ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ MAI HIÊN
NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP
PHÁP CỦA ĐƢƠNG SỰ VÀ NGƢỜI LIÊN QUAN ĐẾN
VIỆC THI HÀNH ÁN
Công trình đƣợc hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Anh Tuấn
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số
: 60 38 30
Luận văn đƣợc bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp tại
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vào hồi ..... giờ ....., ngày ..... tháng ..... năm 2014.
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
1
1.2.3.
1.2.4.
1.3.
1.4.
1.4.1.
1.4.2.
1.4.3.
Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp
của đương sự và người liên quan trong thi hành án dân sự
Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương
sự và người liên quan đến việc thi hành án
Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự và người liên quan đến việc thi hành án
Cơ sở của việc xây dựng các quy định về nguyên tắc bảo đảm quyền,
lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan đến việc thi hành án
Nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và
người liên quan đến việc thi hành án được xây dựng trên cơ sở
đường lối của Đảng về hoạt động tư pháp
Nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người
liên quan đến việc thi hành án được xây dựng trên cơ sở các quy định
của Hiến pháp và các luật chuyên ngành về bảo vệ quyền cơ bản
Nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và
người liên quan đến việc thi hành án xuất phát từ nhiệm vụ, quyền
hạn và trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự
Nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và
người liên quan đến việc thi hành án xuất phát từ quyền bình đẳng
14
15
16
2.2.1.
2.2.2.
2.3.
2.3.1.
2.3.2.
2.3.3.
2.3.4.
2.4.
3.1.
23
23
25
26
31
Các quy định về thủ tục thi hành án dân sự với việc bảo đảm quyền,
lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan
Quy định về bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án với việc bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
Quy định về từ chối, trả đơn yêu cầu thi hành án với việc bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
49
51
52
53
55
61
LỢ I ÍCH HỢ P PHÁP CỦA ĐƢƠ NG SỰ VÀ NGƢỜ I
LIÊN Q UAN ĐẾN VIỆC THI HÀNH ÁN VÀ KIẾN NGHỊ
17
18
28
TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA ĐƢƠNG
SỰ VÀ NGƢỜ I LIÊN Q UAN ĐẾN VIỆC THI HÀNH ÁN
2.1.
MỞ ĐẦU
Thời kỳ từ khi ban hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004
đến khi có Luật Thi hành án dân sự năm 2008
Chương 2: NỘ I DUNG CÁC Q UY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ NGUYÊN
3.1.1.
3.1.2.
3.2.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành án dân sự (THADS) là một giai đoạn của quá trình tố tụng
dân sự, giai đoạn kết thúc quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự, trong
đó các bản án, quyết định của Tòa án được đưa ra thi hành. Pháp luật
THADS quy định trình tự, thủ tục và biện pháp thi hành bản án, quyết
định của Tòa án trước hết nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người
được thi hành án. Tuy nhiên, các quy định này cũng phải hướng tới việc
bảo đảm an toàn pháp lý cho người phải thi hành án và người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến thi hành án.
Xét về lý luận thì bản án, quyết định của Tòa án nhân danh Nhà
nước có hiệu lực pháp luật phải được các đương sự tôn trọng thực hiện.
Ngược lại, bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật chậm được thi hành
hoặc không được thi hành trên thực tế thì quyền lợi hợp pháp của đương
sự chưa được đảm bảo thực hiện. Việc thi hành án không đúng pháp luật
cũng có thể gây tổn hại đến quyền lợi của các đương sự khác trong thi
hành án, dẫn tới nguyên tắc pháp chế bị vi phạm, niềm tin của quần
chúng nhân dân vào Đảng và Nhà nước bị suy giảm.
Xét về pháp luật thì nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được ghi nhận tại
Điều 5 của Luật THADS năm 2008. Tuy nhiên, các quy định của pháp
luật hiện hành về vấn đề này còn khá chung chung, thiếu tính cụ thể và
thiếu cơ chế bảo đảm thực hiện. Điều luật này dường như mới chỉ dừng
lại ở quy định rất đơn giản với nội dung: "Trong quá trình thi hành án,
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ".
