MỤC LỤC
MSV 11121574 - NGUYỄN THỊ HỒNG
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
BẢNG
MSV 11121574 - NGUYỄN THỊ HỒNG
LỜI MỞ ĐẦU
Liên minh Châu Âu EU là một thể chế kinh tế - chính trị khu vực lớn nhất trên
thế giới, là đối tác thương mại quan trọng bậc nhất của nhiều quốc gia trong đó có
Việt Nam. Các chính sách thương mại quốc tế của EU đóng vai trò quan trọng trong
việc thúc đẩy phát triển kinh tế và củng cố, tăng cường vị thế của EU trong các
quan hệ đầu tư và thương mại quốc tế.
Từ năm 1971 EU đã xây dựng các quy tắc để giúp hàng hóa xuất khẩu từ các
nước đang phát triển được hưởng ưu đãi về thuế khi xuất hàng sang EU. Điều này
giúp cho các nước đang phát triển và kém phát triển tiếp cận thị trường EU và góp
phần vào tăng trưởng kinh tế của họ. Đề án này được gọi là “Hệ thống ưu đãi thuế
quan phổ cập (GSP)”. Ngày 31/12/2012 EU đã chính thức công bố quy chế GSP
sửa đổi nhằm tạo thuận lợi cho hàng hóa của các quốc gia đang phát triển nói chung
và Việt Nam nói riêng. GSP sửa đổi sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2014. Hiệu lực
của chính sách mới sẽ tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với xuất khẩu
hàng hóa của Việt Nam sang thị trường EU, tạo thêm nhiều việc làm trong nước.
Đồng thời, thúc đẩy quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – EU.
Chính vì vậy việc nghiên cứu, tìm hiểu kĩ các quy định của GSP để áp dụng
thành công là rất cần thiết cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường
EU. Do đó em đã chọn đề tài: “ Tác động của hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập
GSP đối với xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường EU” cho đề án của mình.
sang thị trường châu Âu. Thúc đấy công nghiệp hóa của các nước này.
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm tỉ lệ đói nghèo cho các nước được
hưởng.
- Phổ biến thông tin về các quy định, thủ tục buôn bán điều chỉnh theo chế
độ GSP.
- Tập trung lợi ích vào những mặt hàng mà các nước kém và đang phát triển
đang cần nhất để tăng cường sử dụng GSP.
- Cung cấp thông tin về pháp luật thương mại quy định các điều kiện thâm
nhập thị trường các nước cho hưởng. Các qui định về chống bán phá giá, chống bù
MSV 11121574 - NGUYỄN THỊ HỒNG
giá, các qui định về hải quan, thủ tục và giấy phép nhập khẩu.
Việc có hệ thống GSP này tạo ra một lợi thế canh tranh cho các nước đang
phát triển và các nước kém phát triển xuất khẩu vào thị trường các nước cho hưởng
ưu đãi. Nhà nhập khẩu thay vì đặt mua hàng của các nước không được hưởng ưu
đãi thì sẽ chuyển sang mua hàng của các nước được hưởng ưu đãi này. Như vậy, lợi
ích kinh tế của việc giảm hay miễn thuế quan sẽ được các bên cùng hưởng không
chỉ riêng người xuất khẩu hay nhập khẩu hưởng.
Hệ thống GSP được các cơ quan lập pháp của các nước cho hưởng ưu đãi ban
hành thành các văn bản pháp luật có hiệu lực cho từng thời kì nhất định có thể là 1
năm, 10 năm hoặc vài ba chục năm. Ví dụ: năm 1971 Nhật Bản ban hành chế độ
GSP của mình đến 31/3/2001. Mới đây nhất ngày 25/10/2012 Nghị viện châu Âu và
Ủy ban châu Âu đã ban hành Qui định số 978/2012, có hiệu lực từ 01/01/2014 và
thực hiện trong vòng 10 năm tới.
Các vấn đề thường được các nước cho hưởng ưu đãi trong chế độ GSP qui
định gồm:
- Những qui tắc chung về hệ thống GSP mà nước cho hưởng giành cho các
nước được hưởng ưu đãi.
11. Đức
12. Hi Lạp
13. Hungary
14. Ireland
15. Ý
16. Latvia
17. Litva
18. Luxembourg
19. Malta
20. Hà Lan
21. Ba Lan
22. Bồ Đào Nha
23. Romania
24. Slovakia
25. Slovenia
26. Tây Ban Nha
27. Thụy Điển
28. Anh Quốc
Ngoài EU còn có các nước: Hoa Kì ( đã gia hạn chế độ GSP từ tháng 10/2011
đến 31/07/2013. Theo thông tin từ Bộ Công Thương từ 1/8 Hoa Kì không tiếp tục ra
hạn nữa), Nhật, Australia, Thụy Sĩ, Liên minh thuế quan Nga- Kazactan – Belarut,
các quốc gia trung lập (CIS), Canada, Nauy, Newzealand, Thổ Nhĩ Kì.
