nguyên tắc bảo đảm quyền lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan đến việc thi hành án - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ MAI HIÊN NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN,
LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA ĐƢƠNG SỰ
VÀ NGƢỜI LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC THI HÀNH ÁN LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Anh Tuấn
HÀ NỘI - 2014 3

Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn Nguyễn Thị Mai Hiên

MỞ ĐẦU
1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC BẢO
ĐẢM QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA ĐƢƠNG SỰ
VÀ NGƢỜI LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC THI HÀNH ÁN
7
1.1.
Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp
pháp của đương sự và người liên quan trong thi hành án dân sự
7
1.1.1.
Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự và người liên quan đến việc thi hành án
7
1.1.2.
Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự và người liên quan đến việc thi hành án
11
1.2.
Cơ sở của việc xây dựng các quy định về nguyên tắc bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan đến
việc thi hành án
14
1.2.1.
Nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và
người liên quan đến việc thi hành án được xây dựng trên cơ sở
đường lối của Đảng về hoạt động tư pháp
14
1.2.2.

1.4.2.
Thời kỳ từ năm 1990 đến trước khi có Pháp lệnh Thi hành án
dân sự năm 1993
25
1.4.3.
Thời kỳ từ khi ban hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm
1993 đến trước khi có Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004
26
1.4.4.
Thời kỳ từ khi ban hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm
2004 đến khi có Luật Thi hành án dân sự năm 2008
28

Chương 2: NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ NGUYÊN
TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA ĐƢƠNG
SỰ VÀ NGƢỜI LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC THI HÀNH ÁN
31
2.1.
Các quy định về thủ tục thi hành án dân sự với việc bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan
31
2.1.1.
Quy định về bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án với việc bảo
đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
31
2.1.2.
Quy định về từ chối, trả đơn yêu cầu thi hành án với việc bảo
đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
35
2.1.3.

2.3.2.
Về tố cáo và giải quyết tố cáo trong thi hành án dân sự
51
2.3.3.
Về kháng nghị và giải quyết kháng nghị về thi hành án dân sự
52
2.3.4.
Về xử lý vi phạm trong thi hành án dân sự
53
2.4.
Các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại với việc bảo
đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan
đến việc thi hành án
55

Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN NGUYÊN BẢO ĐẢM QUYỀN,
LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA ĐƢƠNG SỰ VÀ NGƢỜI LIÊN
QUAN ĐẾN VIỆC THI HÀNH ÁN VÀ KIẾN NGHỊ
61
3.1.
Thực tiễn thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp
pháp của đương sự và người liên quan đến việc thi hành án
61
3.1.1.
Về thành tựu đạt được từ thực tiễn thực hiện nguyên tắc
61
3.1.2.
Về những bất cập, vướng mắc từ thực tiễn thực hiện nguyên tắc
63
3.2.
8
DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
3.1
Kết quả THADS giai đoạn 2006- tháng 6/2014
61 9

10
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành án dân sự (THADS) là một giai đoạn của quá trình tố tụng dân
sự, giai đoạn kết thúc quá trình bảo vệ quyền lợi của đương sự, trong đó các bản
án, quyết định của Tòa án được đưa ra thi hành. Pháp luật THADS quy định
trình tự, thủ tục và biện pháp thi hành bản án, quyết định của Tòa án trước hết
nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án. Tuy nhiên, các
quy định này cũng phải hướng tới việc bảo đảm an toàn pháp lý cho người
phải thi hành án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến thi hành án.