Những năm qua công tác THADS đã từng bước được đẩy mạnh và đã
thu được những kết quả to lớn. Pháp luật về THADS đã và đang được củng
cố và hoàn thiện ngày càng phù hợp với những yêu cầu mới đặt ra của sự
Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2012 chỉ có 01 trang đề cập đến nội
dung cơ bản của nguyên tắc này. Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu
có đề một cách gián tiếp đến nguyên tắc này như: "Hoàn thiện pháp luật
thi hành án dân sự" (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, của Trường
Đại học Luật Hà Nội, do TS. Nguyễn Công Bình làm chủ nhiệm, năm
2004); "Những điểm mới của Luật Thi hành án dân sự năm 2008" (Đề tài
6
nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, do TS. Bùi
Thị Huyền làm chủ nhiệm, năm 2011).
Về bài viết nghiên cứu có liên quan gián tiếp đến bảo đảm quyền, lợi
ích của đương sự và người liên quan trong THADS, có một số bài viết
sau đây: Bài viết "Thực tiễn thi hành và giải pháp hoàn thiện thủ tục thi
hành án dân sự" của ThS. Đinh Thị Mai Phương, Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp, số 01/2006; "Về một bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng
không được thi hành" của Nguyễn Thị Khanh, Tạp chí Kiểm sát, số
7/2009; "Trách nhiệm bồi thường nhà nước trong hoạt động thi hành
án", của Nguyễn Công Long, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 4/2009;
"Về nghĩa vụ của người được thi hành án trong trường hợp cơ quan thi
hành án tiến hành áp dụng biện pháp cưỡng chế" của Phạm Văn Hưng,
Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 02/2010 v.v...
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đã công bố mà tác giả luận văn
khảo sát nói trên cũng chỉ dừng lại ở một số nội dung cơ bản nhất hoặc
liên quan gián tiếp đến nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự và người liên quan trong THADS. Cho đến nay chưa có một
công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu và toàn diện
về nguyên tắc này. Do vậy, luận văn này là công trình nghiên cứu chuyên
sâu đầu tiên về nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương
sự và người liên quan trong THADS. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên
quan đến việc THADS;
- Thực tiễn áp dụng các quy định hiện hành về nguyên tắc bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan đến việc THADS.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đã đặt ra; trong quá
trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng một số phương pháp luận và
phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
(i) Việc nghiên cứu thực hiện đề tài được dựa trên phương pháp luận
nghiên cứu khoa học duy vậy lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật;
(ii) Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu chuyên ngành. Cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích, bình luận, diễn giải, phương pháp lịch sử...
được sử dụng trong Chương 1 khi nghiên cứu tổng quan những vấn đề lý
8
luận về nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và
người liên quan đến việc THADS
- Phương pháp so sánh luật học, phương pháp đánh giá v.v... được sử
dụng trong Chương 2 khi tìm hiểu và đánh giá các quy định của pháp luật
về nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người
liên quan đến việc THADS.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê... được sử dụng ở
Chương 3 khi đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật và đề xuất các giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi
ích hợp pháp của đương sự và người liên quan đến việc THADS
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Thứ nhất, nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
và người liên quan trong THADS có ý nghĩa chính trị sâu sắc:
Thứ hai, nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
và người liên quan trong THADS thể hiện bản chất tốt đẹp của Nhà nước
pháp quyền và dân chủ:
1.1.2.2. Ý nghĩa xã hội
Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan
trong THADS là một biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; làm
cho công tác THADS chính xác, khách quan, toàn diện và đầy đủ.
Nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên
quan là nguyên tắc mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, thể hiện tính nhân đạo
trong THADS ở Việt Nam.
Việc quy định nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự và người liên quan trong THADS góp phần tích cực vào việc
bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, củng cố lòng tin của quần chúng nhân
dân vào hoạt động của thiết chế THADS.
1.1.2.3. Ý nghĩa pháp lý
Nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người
liên quan là cơ sở pháp lý quan trọng để đương sự, người có quyền lợi
10
hợp pháp liên quan trong thi hành án có thể sử dụng để bảo vệ quyền lợi
của mình khi cơ quan thi hành án, Thừa phát lại tổ chức việc thi hành án.