Từ đầu những năm 1990 các nước Đông Âu và cộng đồng các quốc gia độc
lập (CIS) đã được hưởng GSP của EU, Mĩ, Nhật, Phần Lan, Thụy Điển, Newzeland
và đồng thời cũng giành ưu đãi cho các nước đang phát triển và kém phát triển.
1.2.2. Các nước được hưởng ưu đãi.
Bao gồm những nước đang phát triển và những nước chậm phát triển. Các
giá 1% xuất khẩu của Brazil vào EU tương đương với hơn 16 lần tổng kim ngạch
xuất khẩu của Burkina Faso vào EU.
Hiện nay, GSP mới của EU vẫn tiếp tục áp dụng cơ chế trưởng thành, không
cho hưởng ưu đãi GSP đối với một mục của biểu thuế đối với sản phẩm vượt
ngưỡng trưởng thành. Ngưỡng trưởng thành mới là 17,5% tăng 2,5% so với 15%
của GSP cũ, riêng với hàng dệt may ngưỡng trưởng thành là 14,5% tăng 2% so với
12,5% trước đấy. Quy định về ngưỡng trưởng thành chỉ áp dụng cho GSP phổ
thông, không áp dụng với GSP+.
Vào từng thời kì các quốc gia ban hành chế độ ưu đãi GSP (GSP scheme)
công bố danh sách các quốc gia được hưởng GSP, hằng năm có công bố lại hoặc bổ
sung các nước mới vào danh sách ưu đãi hoặc loại bỏ ra khỏi danh sách.
Ví dụ: từ 1993 đến 1995 :
- Canada cho Nam Phi hưởng ưu đãi GSP.
- Mĩ cho Albany, Séc và Slovakia, Nga, Kirgistan, Kazactan, Rumany,
Ucraina, Nam Phi được hưởng GSP. Đồng thời loại Syria, Mauritania ra khỏi GSP
của Mĩ vì lí do quyền con người bị xâm phạm và thu nhập GDP/người vượt ra khỏi
nhóm thu nhập thấp.
1.2.3. Hàng hóa được hưởng ưu đãi.
MSV 11121574 - NGUYỄN THỊ HỒNG
Hàng hóa được hưởng ưu đãi được phân loại thành hai nhóm là: nhóm các sản
phẩm công nghiệp và nhóm các sản phẩm nông nghiệp.
Danh mục các sản phẩm được hưởng ưu đãi GSP của từng nước không giống
nhau, mỗi quốc gia căn cứ vào cơ cấu kinh tế, cán cân xuất nhập khẩu để xây dựng
một danh mục hàng nhập khẩu được giảm, miễn thuế. Danh sách này có sửa đổi
định kì và dựa trên cơ sở biểu thuế xuất nhập khẩu của các nước cho hưởng. Các
mặt hàng trong danh mục này có gắn mã HS theo hệ số được hưởng và không được
hưởng GSP (gọi là danh mục thuận và danh mục từ chối), cộng với danh sách hàng
Ví dụ:
- Đối với hệ thống GSP của Mĩ thì tất cả các mặt hàng được hưởng GSP đều
được miễn thuế.
- Hệ thống GSP của Nhật dành ưu đãi cho hơn 20 hạng mục sản phẩm nông
nghiệp, 67 hạng mục sản phẩm công nghiệp được 50% thuế suất so với thuế suất MFN.
- Hệ thống GSP của EU chia hàng hóa thành hai loại: sản phẩm không nhạy
cảm
và sản phẩm nhạy cảm. Theo đó, sản phẩm không nhạy cảm sẽ được miễn
thuế hoàn toàn ( trừ các thành phần có nguồn gốc nông sản) , sản phẩm nhạy cảm sẽ
đươch giảm xuống 3,5%. Khi tính thuế ưu đãi theo điều 6 của Quy định cũ
(Regulation (EC) No 732/2008), nếu giảm nhiều hơn 3,5% thì vẫn được giữ nguyên
hiệu lực. Nếu thuế đối với sản phẩm cụ thể đó là thuế tính theo trị giá hàng hóa,
được giảm xuống 30% nếu thuế cho sản phẩm cụ thể đó là thuế đặc biệt.