minh của pháp luật và tăng cường tính pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN).
Thực tiễn công tác thi hành án cho thấy tình trạng quyền lợi hợp pháp của
người được thi hành án không được bảo đảm thực hiện do người phải thi hành
án cố tình lẩn tránh, chống đối việc thi hành án, tình trạng chậm thi hành án,
án tồn đọng vẫn còn tồn tại. Ngoài ra, hiện tượng cơ quan thi hành án vượt
quá quyền hạn của mình, thi hành án không đúng pháp luật dẫn tới xâm phạm
quyền lợi hợp pháp của người phải thi hành án và những người liên quan cũng
gây nhiều bức xúc trong xã hội.
Với những lý do phân tích trên, việc nghiên cứu một cách có hệ thống
cả về phương diện lý luận, pháp luật và thực tiễn thực hiện các quy định của
pháp luật về nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và
người liên quan trong THADS là cấp thiết, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và
thực tiễn. Với nhận thức đó, tác giả đã lựa chọn vấn đề "Nguyên tắc bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan đến việc thi hành
án" làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến thời điểm tác giả nghiên cứu đề tài "Nguyên tắc bảo đảm quyền,
lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan đến việc thi hành án", chưa

12
có bài viết, hay công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về nguyên tắc bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan đến việc THADS.
Trong Giáo trình Luật THADS Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội
năm 2012 chỉ có 01 trang đề cập đến nội dung cơ bản của nguyên tắc này.
Ngoài ra, một số công trình nghiên cứu có đề một cách gián tiếp đến nguyên
tắc này như: "Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự" (Đề tài nghiên cứu
khoa học cấp trường, của Trường Đại học Luật Hà Nội, do TS. Nguyễn Công
Bình làm chủ nhiệm, năm 2004); "Những điểm mới của Luật Thi hành án dân
sự năm 2008" (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà
Nội, do TS. Bùi Thị Huyền làm chủ nhiệm, năm 2011).

4. Nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm các vấn đề chủ yếu sau đây:
- Luận giải những vấn đề lý luận về nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp của đương sự và người liên quan đến việc THADS;
- Đánh giá thực trạng pháp luật về nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp của đương sự và người liên quan đến việc THADS;
- Đưa ra định hướng và đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện
pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp của đương sự và người liên quan đến việc THADS ở nước ta.
4.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định như sau:
- Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp
pháp của đương sự và người liên quan đến việc THADS;
- Các quy định của pháp luật Việt Nam trong lịch sử và hiện hành về
nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan
đến việc THADS;

14
- Thực tiễn áp dụng các quy định hiện hành về nguyên tắc bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan đến việc THADS.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đã đặt ra; trong quá
trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng một số phương pháp luận và phương
pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
(i) Việc nghiên cứu thực hiện đề tài được dựa trên phương pháp luận
nghiên cứu khoa học duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ
Chí Minh về Nhà nước và pháp luật;
(ii) Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu chuyên ngành. Cụ thể như sau:

1.1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN,
LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA ĐƢƠNG SỰ VÀ NGƢỜI LIÊN QUAN TRONG THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1.1. Khái niệm nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
đƣơng sự và ngƣời liên quan đến việc thi hành án
Thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong hoạt động tư pháp nói
chung và trong quá trình giải quyết vụ án nói riêng. Hoạt động THADS là hoạt
động cuối cùng, bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành,
góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, pháp chế XHCN, bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững
ổn định chính trị, xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước.
Chính vì lẽ đó, vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng của thi hành án nói
chung, THADS nói riêng đã được khẳng định ngay tại Điều 106 Hiến pháp
nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013: "Bản án, quyết định của Tòa án
nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng;
cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành" [35].
Thi hành án dân sự là một dạng hoạt động mang tính hành chính - tư
pháp nhằm thực hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp, bảo đảm
hiệu lực thực tế của các bản án của Tòa án. Hoạt động này do cơ quan
THADS của Nhà nước hoặc chủ thể được Nhà nước trao quyền trực tiếp thực
hiện. Hoạt động THADS được tiến hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ do
pháp luật quy định nhằm đảm bảo công bằng và bảo đảm quyền lợi hợp pháp
của các chủ thể trong thi hành án. Vì vậy, để đảm bảo cho hoạt động THADS

