
Tại Nhật Bản, quy mô những xí nghiệp tiêu hủy chất thải rắn lớn nhất cũng nhỏ hơn
so với đa số những xí nghiệp tương tự ở Mỹ, song kỹ thuật tiêu hủy ở Nhật Bản hiện
đại hơn ở Mỹ.
Kinh nghiệm quản lý chất thải rắn ở Ai Cập: Cai-rô, thủ đô Ai Cập có 12 triệu dân,
hàng ngày thải ra khoảng 6.000 tấn chất thải rắn thải. Hiện nay, thủ đô Cai-rô đang
ngổn ngang với các công trình xây dựng. Để làm sạch thủ đô có nhiều nguồn thải như


- 15 -

vậy, thủ đô Cai-rô đã thành lập các đội công nhân vệ sinh biên chế lên đến 45.000



- 16 -

1.3 Tổng quan về quản lý chất thải rắn đô thị ở Việt nam
1.3.1 Khái quát về cấp đô thị ở Việt nam
Hiện nay, dân số đô thị khoảng hơn 15 triệu người, chiếm trên 20% dân số cả nước
(tỷ lệ này là 15% năm 1960). Đô thị hóa sẽ làm tăng dân số và tăng quy mô sản xuất,
tăng lượng hàng tiêu dùng dẫn tới làm tăng khối lượng chất thải rắn.
Theo nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001 Về việc phân loại đô thị và cấp
quản lý đô thị thì các đô thị Việt nam được phân loại như sau:
Loại

Tỷ lệ lao động
phi nông nghiệp

Dân số
người

Mật độ dân số
bình quân
người/km2

Đô thị loại đặc biệt

≥ 90%

≥ 1.500.000

≥ 15.000


≥ 6.000

Đô thị loại V

≥ 65%

≥ 40.000

≥ 2.000

Ngày 08 tháng 02 năm 2007 Chính phủ đã ban hành nghị định 21/2007/NĐ-CP Về
việc thành lập thành phố Phan Rang - Tháp Chàm thuộc tỉnh Ninh Thuận (đô thị loại
III). Theo nghị định này thì thành phố Phan Rang - Tháp Chàm sẽ gồm toàn bộ diện
tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Phan Rang - Tháp
Chàm. Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm có 7.937,56 ha diện tích tự nhiên,dân số
162.941 người, có 15 đơn vị hành chính trực thuộc.
1.3.2 Thực trạng về hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị
Về quản lý hành chính và chuyên ngành: Ở các đô thị từ loại đặc biệt đến loại V
đều đã có Công ty Môi trường đô thị. Đối với các đô thị lớn như Hà nội, TP Hồ Chí
Minh, Hải phòng, Công ty Môi trường đô thị trực thuộc Sở Giao thông Công chính.
Riêng đối với các đô thị nhỏ, Công ty do Uỷ ban Nhân dân Thị xã quản lý. Về chuyên
ngành, Công ty Môi trường đô thị trực thuộc Sở Giao thông Công chính đối với đô
thị lớn hoặc Sở Xây dựng đối với đô thị lớn nhỏ.
Chức năng hoạt động chính của Công ty Môi trường đô thị: Các đô thị lớn như
Hà nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải phòng,…Công ty môi trường đô thị có chức
năng thu gom chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn cơ quan, trường học, đường phố,
chất thải rắn công nghiệp, chất thải không nguy hại bệnh viện, vận chuyển và xử lý



chất thải công nghiệp phát sinh mỗi năm là từ các trung tâm công nghiệp lớn ở miền
Bắc và miền Nam. Cỡ 50% lượng chất thải công nghiệp phát sinh ở thành phố Hồ
Chí Minh và các tỉnh lân cận và 30% phát sinh ở vùng đồng bằng sông Hồng và Bắc
Trung Bộ. Thêm vào đó, 1.500 làng nghề mà chủ yếu tập trung ở vùng nông thôn
miền Bắc mỗi năm phát sinh khoảng 774.000 tấn chất thải công nghiệp không nguy
hại.


- 18 -

Thông tin chung về tình hình phát sinh CTR ở Việt nam được thể hiện ở Bảng 1.1.
Bảng 1.1 Thông tin chung về tình hình phát sinh chất thải rắn ở Việt nam
TT

Loại chất thải

Đơn vị

Số lượng

1

Chất thải sinh hoạt

tấn/năm

12.800.000

1.1


Chất thải công nghiệp không nguy hại

tấn/năm

2.510.000

3

Chất thải y tế nguy hại

tấn/năm

21.000

4

Chất thải nông nghiệp nguy hại

tấn/năm

8.600

Tổng cộng

tấn/năm

15.468.000

Nguồn: Báo cáo diễn biến môi trường Việt nam năm 2004- Chất thải rắn ( WB – MONRE)