Đối với cơ quan tiến hành tố tụng, việc quy định nguyên tắc bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan là cơ sở pháp lý
để đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án đồng thời là cơ sở
để cơ quan thi hành án, Thừa phát lại ra các quyết định cần thiết để tổ
chức việc thi hành án.
1.2. Cơ sở của việc xây dựng các quy định về nguyên tắc bảo đảm
đương sự và người liên quan với các nguyên tắc thỏa thuận trong
THADS và nguyên tắc tiếng nói, chữ viết dùng trong THADS
- Mối quan hệ giữa nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự và người liên quan với nguyên tắc giám sát, kiểm sát hoạt động
trong THADS
Tóm lại, có thể nói, nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự và người liên quan trong THADS là nguyên tắc cơ bản và có
tầm quan trọng lớn. Tất cả các nguyên tắc trên đều hướng tới việc bảo
đảm quyền, lợi ích của chủ thể có quyền lợi trong thi hành án nhưng
nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên
quan trong THADS là nguyên tắc có ý nghĩa trực tiếp và nhấn mạnh nhất
tới việc bảo đảm quyền lợi của người được thi hành án nhưng không
được xâm hại tới quyền lợi hợp pháp của người phải thi hành án và các
chủ thể có quyền lợi liên quan tới việc thi hành án.
Nguyên tắc bảo đảm nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp
của đương sự và người liên quan là nguyên tắc có mối quan hệ hữu cơ
gắn bó với một loạt các nguyên tắc khác của THADS, bao gồm:
Các nguyên tắc khác của THADS đều có quan hệ gắn bó mật thiết
với nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người
liên quan trong THADS và nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp
của đương sự và người liên quan trong THADS chỉ có ý nghĩa khi việc
bảo đảm cho nguyên tắc này được thực hiện đồng bộ với việc thực hiện
các nguyên tắc nêu trên.
11
12
lực của các bản án, quyết định về dân sự của Tòa án, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của Nhà nước, của tập thể và công dân, góp phần tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
quyền lợi của người được thi hành án mà còn phải bảo đảm cả quyền
tham gia của người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan đến việc thi
hành án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
1.4.3. Thời kỳ từ khi ban hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm
1993 đến trước khi có Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004
Pháp lệnh THADS ban hành ngày 21/4/1993, có hiệu lực ngày
01/6/1993 đã thay thế Pháp lệnh THADS ban hành ngày 28/8/1989. Tại
Điều 8 Pháp lệnh này đã tiếp tục ghi nhận nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi
ích hợp pháp của người có liên quan đến việc thi hành án.
Điểm khác biệt căn bản nhất của Pháp lệnh THADS năm 1993 so
với Pháp lệnh THADS năm 1989 chính là ở các quy định về chủ thể
chính có trách nhiệm bảo đảm quyền lợi của đương sự và người liên quan
trong THADS. Theo Pháp lệnh THADS năm 1989, Tòa án có nhiệm vụ
bảo đảm quyền lợi của đương sự và người liên quan trong THADS, còn
theo Pháp lệnh THADS năm 1993 thì nhiệm vụ này được chuyển giao
cho hệ thống các cơ quan THADS.
1.4.4. Thời kỳ từ khi ban hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm
2004 đến khi có Luật Thi hành án dân sự năm 2008
Qua hơn 10 năm thi hành, Pháp lệnh THADS năm 1993 đã bộc lộ
nhiều bất cập trước những đòi hỏi của quá trình đổi mới, cải cách hành
chính, cải cách tư pháp. Vì vậy, ngày 14/01/2004, Ủy ban Thường vụ
Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh THADS sửa đổi thay thế Pháp lệnh
THADS năm 1993.
Nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người
liên quan lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều 7 Pháp lệnh THADS ngày
THADS. Thực tế, tổ chức THADS cho thấy không phải trường hợp nào
việc tổ chức THADS cũng đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu đó. Do vậy,
pháp luật THADS của chúng ta đã có những quy định về trách nhiệm của
các cơ quan, tổ chức ra bản án, quyết định phải giải thích cho các đương
sự quyền, nghĩa vụ thi hành án của họ, thời hiệu yêu cầu THADS và giải
thích bản án, quyết định trong trường hợp chúng không chính xác, rõ
ràng. Đây là yếu tố cơ bản để các đương sự và những người liên quan
thực hiện và bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong
THADS, được quy định cụ thể tại Điều 382 BLTTDS, Điều 26 và Điều 179
Luật THADS.
NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ NGUYÊN TẮC
BẢO ĐẢM QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA ĐƢƠNG SỰ
VÀ NGƢỜI LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC THI HÀNH ÁN
Quyền yêu cầu THADS được giới hạn bởi thời hiệu yêu cầu thi hành
án theo quy định của Luật THADS. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được
quy định tại Điều 30 Luật THADS.
Đối chiếu với quy định của Pháp lệnh THADS năm 1993, Nghị định
số 30/CP ngày 02/6/1993 của Chính phủ thì những quy định tại Pháp
lệnh THADS năm 2004 và Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005
của Chính phủ đã có một bước tiến rõ rệt trong việc nâng cao trách
nhiệm của cơ quan THADS, Chấp hành viên trong việc bảo đảm quyền
lợi của đương sự và người liên quan trong THADS.
Ngày 14/11/2008, Quốc hội đã thông qua Luật THADS có hiệu lực
từ 01/07/2009. Văn bản pháp lý này đã kế thừa và phát triển các quy định
về bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan
trong THADS. Theo quy định tại Điều 5 của Luật này thì "Trong quá
trình thi hành án, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền
hành án có các nội dung chính sau đây:
"a) Họ, tên, địa chỉ của người yêu cầu;
b) Tên cơ quan thi hành án dân sự nơi yêu cầu;
17
c) Họ, tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án;
d) Nội dung yêu cầu thi hành án;
đ) Thông tin về tài sản hoặc điều kiện thi hành án của người phải thi
hành án".
Vấn đề này được hướng dẫn cụ thể tại khoản 2 Điều 4 Nghị định
58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và
hướng dẫn một số điều của Luật THADS về thủ tục THADS.
2.1.4. Quy định về quyền được tham gia vào quá trình thi hành án
của chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp
Trong tổ chức THADS, việc thông báo thi hành án có ý nghĩa rất
quan trọng. Qua thông báo, người được thông báo biết được quyền, nghĩa
vụ thi hành án của mình để thực hiện. Vì vậy, để tổ chức THADS thì cơ
quan thi hành án phải tiến hành thông báo thi hành án cho các đương sự,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến tham dự việc thi hành án
(được quy định rõ tại các điều 39, 40, 42 Luật THADS).
2.2. Các quy định về biện pháp bảo đảm và cƣỡng chế thi hành
án dân sự với việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đƣơng sự và
ngƣời liên quan
2.2.1. Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự với việc bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan
Việc áp dụng biện pháp bảo đảm THADS bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp của đương sự và người liên quan được thể hiện:
- Ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn
tránh việc thi hành án nên bảo đảm được hiệu lực của bản án, quyết định,
quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, bảo đảm tính
2.3.4. Về xử lý vi phạm trong thi hành án dân sự
Theo quy định tại Điều 165 Luật THADS thì để bảo vệ quyền lợi
của người thi hành án và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người
phải thi hành án sẽ bị xử lý vi phạm khi cố ý không chấp hành bản án,
quyết định; nếu không tự nguyện thi hành các quyết định về thi hành án
thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành
chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Để bảo vệ quyền lợi của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan thì cơ quan, tổ chức, cá nhân sẽ bị xử lý vi phạm khi không thực hiện
các quyết định về thi hành án thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm mà bị
xử phạt vi phạm hành chính, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường; nếu là cá
nhân thì còn có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý cản trở việc thi hành án
hoặc ép buộc Chấp hành viên thi hành án trái pháp luật; phá hủy niêm
phong, tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại vật
chứng, tài sản tạm giữ, tài sản bị kê biên thì tùy theo tính chất, mức độ vi
phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây
thiệt hại thì phải bồi thường.
Thủ trưởng cơ quan THADS cố ý không ra quyết định thi hành án
hoặc ra quyết định về thi hành án trái pháp luật; Chấp hành viên không
thi hành đúng bản án, quyết định, trì hoãn việc thi hành án, áp dụng biện
pháp cưỡng chế thi hành án trái pháp luật; vi phạm quy chế đạo đức của
Chấp hành viên thì bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
thức của chủ thể có trách nhiệm tiến hành và phối hợp trong thi hành án
trong việc tôn trọng pháp luật, tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của các
đương sự và người liên quan trong THADS, phòng ngừa các vi phạm
pháp luật có thể xảy ra.