17
có hiệu quả, pháp luật THADS Việt Nam cần phải đặt ra những nguyên tắc
làm nền tảng căn bản cho việc xây dựng các quy định cụ thể về trình tự, thủ
tục và biện pháp THADS đáp ứng yêu cầu về bảo đảm quyền, lợi ích hợp
pháp của đương sự và người liên quan đến việc THADS.
Các nguyên tắc này là những tư tưởng pháp lí cơ bản, chủ đạo, chi

phải thực hiện nghĩa vụ được xác định trong bản án, quyết định.
Khái niệm về đương sự trong THADS đã từng được ghi nhận tại Điều 3
Pháp lệnh THADS năm 2004 theo hướng:
Bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật phải
được người phải thi hành án, người được thi hành án, người có
quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án (gọi chung là đương
sự) nghiêm chỉnh thi hành và được các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ
trang nhân dân và cá nhân tôn trọng [41].
Tuy nhiên, phạm vi chủ thể được coi là đương sự đã bị thu hẹp hơn
trong Luật THADS năm 2008. Theo Khoản 1 Điều 3 Luật THADS thì các
đương sự trong THADS chỉ bao gồm: Người được thi hành án và người phải
thi hành án. Quy định này không bao quát hết được tất cả các đối tượng có
quyền và lợi ích hợp pháp cần được xem xét, bảo vệ trong quá trình THADS
và khó có thể "định danh" người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong THADS
thuộc loại nào trong số các chủ thể có quyền lợi liên quan đến việc THADS.
Từ đó dẫn tới tên gọi của nguyên tắc về bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự tại Điều 5 của Luật THADS năm 2008 được mô tả khá dài dòng là
nguyên tắc "Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan" [33] và Khoản 1 Điều 3 của Luật này giải thích theo
hướng người được thi hành án là cá nhân, tổ chức được hưởng quyền và lợi
ích trong bản án, quyết định được thi hành. Người phải thi hành án là cá nhân,
tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành.
Người có quyền, nghĩa vụ liên quan trong THADS là cá nhân, cơ quan, tổ
chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thi hành án.

19
Khi nghiên cứu về nguyên tắc này, TS Nguyễn Công Bình khẳng định
rằng: " việc thi hành án dân sự không những phải bảo đảm quyền, lợi ích
hợp pháp của các đương sự mà còn phải bảo đảm cả quyền, lợi ích hợp pháp
của những người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án dân sự,

bị kê biên. Ngoài ra, theo nghiên cứu của chúng tôi thì nguyên tắc này theo
pháp luật hiện hành cũng chưa thể hiện được nội dung về chủ thể có trách
nhiệm phải bảo đảm quyền lợi như cơ quan thi hành án, Thừa phát lại và các
chủ thể có trách nhiệm hỗ trợ, phối hợp trong THADS.
Từ những phân tích trên, tác giả mạnh dạn đưa ra khái niệm về nguyên
tắc như sau: Nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và
người liên quan trong THADS là tư tưởng pháp lý chủ đạo, có tính bắt buộc
chung, được quy định trong pháp luật THADS, theo đó cơ quan thi hành án,
Thừa phát lại và các chủ thể có trách nhiệm hỗ trợ, phối hợp trong THADS
phải tổ chức THADS theo đúng pháp luật và đúng nội dung bản án, quyết
định được thi hành, không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của các
chủ thể có quyền lợi và bảo đảm cho họ thực hiện quyền yêu cầu thi hành án,
được tham gia vào quá trình thi hành án để bảo vệ quyền lợi của mình và thực
hiện quyền khiếu nại đối với các hành vi trái pháp luật trong thi hành án.
1.1.2. Ý nghĩa của nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp
của đƣơng sự và ngƣời liên quan đến việc thi hành án
Nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người
liên quan trong THADS là nguyên tắc có ý nghĩa cả về chính trị, xã hội và
pháp lý.
1.1.2.1. Ý nghĩa chính trị
Thứ nhất, nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
và người liên quan trong THADS có ý nghĩa chính trị sâu sắc:
Nguyên tắc này là một trong những nguyên tắc cụ thể hóa các quy
định của Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân; tôn trọng hiệu lực

