LUẬN án TIẾN sĩ GIẢI PHÁP tài CHÍNH THÚC đẩy PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH TRONG điều KIỆN CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa ở VIỆT NAM - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Dưới ánh sáng đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, cùng với sự
tác động của khoa học - công nghệ (KH-CN), nền nông nghiệp Việt Nam đã
có những bước phát triển mạnh mẽ. Sản phẩm nông nghiệp tăng lên vượt bậc
về số lượng, chất lượng và phong phú về chủng loại. Do đó, phát triển công
nghệ sau thu hoạch (CNSTH) để tương xứng với một nền nông nghiệp hàng
hóa ở Việt Nam đã trở thành một vấn đề hết sức cấp thiết. CNSTH không
những là biện pháp cấp bách góp phần làm giảm tổn thất đối với nông sản sau
thu hoạch, mà còn là một trong những nội dung cốt lõi của quá trình CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn. Nhận thức được vai trò của CNSTH đối với
quá trình phát triển của nông nghiệp và đất nước, Nhà nước đã đề ra nhiều
giải pháp nhằm thúc đẩy CNSTH phát triển, song kết quả đạt được vẫn chưa
đáp ứng được yêu cầu của giai đoạn mới. Cho đến nay, CNSTH vẫn là một
vấn đề nổi cộm nhất trong nông nghiệp nước ta. CNSTH Việt Nam còn lạc
hậu về trình độ và nhỏ bé về quy mô, nên chưa phát huy tốt vai trò là động lực
cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước.
Trong thời gian qua đã có nhiều công trình và đề tài nghiên cứu về
CNSTH của các tác giả trong và ngoài nước. Tuy nhiên, các công trình và
đề tài nghiên cứu trên chủ yếu quan tâm đến khía cạnh kỹ thuật và một
phần khía cạnh kinh tế của CNSTH. Hiện nay, chưa có một công trình
nghiên cứu nào đề cập tới tác động của tài chính đến CNSTH một cách
toàn diện và có hệ thống. Trước những bức xúc cả về lý luận và thực tế, tác
giả đã chọn đề tài: "Giải pháp tài chính thúc đẩy phát triển công nghệ
sau thu hoạch trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam" cho luận án của mình.




3

Luận án đã khái quát hóa, hệ thống hóa và làm rõ thêm các vấn đề về
lý luận có liên quan đến hoạt động STH, CNSTH, đặc điểm của CNSTH và
các nhân tố tác động đến CNSTH. Đặc biệt, luận án đã đi sâu phân tích và chỉ
rõ tính hệ thống trong việc nghiên cứu CNSTH. Đồng thời chỉ rõ mối quan hệ
biện chứng giữa tài chính với sự phát triển của CNSTH. Đây là cơ sở lý luận
quan trọng cho việc tìm ra tính quy luật của sự phát triển CNSTH.
Luận án đã đưa ra một bức tranh tương đối toàn diện về tình hình CNSTH
ở Việt Nam và việc sử dụng các giải pháp tài chính để thúc đẩy phát triển
CNSTH. Với các số liệu phong phú và đáng tin cậy, luận án đã phân tích và
đánh giá một cách khách quan những mặt đã đạt được và những tồn tại cần
khắc phục. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp tài chính để tác động một cách
có hiệu quả nhằm thúc đẩy phát triển CNSTH ở Việt Nam.
Ý nghĩa thực tiễn
Luận án có ý nghĩa thực tiễn cao trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế ngày càng sâu rộng, yêu cầu nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa,
nhất là nông sản xuất khẩu của Việt Nam đã trở nên hết sức cấp thiết. Với
những đề xuất có tính khả thi, luận án đã góp phần vào việc hoàn thiện các
giải pháp tài chính để thúc đẩy phát triển CNSTH nhằm đẩy nhanh quá trình
CNH, HĐH đất nước.
Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận án được chia thành ba chương:
Chương 1: Công nghệ sau thu hoạch và vai trò của các công cụ tài
chính đối với công nghệ sau thu hoạch trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
Chương 2: Tác động của các giải pháp tài chính đối với công nghệ sau
thu hoạch ở Việt Nam.