còn 70% ở các thành phố có số dân từ 100.000 đến 350.000 người. Ở các vùng nông
thôn, tỷ lệ thu gom chất thải rắn thải rất thấp. Do xa xôi và các dịch vụ thu gom
không đến được các vùng nông thôn nên chỉ có khoảng 20% nhóm các hộ gia đình có
mức thu nhập cao nhất ở các vùng nông thôn được thu gom chất thải rắn thải. ở các
vùng đô thị, dịch vụ thu gom chất thải cũng chưa cung cấp được cho các khu định cư,
các khu nhà ở tạm và ngoại ô thành phố là nơi sống chủ yếu của các hộ dân có mức
thu nhập thấp.
1.3.5 Xử lý chất thải rắn đô thị
Chôn lấp hợp vệ sinh: Công nghệ này hiện nay đang được sử dụng rộng rãi tại Việt
nam. Chỉ có 12 trong số 64 tỉnh thành hiện có bãi rác chôn lấp hợp vệ sinh hoặc vận
hành đúng kỹ thuật, phần lớn các bãi chôn lấp này được xây dựng trong vòng 4 năm
qua và chỉ có 17 trong số tổng cộng 91bãi chôn lấp hiện nay của cả nước là bãi chôn
lấp hợp vệ sinh.
Theo Bộ TN&MT, trong số 439 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên
toàn quốc thì có 49 bãi rác lộ thiên hoặc các khu chôn lấp vận hành không hợp vệ
sinh có nguy cơ gây rủi ro cho môi trường và sức khỏe cộng đồng. Theo Quyết định
số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 22/4/2003 về Kế hoạch xử lý
triệt để các cơ sở gây nhiễm môi trường nghiêm trọng thì đến năm 2007, các cơ sở
này phải tiến hành xử lý triệt để.


- 20 -

Thiêu đốt: Tại Việt nam, lò đốt chất thải mới được áp dụng trong phạm vi rất hẹp để
xử lý chất thải rắn thải y tế nguy hại và đang thử nghiệm cho ngành sản xuất giầy
xuất khẩu. Mặt dù số lượng lò đốt chưa nhiều nhưng khá đa dạng về chủng loại,
nguồn gốc, công suất đốt và khả năng xử lý khí thải. Theo số liệu thống kê của Bộ Y
tế, tính đến 2005 thì Việt nam có 35 tỉnh/thành phố đã được trang bị lò đốt y tế (chủ
yếu là loại HOVAL), riêng Thủ đô Hà Nội có 5 lò đốt, còn lại mỗi tỉnh/thành trung
bình có 1 lò. Đặc điểm một số lò đốt chất thải rắn đang hoạt động tại Việt nam được


kg/h
o
C
o
C
kg/h
m3/h

200
1.000
1.100
10 - 20
2.000

Lò đốt chất thải
rắn y tế Hoval
MZ 2
80
500 - 800
>1.000
7 - 16
1.800

mm
mm
mm
mm
m



tiên quyết đối với công nghệ tái chế này là phải có sự phân loại chất thải rắn tại
nguồn phát sinh. Hình 1.3 thể hiện phân loại chất thải rắn bằng tay tại nhà máy chế
biến rác thành phân bón hữu cơ.

Hình 1.3 Phân loại chất thải rắn bằng tay tại nhà máy chế biến chất thải rắn thải
thành phân bón hữu cơ

1.3.6 Định hướng về quản lý chất thải rắn tại Việt nam
Việt nam đã xây dựng một khung pháp lý phù hợp cho các hoạt động BVMT, trong
đó có các hướng dẫn về quản lý và xử lý chất thải rắn. Khung pháp lý này còn được
hỗ trợ bởi 2 chiến lược bao gồm Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu
công nghiệp ở Việt nam (ban hành năm 1999) và Chiến lược Bảo vệ môi trường
Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 (ban hành năm 2003).Gần đây
nhất, ngày 3 tháng 4 năm 2008, Qui chuẩn Việt nam "QCXDVN: 01/2008/BXD Quy
chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Quy hoạch Xây dựng" chính thức có hiệu lực. Sau đây là
tóm tắt của các định hướng và nội dung chính của qui chuẩn trên:
Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và KCN đến năm 2020
Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và KCN Việt nam đến năm 2020 đã
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 152/1999/QĐ-TTg ngày
10/7/1999. Đây là chiến lược đầu tiên của Việt nam nêu lên những hành động mà các
cơ quan Chính phủ và ở địa phương phải thực hiện đến năm 2020, nhằm áp dụng một
phương pháp quản lý tổng thể chất thải rắn. Các hoạt động chính của Chiến lược bao
gồm:
- Cải cách hệ thống pháp lý,
- Đào tạo và nâng cao nhận thức,
- Thúc đẩy tư nhân hóa và thu hồi chi phí,
- Áp dụng công nghệ hiện đại, phù hợp vào Việt nam
- Cơ quan chủ trì là Bộ Xây dựng và cơ quan phối hợp là Bộ KHCN&MT (nay
là Bộ TN&MT).

0

2

Chôn lấp hợp vệ sinh

40 - 50

60 - 65

55 - 60

3

Chế biến làm phân bón

10 - 15

20 - 25

25 - 30

4

Đốt

15 - 20

4-8


Kết luận: Thực trạng quản lý chất thải rắn của các đô thị Việt nam cần phải có sự cải
thiện để nâng cao chất lượng môi trường sống, cải thiện sức khỏe cho người dân. Vì
vậy, Việc “Xây dựng luận cứ khoa học phục vụ cho việc lập qui hoạch quản lý chất thải rắn tại
các đô thị Việt nam” là hết sức cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết đã nêu ở trên.