2.4. Các quy định về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại đến việc
22
thấy được kết quả này qua bảng tổng kết về công tác THADS giai đoạn
2006-2013 như sau:
Bảng 3.1: Kết quả THADS giai đoạn 2006- tháng 6/2014
Năm
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Tháng
6/2014
Tổng số việc
thụ lý
589.814
656.909
670.705
635.951
629.453
646.667
657.165
732.179
89
86,53
513.758
384.744
204.640
53
Nguồn: Cục THADS - Bộ Tư pháp.
Số liệu tổng hợp trên có thể thấy, việc bảo đảm quyền lợi của người
được thi hành án đã đạt được những kết quả nhất định, chất lượng
THADS ngày càng được nâng cao thể hiện thông qua số vụ việc và số
tiền thi hành án thu được. Việc ra quyết định thi hành án được thực hiện
đúng thời hạn góp phần bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án của đương
sự; tình trạng vi phạm pháp luật trong hoạt động thi hành án về cơ bản
được khắc phục, việc tổ chức THADS được chỉ đạo sát sao.
3.1.2.3. Khó khăn trong việc các bên liên quan trong thi hành án
(chủ yếu là bên bị thi hành án) tìm cách trốn tránh hoặc có những khoản
nợ khác
3.1.2.4. Hiện tượng Chấp hành viên thi hành không đúng theo nội
dung bản án, sự thiếu phối hợp từ phía các cơ quan dẫn tới không đảm
bảo quyền lợi của các bên trong thi hành án dân sự vẫn còn tồn tại
3.1.2.5. Khó khăn, vướng mắc trong áp dụng biện pháp bảo đảm thi
hành án dân sự
3.1.2.6. Một số khó khăn, vướng mắc điển hình trong cưỡng chế thi hành,
dẫn tới quyền lợi của đương sự trong thi hành án không được bảo đảm
đơn yêu cầu không đáp ứng các nội dung theo quy định
23
24
- Cần có quy định cụ thể nhằm chống sự lạm quyền của người yêu
cầu áp dụng biện pháp bảo đảm THADS, bảo đảm tốt hơn quyền lợi hợp
pháp của bên bị áp dụng
- Phải thiết lập một văn bản liên ngành về sự phối hợp giữa Cơ quan
THADS với các chủ thể khác có liên quan khi tiến hành áp dụng các biện
pháp bảo đảm THADS
- Tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước có
liên quan đến công tác thi hành án
- Sửa đổi quy định theo hướng cho phép Chấp hành viên áp dụng
biện pháp bảo đảm thi hành án đối với cả người liên quan trong thi hành
án và đối với cả đương sự vắng mặt không có lý do chính đáng
KẾT LUẬN
- Cần có qui định cụ thể về số tiền tối thiểu cần để lại khi áp dụng
biện pháp cưỡng chế thi hành án
- Sửa đổi, bổ sung qui định về xử lý tài sản kê biên có tranh chấp
- Bổ sung quy định về kê biên tài sản của người phải thi hành án
phải tương xứng với nghĩa vụ thi hành án và các chi phí về thi hành án
- Bổ sung qui định về nguyên tắc xác định thứ tự tài sản có thể bị kê
tài sản hoặc điều kiện thi hành; biện pháp bảo đảm và cưỡng chế THADS
cũng như các qui định về khiếu nại, tố cáo, kháng nghị và xử lý vi phạm,
trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong THADS.
Qua nghiên cứu thực tiễn thi hành nguyên tắc, luận văn cũng đã chỉ
ra được một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật
THADS về vấn đề này. Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu lý luận,
hạn chế của pháp luật và thực tiễn về bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự và người liên quan, luận văn đã đưa ra những kiến nghị, đề xuất có
giá trị tham khảo cho việc hoàn thiện và thực hiện pháp luật về bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan trong THADS.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao ý
thức chấp hành pháp luật, hiểu rõ quyền lợi ích hợp pháp của mình, chấp
hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án trong nhân dân
25
26