thu hoạch sang giai đoạn STH. Nhìn chung, giai đoạn trước thu hoạch tương
đối rõ ràng và thuật ngữ "trước thu hoạch" thường có sự thống nhất cao về
mặt nhận thức.
- Giai đoạn sau thu hoạch: Hiện nay thuật ngữ STH vẫn còn là vấn
đề đang được tranh cãi vì rất khó xác định thời điểm bắt đầu và thời điểm kết
thúc của giai đoạn STH.
+ Thời điểm bắt đầu của giai đoạn STH
"Thu hoạch là một hoạt động có chủ đích để phân tách sản phẩm của
cây trồng ra khỏi phần thân cây hoặc ra khỏi đất" [58, tr. 1].


6

Sau thu hoạch là sau khi tách sản phẩm khỏi môi trường hoặc nơi sản
xuất. Vậy, STH có nghĩa là khi công việc thu hoạch đã được hoàn thành (sau
khi thu hoạch xong). Nhưng theo cách hiểu phổ biến ở hầu hết các nước thì
STH bao gồm cả hoạt động thu hoạch và thời điểm bắt đầu của STH được
tính từ khi hoạt động thu hoạch bắt đầu.
+ Thời điểm kết thúc của giai đoạn STH
Trong các tài liệu nghiên cứu từ trước đến nay, có rất nhiều cách hiểu
về thời điểm kết thúc của giai đoạn STH.
Có quan điểm cho rằng, STH chỉ là quá trình đảm bảo cho sản phẩm
vẫn còn tươi sau khi thu hoạch như lựa chọn, phân loại, bảo quản, sơ chế, đóng
gói sản phẩm. Quan điểm này mới chỉ tính đến một khía cạnh của khâu bảo
quản trong hoạt động STH. Đó là giữ cho sản phẩm tươi nguyên. Cách hiểu
này làm thu hẹp phạm vi của hoạt động STH.
Theo khái niệm nêu trong từ điển Newcollegiate của Webster từ "sau
thu hoạch" có nghĩa là "có liên quan đến, xảy ra hoặc được sử dụng trong
thời kỳ sau khi thu hoạch" [63, tr. 1]. Khái niệm này còn mang tính chất chung
chung và chưa phân định được rõ thời điểm bắt đầu và kết thúc của giai đoạn


xuất

hoạch

chế

quản

biến

chuyển

Marketing

Tiêu
dùng

Giai đoạn sau thu hoạch
Sơ đồ 1.1: Dây chuyền cung ứng nông sản
Các khâu trong giai đoạn STH có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau.
Trình tự của các khâu trong hệ thống STH có thể khác nhau tùy thuộc vào yêu
cầu của sản phẩm hoặc yêu cầu của người tiêu dùng. Để thấy được bức tranh
toàn cảnh về giai đoạn STH cần phải nghiên cứu toàn bộ hệ thống STH.
1.1.1.2. Hệ thống sau thu hoạch
Hệ thống STH là tập hợp của các hoạt động, các chủ thể, các giải pháp,
các sản phẩm và thị trường cũng như mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận,
các khâu có liên quan đến các hoạt động STH.
Hệ thống STH rất phức tạp, bao gồm:
- Nhiều khâu khác nhau: Thu hoạch, sơ chế (đập, phơi sấy, làm sạch,

Tổn thất (Loss) là "bất kỳ sự suy giảm nào về giá trị có thể sử dụng
được, khả năng có thể ăn được, về tính ích dụng và sự bổ dưỡng hoặc về chất
lượng của nông sản dẫn đến nông sản không thể tiêu thụ được" [39, tr. 15].
Tổn thất STH là tổng tổn thất xảy ra trong tất cả các khâu của hệ
thống STH. Tổn thất STH có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau:
- Theo tính chất của tổn thất:
+ Tổn thất về số lượng (Weight loss): Là sự suy giảm khối lượng của
sản phẩm trong toàn bộ hệ thống STH. Tuy nhiên, một số trường hợp giảm
khối lượng không nhất thiết là bị tổn thất. Ví dụ: hiện tượng bốc hơi nước,
hiện tượng hô hấp trong phạm vi cho phép được coi là sự hao hụt quy luật.