- 23 -

CHƯƠNG 2
XÂY DỰNG LUẬN CỨ KHOA HỌC PHỤC VỤ CHO VIỆC LẬP QUI
HOẠCH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẠI CÁC ĐÔ THỊ VIỆT NAM
2.1 Cở sở lý luận và cách tiếp cận
Nhận thức sâu sắc về vai trò và tiềm năng phát triển kinh tế, trong những năm gần
đây, nhiều đô thị cấp III đã chú trọng đầu tư cho việc lập các qui hoạch phát triển
ngành giai đoạn 1999-2010 và 2001-2010 (gồm qui hoạch sử dụng đất, phát triển
công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp), nông nghiệp, giao thông, thủy lợi, thương mại,
dịch vụ, văn hóa - thông tin, thể dục-thể thao, y tế, giáo dục - đào tạo, phát triển khoa
học công nghệ và bảo vệ môi trường, phát triển hệ thống đô thị và khu dân cư nông
thôn…). Hầu hết các qui hoạch và kế hoạch này đã được Thủ tướng Chính phủ,
UBND các tỉnh phê duyệt, đã và đang từng bước đưa vào thực tế. Tuy vậy, một thực
tiễn cho thấy hiện nay, sự phát triển kinh tế gắn liền với đô thị hóa (ở các mức độ
khác nhau), cùng với sự kiểm soát không đúng mức về vệ sinh môi trường của các
tỉnh, đặc biệt là ở các đô thị vẫn là nguyên nhân chính làm suy kiệt các nguồn tài
nguyên thiên nhiên và suy thoái môi trường do việc gây ô nhiễm (chất thải rắn thải,
khí thải, nước thải…). Trong quá trình xây dựng qui hoạch và kế hoạch, để có thể
đảm bảo cho các đô thị của các tỉnh phát triển toàn diện một cách ổn định và bền
vững một qui hoạch tổng hợp môi trường cũng cần được xem xét để định hướng cho
việc quyết định các vấn đề :
- Khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên như thế nào cho hợp lý và có hiệu quả?
- Quản lý và bảo vệ môi trường có hiệu quả nhất trong phạm vi toàn tỉnh;

đề cần giải quyết để nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại nhưng không hạn chế tiềm
năng để đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ tương lai. Sự bền vững là một quá trình
đòi hỏi sự chú ý và nỗ lực không ngừng, nó ảnh hưởng tới các quyết định qui hoạch
của tất cả các cấp và các ngành. Tiêu điểm bền vững đòi hỏi phải quan tâm đến tầm
nhìn dài hạn trong các qui hoạch.
Tiếp cận tổng hợp: Sự cần thiết đối với cách tiếp cận tổng hợp là một trong những
vấn đề rất phổ biến trong các nghiên cứu về môi trường và qui hoạch môi trường.
Điều này có nghĩa là việc qui hoạch môi trường của các tỉnh bao gồm một dải rộng
lớn các yếu tố cân nhắc lồng ghép về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường, kinh
tế, xã hội, thể chế, chính sách của toàn tỉnh và các tiểu vùng trong phạm vi không
gian qui hoạch. Hơn thế nữa, khi đã thấu hiểu về chức năng của hệ sinh thái thì sẽ
hiểu rộng hơn các mối quan hệ qua lại giữa đất-nước-thảm thực vật-hệ động vật. Vì
vậy, các hệ môi trường sinh thái học, ví dụ như các lưu vực sông phải được quản lý
như phức hệ tổng thể, các hệ tương tác; không được đánh giá riêng lẻ các cấu phần.
Tiếp cận cộng đồng: Xu thế gần đây trong chính sách bảo vệ môi trường và quản lý
môi trường tập trung nhấn mạnh đến vai trò của các bên liên quan chính (trong đó có
cộng đồng) và trong một vài trường hợp có nhấn mạnh đến vai trò của công chúng.
Kinh nghiệm các nước đã chỉ cho chúng ta thấy rằng, để cho công tác bảo vệ môi
trường đạt được những kết quả mong muốn, cần có một số yêu cầu cơ bản về mặt tổ
chức như sau: (1) cam kết của lãnh đạo địa phương đối với quá trình lập và thực hiện
qui hoạch; (2) cam kết của các chủ thể địa phương sẽ tham gia vào tiến trình lập qui
hoạch môi trường; (3) một nhóm cán bộ qui hoạch liên ngành (gồm những chuyên


- 25 -

gia trong một số lĩnh vực có năng lực) xúc tiến quá trình, phân tích kỹ thuật và đánh
giá. Sự tham gia của đại diện cộng đồng địa phương trong quá trình qui hoạch môi
trường là rất cần thiết để đảm bảo tính thực tế và khả thi của bản qui hoạch. Việc tăng
thêm sự tham gia và ảnh hưởng của những đối tác phi chính phủ trong quá trình qui

với qui hoạch tổng thể môi trường.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status