21
của phán quyết của Tòa án được ghi nhận tại Điều 50 và Điều 136 Hiến pháp
năm 1992 (nay là Điều 14 và Điều 106 Hiến pháp năm 2013) và được quy
định cụ thể hơn tại Điều 5 Luật THADS năm 2008. Việc quy định bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan trong THADS

THADS, đảm bảo cho THADS có hiệu quả cao nhất, tạo được niềm tin đối
với các bên tham gia THADS.
Việc quy định nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương
sự và người liên quan trong THADS góp phần tích cực vào việc bảo vệ pháp
chế XHCN, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân vào hoạt động của
thiết chế THADS.
1.1.2.3. Ý nghĩa pháp lý
Nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người
liên quan là cơ sở pháp lý quan trọng để đương sự, người có quyền lợi hợp
pháp liên quan trong thi hành án có thể sử dụng để bảo vệ quyền lợi của mình
khi cơ quan thi hành án, Thừa phát lại tổ chức việc thi hành án.
Đối với cơ quan tiến hành tố tụng, việc quy định nguyên tắc bảo đảm
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người liên quan là cơ sở pháp lý để
đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án đồng thời là cơ sở để cơ
quan thi hành án, Thừa phát lại ra các quyết định cần thiết để tổ chức việc thi
hành án. Ngoài ra, nguyên tắc này cũng là tư tưởng pháp lý chỉ đạo mà các
chủ thể tiến hành và phối hợp trong thi hành án phải tuân thủ. Trong quá trình
THADS, các chủ thể này phải căn cứ vào bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật, các quy định của pháp luật nội dung và pháp luật THADS để bảo
đảm hài hòa và không xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bảo đảm cho họ được tham gia vào
quá trình thi hành án để bảo vệ quyền lợi của mình và thực hiện quyền khiếu
nại đối với các hành vi trái pháp luật trong thi hành án.

23
1.2. CƠ SỞ CỦA VIỆC XÂY DỰNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGUYÊN TẮC
BẢO ĐẢM QUYỀN, LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA ĐƢƠNG SỰ VÀ NGƢỜI LIÊN
QUAN ĐẾN VIỆC THI HÀNH ÁN
1.2.1. Nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đƣơng sự
và ngƣời liên quan đến việc thi hành án đƣợc xây dựng trên cơ sở đƣờng

định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước.
Việc ghi nhận nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và
người liên quan trong pháp luật THADS là sự cụ thể hóa đường lối, chính
sách của Đảng về bảo vệ các quyền cơ bản của công dân.
Việc ghi nhận nguyên tắc này trong các văn bản pháp luật về THADS
không nằm ngoài mục đích bảo vệ tốt hơn quyền của người được thi hành án,
quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và Nhà nước dược ghi nhận
trong phán quyết của cơ quan tư pháp, xác định rõ trách nhiệm của cơ quan
thi hành án, Chấp hành viên, Thừa phát lại; xác định rõ hơn trách nhiệm, cơ
chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan trong hoạt động THADS,
cũng như công tác quản lý Nhà nước về THADS; nâng cao hiệu quả hoạt
động thi hành án, kỷ cương phép nước và tính nghiêm minh của pháp luật.
1.2.2. Nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đƣơng sự
và ngƣời liên quan đến việc thi hành án đƣợc xây dựng trên cơ sở các quy
định của Hiến pháp và các luật chuyên ngành về bảo vệ quyền cơ bản
Nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và người
liên quan trong THADS là sự cụ thể hóa các quy định tại Điều 14 và Điều 106
Hiến pháp năm 2013.
Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định:
1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền
con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã
hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và
pháp luật.

25
2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế
theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc
phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức
khỏe của cộng đồng [35].
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 106 Hiến pháp năm 2013 thì "Bản án,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status