9

+ Tổn thất về chất lượng (Quality loss): Là sự suy giảm chất lượng
của sản phẩm xảy ra trong quá trình STH hoặc do những biến đổi hóa sinh,
tác động của vi sinh vật hoặc côn trùng, chuột và sự xây xát cơ học... Tổn thất
về chất lượng được đánh giá bằng nhiều chỉ tiêu như: chỉ tiêu dinh dưỡng (hàm
lượng vitamin, khoáng, đường...); chỉ tiêu vệ sinh an toàn thực phẩm (các độc
tố, hóa chất có hại, các vi khuẩn gây bệnh…); chỉ tiêu cảm quan (hình thức
bên ngoài, màu sắc, mùi vị...).
+ Tổn thất kinh tế (Economic loss): Là tổng tổn thất về số lượng và
chất lượng được tính thành tiền hoặc tính bằng tỷ lệ % của giá trị nông sản
thu hoạch được.
+ Tổn thất xã hội (Social loss): Là những tổn thất về vấn đề xã hội
như môi trường sinh thái, công ăn việc làm, an ninh lương thực...
- Theo nguyên nhân gây ra tổn thất:
+ Tổn thất do các nguyên nhân từ bên trong nông sản:
Sự hô hấp của nông sản: Sau khi thu hoạch, hầu hết các nông sản vẫn
tiếp tục quá trình hô hấp. Quá trình này của nông sản phụ thuộc vào nhiều yếu

khuẩn); côn trùng, sâu bọ; loại gặm nhấm và chim, dơi… Các sinh vật hại gây
tổn thất cho nông sản dưới các hình thức như: ăn hại làm giảm trọng lượng
nông sản; làm nhiễm bẩn nông sản do các chất thải của chúng và đưa vào
nông sản nhiều độc tố, mầm gây bệnh...


Tác động của con người: Tổn thất do con người gây ra bao gồm: thu

hoạch không đúng kỹ thuật (đổ vỡ, rơi rụng…); thiếu kỹ năng đóng gói và xử
lý nông sản; thiếu các phương tiện phục vụ cho quá trình vận chuyển, bảo
quản, chế biến nông sản (contener và kho tàng, kho lạnh, máy sấy...); không
phù hợp về trình độ chuyên môn và thiếu kinh nghiệm tổ chức, quản lý...
Tổn thất STH ở các nước, các vùng khác nhau chênh lệch nhau rất
lớn. Mức độ tổn thất STH ở những nước chậm phát triển thường cao hơn
nhiều so với các nước phát triển. Các nước ở vùng ôn đới hoặc lạnh có tổn
thất STH nhỏ hơn các nước ở vùng nhiệt đới nóng ẩm.
1.1.2. Công nghệ sau thu hoạch
1.1.2.1. Công nghệ
Công nghệ được hiểu là hệ thống các công cụ, các phương tiện và các
giải pháp nhằm biến đổi nguồn lực thành sản phẩm và dịch vụ phục vụ cho
nhu cầu của con người [54].
Công nghệ bao gồm bốn thành phần chủ yếu sau:


11

- Phần kỹ thuật: Bao gồm máy móc, thiết bị. Nó giúp cho việc tăng
năng lực cơ bắp và tăng trí lực của con người. Phần kỹ thuật được coi là
"xương sống" của hoạt động chuyển đổi nguồn lực.
- Phần con người: Bao gồm đội ngũ nhân lực để vận hành, điều khiển

thông tin, tư vấn, đào tạo, phổ biến, ứng dụng, chuyển giao công nghệ [28, tr. 19-20].
Các hoạt động trên có quan hệ chặt chẽ và đan xen lẫn nhau trong quá trình
phát triển của KH-CN.
1.1.2.2. Công nghệ sau thu hoạch
Công nghệ sau thu hoạch là các giải pháp nhằm giải quyết
các vấn đề thuộc các hoạt động thu hoạch, các hoạt động trước bảo
quản (đập, phơi sấy, làm sạch, phân loại, thu mua, vận chuyển), các
hoạt động trong quá trình bảo quản, chế biến, hoạt động kiểm tra
quản lý chất lượng và tiêu chuẩn hóa nông sản cũng như các hoạt
động mang tính chất kinh tế và xã hội của giai đoạn sau thu hoạch
[9, tr. 60].
Như vậy, CNSTH bao gồm các công nghệ gắn liền với các khâu của
hệ thống STH. Đó là một từ ghép của hai mảng gắn kết chặt chẽ với nhau là
công nghệ và STH. Là công nghệ nên CNSTH cũng bao gồm bốn bộ phận cấu


13

thành là kỹ thuật, con người, thông tin và quản lý. Thuộc hệ thống STH nên
CNSTH gắn chặt chẽ với nông nghiệp và việc cung ứng nông sản.
Trong dây chuyền cung ứng nông sản, tương ứng với hai giai đoạn
trước thu hoạch và sau thu hoạch là công nghệ trước thu hoạch và công
nghệ sau thu hoạch. Vì mỗi loại nông sản có những hoạt động STH khác
nhau nên CNSTH cũng khác nhau tùy thuộc vào từng loại nông sản và đặc
điểm cụ thể của từng nước, từng vùng. Song nhìn chung, CNSTH bao gồm
các công nghệ sau:
Công nghệ
thu hoạch

Công

Giai đoạn
trước thu
hoạch

Giai đoạn sau thu hoạch

Nông sản phẩm
cho tiêu dùng

Sơ đồ 1.3: Giai đoạn sau thu hoạch và công nghệ sau thu hoạch
trước

CNSTH có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề thuộc hệ thống STH. Mục
thu

đích của CNSTH là giảm tổn thất STH, tăng chất lượng, tăng giá trị nông sản
và đa dạng hóa sản phẩm. Ngoài ra, CNSTH còn liên quan đến nhiều vấn đề
hoạch


14

như: an ninh lương thực, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, xóa đói giảm
nghèo, tăng trưởng kinh tế và góp phần giải quyết một số vấn đề xã hội.
Để chuyển giao CNSTH một cách có hiệu quả cần phải áp dụng mô
hình lấy người tiếp nhận công nghệ làm trung tâm. Mô hình này phản ánh
mối quan hệ khép kín hai chiều. Người tiếp nhận công nghệ cũng đồng thời là
người đề xuất công nghệ. Các nhà khoa học cùng với người tiếp nhận công
nghệ sẽ tham gia vào việc xác định và đưa ra các CNSTH khả thi cho vấn đề
phát sinh. Nếu cần phải có sự thay đổi trong hệ thống các quy định hiện hành

huống

Các CNSTH khả thi
cho vấn đề phát sinh

2. Tìm kiếm CNSTH phù
hợp: Nhóm nghiên cứu
gồm người tiếp nhận công
nghệ và các nhà khoa học
của các lĩnh vực liên quan

Sơ đồ 1.4: Mô hình lấy người tiếp nhận công nghệ làm trung tâm
Nguồn: Regional workshop on farm storage, p. 64-65.
Với mô hình này, việc chuyển giao và áp dụng công nghệ bắt đầu và
kết thúc với những người sẽ sử dụng công nghệ đó. Những người đầu tư công