1.2.5. Điều kiện được hưởng ưu đãi.
1.2.5.1. Quy tắc về xuất xứ trong hệ thống GSP
Quy tắc xuất xứ là yếu tố chính của tất cả các chế độ GSP. Hiểu rõ và áp dụng chính
xác quy tắc này mang tính tối quan trọng trong việc thực hiệu các quy định của GSP.
Mục tiêu của tiêu chuẩn xuất xứ là để bảo đảm rằng ưu đãi về thuế quan trong
GSP áp dụng cho đúng đối tượng được hưởng. Tránh trường hợp nhập khẩu hàng
hóa từ quốc gia thứ 3 rồi mới xuất khẩu để tận dụng ưu đãi nhằm chuộc lợi.
Quy tắc về xuất xứ bao gồm 3 nội dung cơ bản sau:
-Các tiêu chuẩn xuất xứ
- Điều kiện gửi hàng
- Bằng chứng, chứng từ
1.2.52. Các tiêu chuẩn xuất xứ.
MSV 11121574 - NGUYỄN THỊ HỒNG
mục (f) nói trên; và đối với Bungary, Cộng hoà Séc, Hungary, Ba Lan, Liên bang
Nga và Slovakia, bởi tàu thuyền do nước được hưởng thuê.
MSV 11121574 - NGUYỄN THỊ HỒNG
g. Những sản phẩm đã qua sử dụng thu thập tại nước được hưởng chỉ dùng
cho tái chế nguyên liệu thô.
h. Phế liệu và phế thải từ hoạt động sản xuất diễn ra tại nước được hưởng.
i. Những sản phẩm có tại nước được hưởng chỉ từ những sản phẩm nói tại
mục (a) đến mục (i) nói trên như sắt tấm, thỏi, sản xuất từ quặng sắt, vải cotton dệt
từ bông, tái chế chì phế thải từ ắc quy ô tô, tái chế sắt từ vỏ bào sắt.
Úc nói chung chấp nhận những sản phẩm trong danh sách trên là những sản
phẩm có xuất xứ toàn bộ, mặc dù những sản phẩm này không được quy định trong
pháp luật của Úc.
Trong khi không có một danh sách những sản phẩm “xuất xứ toàn bộ” trong
pháp luật của nước mình, công nhận những sản phẩm nói trên là những ví dụ về
việc đáp ứng tiêu chuẩn phần trăm của Mĩ.
1.2.5.4. Tiêu chuẩn xuất xứ có thành phần nhập khẩu.
Những sản phẩm có thành phần nhập khẩu là những sản phẩm được làm từ
nguyên phụ liệu, bộ phận nhập khẩu bao gồm: những sản phẩm được chế tạo toàn bộ
hay từng phần từ nguyên phụ liệu, thành phần nhập khẩu hay không rõ nguồn gốc.
Những sản phẩm này sẽ được coi là có xuất xứ từ nước được hưởng nếu
những nguyên liệu, bộ phận, thành phần đó đã được chế biến hoặc gia công một
cách đầy đủ tại nước đó.
Khái niệm “gia công chế biến đầy đủ” được hiểu là quá trình làm thay đổi tính
chất đặc trưng hay đặc tính của nguyên phụ liệu sử dụng ở mức độ đáng kể. Có hai
tiêu chí chính dùng để xác định, mỗi tiêu chí này được một số nước sử dung. Một là
“tiêu chuẩn gia công”, hai là “tiêu chuẩn tỉ lệ phần trăm”.
*Tiêu chuẩn gia công:
Hàng hóa, sản phẩm
(1)
6401
(2)
Giày dép
MSV 11121574 - NGUYỄN THỊ HỒNG
Các quá trình gia công chế
biến phải được tiến hành
đối với nguyên vật liệu
nhập khẩu để đạt được tiêu
chuẩn xuất xứ
(3)
Sản xuất các nguyên phụ
liệu nhập khẩu có mã số
HS bất kì nào nhưng
không được sử dụng các
bộ phận định hình kim loại
nhập khẩu dành cho giày
thuộc hạng múc thuế quan
số 6406
Trích trong chương 85
Máy móc thiết bị điện tử
Quy định trong cột 3 được hiểu như sau:
-Mặt hàng giày dép có thể được sản xuất từuế nguyên phụ liệu nhập khẩu có
số hạng mục thuế khác nhau, ngoại trừ những bộ phận định hình lim loại dành cho
giày dép thuộc hạng mục thuế quan số 6406 (các bộ phận của giày dép, đế trong của
giày dép có thể tháo rời,, đệm gót giày và các sản phẩm tương tự).
