1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Phát triển công nghiệp chế biến nông sản là một định hướng chiến lược
được ưu tiên hàng đầu trong chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp. Trong đó
công nghiệp chế biến rau quả là một trong những bộ phận cấu thành quan
trọng. Mặc dù tỷ lệ chế biến còn thấp so với một số ngành chế biến nông sản
khác ở trong nước cũng như các nước trong khu vực (đang dừng lại ở con số
từ 5 % đến 7 %), nhưng sản phẩm rau quả chế biến của nước ta đã khẳng
định được vị thế là một trong những nhóm mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu
tương đối cao, góp phần thực hiện chiến lược xuất khẩu cũng như công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Những năm 70 và 80, sản phẩm rau quả
chế biến của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang Liên Xô và một số
nước XHCN Đông Âu. Tại những thị trường này sản phẩm rau quả chế biến
cũng đã khẳng định được uy tín, đặc biệt có những mặt hàng đã từng nhận
được huy chương vàng tại hội chợ quốc tế lúc đó. Cuộc khủng hoảng kinh tế
và chính trị này đã có những tác động to lớn tới nền kinh tế Việt Nam. Công
nghiệp chế biến rau quả không nằm ngoài tình trạng đó. Thị trường tiêu thụ
rau quả chế biến bị thu hẹp một cách đáng kể.
Nhưng cũng từ thách thức đó lại là cơ hội để các doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh trong ngành hàng rau quả đổi mới công nghệ, tích cực tìm kiếm
và phát triển được một số thị trường mới như Nhật bản, EU, Mỹ... Tuy nhiên
những kết quả bước đầu còn rất hạn chế và khiêm tốn. Hơn nữa, việc đầu tư
đổi mới công nghệ của các nhà máy chế biến chưa được quan tâm đúng mức
và triệt để. Điều đó ảnh hưởng lớn tới năng suất, chất lượng cũng như chi phí
sản xuất. Thực tế trong thời gian qua công tác bảo đảm nguyên liệu rau quả
cho chế biến cũng gặp không ít khó khăn. Có lúc các nhà máy chế biến thiếu
nguyên liệu một cách trầm trọng, ngược lại cũng có lúc ở nơi này hay nơi
3
doanh nghiệp, nhưng cũng có những vấn đề cần phân tích và giải quyết ở phạm
vi vĩ mô như chính sách khuyến khích xuất khẩu, quy hoạch vùng nguyên liệu.
2. Tổng quan các tài liệu nghiên cứu đề tài
Chủ đề nghiên cứu về phát triển công nghiệp chế biến rau quả chế biến ở
nhiều khía cạnh, phạm vi không gian, đối tượng nghiên cứu khác nhau trong
thời gian qua được tổng quan lại như sau:
- Chiến lược thâm nhập thị trường Mỹ, đề tài nghiên cứu cấp bộ, Chủ
nhiệm PGS. TS. Võ Thanh Thu (5/2001)[51], trong đó có đề cập đến nhóm mặt
hàng rau, củ và quả trong chiến lược thâm nhập vào thị trường Mỹ trong điều
kiện hội nhập, đặc biệt sau khi Hiệp định thương mại Việt- Mỹ được ký kết. Đề
tài nghiên cứu cả những cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ cho quá trình hoạch
định chiến lược thâm nhập vào thị trường Mỹ trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị
ký kết Hiệp định thương mại Việt - Mỹ. Theo chúng tôi đề tài này đề xuất chiến
lược thâm nhập thị trường Mỹ khi chưa ký kết Hiệp định, dù sao đó cũng mới
chỉ là dự báo, mong muốn. Thực tế sau khi Hiệp định thương mại Việt- Mỹ đã
ký kết, rất nhiều vấn đề đã nảy sinh mà những bất lợi thường là về Việt Nam.
- Một số biện pháp thúc đẩy xuất khẩu một số rau quả đến năm 2005 (Mã số
97- 78- 083), Chủ nhiệm đề tài: CNKT. HoàngTuyết Minh- Viện nghiên cứu
Thương mại- Bộ Thương mại, nghiệm thu 17/2/2000[6]. Đề tài đã nghiên cứu
tổng quan thực trạng xuất khẩu các sản phẩm của ngành hàng rau quả. Qua đó đã
có đánh giá những ưu điểm và những hạn chế về xuất khẩu rau quả của Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay. Từ đó các tác giả của đề tài đã có những đề xuất
nhằm thúc đẩy công tác xuất khẩu nhóm sản phẩm rất tiềm năng này đến năm
2005. Đề tài chỉ tập trung vào thị trường xuất khẩu. Theo chúng tôi nếu quá nhấn
mạnh đến xuất khẩu và sản phẩm xuất khẩu lại không có sức cạnh tranh, trong khi
đó thị trường nội địa đầy tiềm năng lại bỏ qua là một hạn chế cần giải quyết ;
- Đề án đẩy mạnh xuất khẩu rau quả thời kỳ 2001- 2010- Bộ Thương mại
5
thiết. Giá trị hàng nông sản có được nâng cao hay không chính là ở chế biến
và thương mại;
- Chính sách và giải pháp nâng cao giá trị gia tăng hàng nông sản xuất
khẩu của Việt Nam hiện nay(2005), đề tài nghiên cứu cấp bộ(Bộ Thương
mại). Chủ nhiệm đề tài: GS.TSKH. Lương Xuân Quỳ. Đề tài đã nghiên cứu
dựa trên cơ sở lý luận về giá trị gia tăng, một phạm trù kinh tế rất được chú ý
nghiên cứu thời gian gần đây. Trên cơ sở lý luận, đề tài đã phân tích và đánh giá
về thực trạng giá trị gia tăng của một số nông sản xuất khẩu chủ yếu như gạo,
chè, cà phê, thuỷ sản. Từ đó đề tài đã có những đề xuất về các chính sách và giải
pháp nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho những ngành hàng tương ứng. Chúng
tôi rất đồng tình với những giải pháp về các chính sách vĩ mô hỗ trợ. Theo
chúng tôi ngoài cơ sỏ lý luận về giá trị gia tăng theo tiếp cận chuỗi, cũng cần
nhấn mạnh hơn nữa đến tiếp cận hệ thống trong giải quyết vấn đề giá trị gia tăng
không riêng gì với các ngành hàng nông sản, mà còn đúng với các ngành hàng
khác. Trong đề tài nghiên cứu ngành hàng rau quả cũng chưa được đề cập
nghiên cứu.
- Nghiên cứu của TS. Bùi Thị Minh Hằng với bài viết: Nhận diện một số
nhân tố xác định thành công trong phát triển ngành sản phẩm tại Việt Nam.
Chúng tôi rất đồng tình với quan điểm của tác giả với vai trò chủ đạo của mắt
xích cầu trong mô hình kim cương của M.Porter đối với sự phát triển của một
số ngành công nghiệp ở Việt Nam. Tuy nhiên theo chúng tôi các nhân tố khác
trong mô hình kim cương( đầu vào, cạnh tranh hiện tại trong ngành, ngành có
liên quan và hỗ trợ) cũng cần đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với nhau
chứ không thuần tuý chỉ là nhân tố cung như tác giả đã khẳng định;
- Hội nghị quốc tế về chuỗi giá trị vùng Đại Tây Dương [65] được tổ
chức tại Dartmonth(Nouvell- Ecosse- Canada), trong đó có tham luận của
GS. David Hughes, thuộc Đại học Luân Đôn đề cập đến giá trị gia tăng đối