15

nghệ sẽ tránh được rủi ro đầu tư vào CNSTH không thích hợp. Xác định theo
cách này, CNSTH tạo ra sẽ áp dụng được vào thực tế và đem lại lợi ích cho
tất cả những người liên quan đến hoạt động STH.
1.1.3. Tính tất yếu của công nghệ sau thu hoạch
Một là: Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
Khác với sản xuất công nghiệp, sản xuất nông nghiệp mang tính mùa
vụ rất cao. Do tính thời vụ nên đến vụ thu hoạch, cung lớn hơn cầu về nông
sản rất nhiều. Để kéo dài thời gian cung ứng của nông sản nhằm hạn chế tính
mùa vụ của sản xuất nông nghiệp, nông sản phải được xử lý bằng CNSTH.
Hơn nữa, một số nông sản không thể sử dụng trực tiếp được mà phải
thông qua khâu chế biến như cà phê hạt phải phơi, sấy, rang, xay mới sử dụng

việc nhiễm độc tố nấm Aflatoxin đối với ngô, lạc ở ba nước: Inđônêsia, Thái
Lan và Philippin là 476,8 triệu AU $ cho cả người, vật nuôi (phụ lục 2).
Trong đó, tổn thất ảnh hưởng đến sức khỏe con người là 176,5 triệu AU $ [16,
tr. 5]. Vì vậy, phát triển CNSTH trở nên một yêu cầu hết sức bức xúc nhằm
nhanh chóng khắc phục tình trạng "mất mùa trong nhà" và sử dụng nguồn lực
có hiệu quả trong toàn bộ dây chuyền cung ứng nông sản.
Ba là: Do nhu cầu phong phú, đa dạng của người tiêu dùng và xã hội
Nhu cầu của người tiêu dùng và xã hội rất phong phú và ngày càng
phức tạp. Hiện nay, yêu cầu của người tiêu dùng đối với nông sản là:
- Đảm bảo các tiêu chuẩn thương phẩm như độ tươi nguyên, chất dinh
dưỡng, chất lượng và thuận tiện cho bữa ăn như thực phẩm chế biến nhanh.
- Đảm bảo các tiêu chuẩn về sức khỏe như vệ sinh, an toàn thực phẩm
và nông sản sạch.
- Đảm bảo phòng ngừa bệnh tật, chữa bệnh, và kéo dài tuổi thọ như
thực phẩm thuốc chữa bệnh.
- Đảm bảo sự phát triển toàn diện và giúp cho con người thông minh
hơn như thực phẩm chức năng.


17

Để đáp ứng được các yêu cầu trên phải áp dụng CNSTH, đặc biệt là
công nghệ chế biến. Công nghệ chế biến có khả năng biến đổi một loại
nguyên liệu nông sản thành nhiều loại hàng hóa theo ý muốn. Hơn nữa,
CNSTH còn cho phép sản xuất ra các sản phẩm mới mà nông sản nguyên
liệu bị hạn chế.
Đối với Việt Nam, yêu cầu phát triển CNSTH càng trở nên cấp thiết
hơn vì Việt Nam đang chuyển dần từ một nền nông nghiệp tự cung tự cấp
sang một nền nông nghiệp hàng hóa. Trong nền kinh tế tự cung tự cấp, số
lượng nông sản dư thừa không đáng kể nên vấn đề CNSTH ít được đặt ra.


20

80

Nghiên cứu cơ bản

25

75

Nghiên cứu ứng dụng

40

60

Nghiên cứu triển khai thử nghiệm

60

40

Cải tiến và cải tạo kỹ thuật

90

10

Hoạt động KH-CN

Các công nghệ trước thu hoạch đều nhằm mục đích tăng năng suất lao
động để tăng số lượng sản phẩm sản xuất ra. CNSTH khác với các loại công
nghệ khác là không có khả năng làm tăng lượng nông sản cao hơn so với số
nông sản đã tạo ra. Áp dụng CNSTH không làm tăng số lượng mà chỉ nhằm
giữ gìn số lượng nông sản đã tạo ra. Vì vậy, khó nhìn thấy một cách rõ ràng
kết quả của việc áp dụng CNSTH trong toàn bộ hệ thống STH.
Mặt khác, trong sản xuất nông nghiệp, khâu sản xuất và khâu tiêu
thụ gắn kết chặt chẽ với nhau nên khó có thể bóc tách kết quả một cách cụ
thể cho từng khâu. Do hiệu quả kinh tế của việc áp dụng CNSTH không
được nhìn thấy một cách rõ ràng trong từng khâu cũng như trong toàn bộ
hệ thống STH nên nhiều cấp, nhiều ngành và người dân chưa có sự quan
tâm đúng mức đến đầu tư phát triển CNSTH. Từ đặc điểm này cho thấy,
muốn phát triển CNSTH cần phải làm cho mọi người nhận thức rõ được
tầm quan trọng của CNSTH. Từ đó có các chính sách đầu tư thỏa đáng đối
với CNSTH.
Thứ hai: CNSTH bao gồm nhiều loại hình công nghệ khác nhau và rất
đa dạng.
CNSTH không phải là một công nghệ riêng biệt mà là một tập hợp các
công nghệ kết hợp với nhau như công nghệ sinh học, công nghệ vật lý, công
nghệ hóa học... Từ đặc điểm này cho thấy:
- CNSTH được hình thành cho tất cả các quy mô nhỏ, vừa, lớn. Do đó
đầu tư vào CNSTH có thể theo nhiều mức khác nhau từ nhỏ đến lớn.


20

- CNSTH phải phù hợp với từng nông sản cũng như điều kiện cụ thể của
từng thị trường. Do tính đa dạng của nguồn nguyên liệu và nhu cầu nhiều vẻ của
các thị trường nên CNSTH cũng mang tính chất đa dạng và phong phú. Vì
vậy, không thể có một CNSTH chung cho tất cả các loại nông sản. Thậm chí,

triển xuất khẩu nông sản và thâm nhập vào các thị trường lớn, khó tính. Vì
vậy, chính sách tài chính phải có các quy định cụ thể nhằm khuyến khích
nâng cao chất lượng vệ sinh và an toàn thực phẩm.
Thứ tư: Đầu tư cho CNSTH có rủi ro cao, khả năng thu hồi vốn thấp.
Khác với các ngành sản xuất vật chất khác, nông nghiệp là ngành
sản xuất sinh học và phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên. Chu kỳ sản
xuất của cây trồng khá phức tạp, có độ dài về mặt thời gian rất khác nhau.
Ngoài ra, tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp làm cho sự chu chuyển của
vốn chậm chạp nên phải dự trữ vốn trong một thời gian tương đối dài. Tính
thời vụ trong sản xuất nông nghiệp còn dẫn đến tình trạng hệ số sử dụng
máy móc thiết bị trong các khâu STH thấp, nhất là đối với hai khâu bảo
quản và chế biến nông sản. Để khuyến khích các chủ đầu tư trong và ngoài
nước tăng cường đầu tư vào CNSTH, chính sách thuế và tín dụng cần có sự
ưu đãi thỏa đáng. Đồng thời có sự hỗ trợ và định hướng của vốn NSNN cho
các khâu quan trọng trong hệ thống STH.
Thứ năm: CNSTH liên kết lợi ích của nhiều chủ thể kinh tế.
Có rất nhiều chủ thể tham gia vào hệ thống STH như nông dân, nhà
khoa học, doanh nghiệp, người tiêu dùng, Nhà nước... Trong đó lợi ích của
các bên có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau thông qua việc phát triển hệ
thống STH.
Áp dụng CNSTH, người nông dân sẽ tăng thêm thu nhập do giá trị,
chất lượng và giá cả của nông sản nguyên liệu được nâng cao. Các doanh
nghiệp thu được nhiều lợi nhuận hơn nhờ có nguồn nguyên liệu với chất
lượng tốt để tạo ra các sản phẩm có giá trị và giá trị sử dụng cao. Các nhà
khoa học có thêm thu nhập nhờ áp dụng các đề tài nghiên cứu về CNSTH vào
thực tế và cung cấp các các dịch vụ kỹ thuật cho các chủ thể của hệ thống


22



- Tài nguyên thiên nhiên: Đất đai màu mỡ, đa dạng sẽ góp phần vào
việc tăng năng suất cây trồng, tạo ra các nông đặc sản riêng có của từng vùng,
từng nước. Đây là một nguồn nguyên liệu tốt, tạo điều kiện cho CNSTH phát
triển.
Hai là: Nguồn nhân lực.
Chất lượng của nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng đối với quá trình
phát triển của CNSTH nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung. Sự tăng
trưởng và phát triển của CNSTH không phải do tổng lượng lao động quyết
định mà chủ yếu do hàm lượng lao động trí tuệ so với lao động giản đơn
chiếm trong tổng lượng lao động quyết định.
Khi phân tích nền kinh tế Đông Á thời kỳ 1969 - 1985, người ta rút ra
kết luận: 60% tốc độ tăng trưởng của các nước này là do sự đóng góp của vốn
vật chất và vốn con người. Trong số 60% đó, vốn vật chất chỉ chiếm từ 35 - 49%
còn lại 51 - 65% là đóng góp của vốn con người [49, tr. 30-31].
Ba là: Nguồn vốn.
Vốn có tác động rất quan trọng đối với việc phát triển CNSTH. Nhu
cầu về vốn để phát triển CNSTH rất lớn, bao gồm cả vốn bằng tiền và vốn
bằng hiện vật (tài sản hoặc cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật - xã hội). Vốn để
phát triển CNSTH có thể lấy từ các nguồn: vốn NSNN, vốn tín dụng, vốn của
các chủ thể kinh doanh, vốn nhàn rỗi huy động trong dân và vốn nước ngoài.
Trong đó nguồn vốn từ NSNN đóng vai trò quyết định đến cơ cấu và phương
hướng đầu tư cho CNSTH.
1.1.5.2. Nhóm nhân tố liên quan đến đầu ra
Nhóm này bao gồm thị trường đầu ra và phong tục, tập quán của dân
cư từng vùng.
- Thị trường đầu ra


24

25

chính sách này phù hợp sẽ tạo điều kiện thúc đẩy CNSTH phát triển. Ngược lại
sẽ là một lực cản rất lớn đối với sự phát triển của CNSTH.
1.1.5.4. Nhóm nhân tố quốc tế
Trong điều kiện hội nhập với kinh tế thế giới hiện nay, các nhân tố
quốc tế có tác động rất lớn đến sự phát triển của CNSTH. Với các hình thức
đầu tư trực tiếp và gián tiếp của nước ngoài cùng với viện trợ quốc tế sẽ tạo
cơ hội cho Việt Nam có điều kiện tiếp cận với công nghệ hiện đại của thế giới
để đẩy nhanh tốc độ phát triển của CNSTH. Song mở cửa thị trường thế giới
cũng đồng nghĩa với việc đặt CNSTH của Việt Nam trước sự cạnh tranh gay
gắt với CNSTH của các nước tiên tiến trên thế giới.
Qua phân tích có thể thấy rằng, CNSTH chịu tác động tổng hợp của
rất nhiều các nhân tố: từ các nhân tố tự nhiên đến các nhân tố kinh tế - chính
trị - xã hội; từ các nhân tố trong nước đến các nhân tố ngoài nước. Để thúc
đẩy CNSTH phát triển cần phải kết hợp hài hòa và có hiệu quả tác động tổng
hợp của tất cả hệ thống các nhân tố trên.
1.2. VAI TRÒ CỦA CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN NÔNG NGHIỆP VÀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

1.2.1. Công nghệ sau thu hoạch thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước
CNH, HĐH là một quá trình chuyển đổi từ sử dụng lao động thủ công
là chính sang sử dụng sức lao động kết hợp cùng với công nghệ, phương tiện và
phương pháp tiên tiến, hiện đại để tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX
đã nêu rõ:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn,
gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, thực hiện cơ khí hóa,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status