- Một số máy móc thiết bị điện tử được cho phép sử dụng các nguyên phụ liệu
nhập khẩu có cùng mã số HS với sản phẩm sản xuất cuối cùng nhưng giá trị các
thành phần nhập khẩu không vượt quá 5% giá trị xuất xưởng của sản phẩm.
- Đối với đa số các sản phẩm may mặc, quần áo không do đan, móc thuộc
danh mục sản phẩm chương 62, bảng kê yêu cầu phải được sản xuất từ sợi, nếu sản
phẩm sừ dụng vải nhập khẩu sẽ không được coi là có xuất xứ từ nước được hưởng.
Đối với điều kiện quy định việc sử dụng nguyên phụ liệu nhập khẩu không
vượt quá một tỉ lệ nhất định so với tổng giá trị của sản phẩm. Việc tính toán các trị
giá có thể được tiến hành như sau:
MSV 11121574 - NGUYỄN THỊ HỒNG
Trị giá hàng xuất = trị giá nguyên phụ liệu nhập khẩu + trị giá thành phẩm (trừ
nguyên phụ liệu nhập khẩu) + trị giá tính thuế hải quan.
Trong đó:
- Trị gia nguyên phụ liệu nhập khẩu: là trị giá hải quan tại thời điểm nhập
khẩu vào nước cho hưởng hoặc là giá mua đầu tiên tại nước đó.
- Trị giá thành phẩm: là giá xuất xưởng của sản phẩm đó (là giá FOB đối với
Nhật Bản) trừ đi mọi khoản thuế nội địa được hoàn trả khi sản phẩm được xuất
khẩu. Giá này là giá trả cho nơi tiến hành quá trình gia công hoặc chế biến cuối
cùng, giá này bao gồm giá trị của tất cả các nguyên phụ liệu sử dụng.
- Trị giá hải quan là trị giá hải quan xác định theo Hiệp định 1994 về thi hành
điều VII của GATT ( Hiệp định WTO về trị giá Hải quan).
Riêng Nhật bản quy đinh các mặt hàng thuộc chương 62 làm từ vải nhập khẩu
hoàn toàn.
Các nước Canada, Bungary, Cộng hòa Séc, Hungary, Ba Lan, Liên bang Nga
quy định một tỉ lệ phần trăm tối đa cho trị giá nguyên liệu, bộ phận và thành phần
nhập khẩu hoặc không rõ xuất xứ được sử dụng. Các nước Úc, Newzeland, Mĩ quy
định một tỉ lệ phần trăm tối thiểu cho giá trị nguyên liệu nội địa, và chi phí sản xuất
khi sản xuất sản phẩm xuất khẩu.
Tỉ lệ phần trăm được các nước áp dụng rất triệt để, nhằm kiểm soát xuất
xứ hàng hóa từ các nước. (Bảng tóm tắt các quy tắc về tiêu chuẩn tỉ trong –
xem phụ lục 1);
*Tiêu chuẩn xuất xứ cộng gộp:
Về cơ bản, quy tắc GSP được dựa trên khái niệm xuất xứ một nước đơn nhất,
có nghĩa là các tiêu chuẩn xuất xứ phải được tuân thủ đầy đủ tại một nước được
hưởng cũng đồng thời là nước sản xuất sản phẩm hoàn thiện cuối cùng. Theo các
chế độ của một số nước cho hưởng, quy tắc này đã được mở rộng để một số sản
phẩm có thể được sản xuất hoàn thiện tại một số nước được hưởng từ các nguyên
liệu, bộ phận hoặc thành phần nhập khẩu từ các nước được hưởng nói trên. Do đó,
xuất xứ cộng gộp được đưa ra với phạm vi rộng và theo nhiều điều kiện khác nhau.
Theo hệ thống cộng gộp, các quá trình gia tăng và trị giá gia tăng tại nhiều nước
được hưởng có thế được cộng vào cùng nhau (hoặc được “cộng gộp”) để xác định
sản phẩm hoàn thiện xuất khẩu có đáp ứng tiêu chuẩn xuất xứ GSP không.
Có hai chính sách về cộng gộp: Cộng gộp toàn thể và Cộng gộp từng phần.
- Chính sách cộng gộp toàn thể: coi tất cả nước được hưởng như là một khu
vực kinh tế, tất cả các giá trị gia tăng quá trình gia công trong khu vực có thể được
MSV 11121574 - NGUYỄN THỊ HỒNG
cộng gộp với nhau để thỏa mãn các quy định về xuất xứ đối với sản phẩm xuất khẩu
sang một nhóm nước như: Úc, Newzeland, Canada, Nga, và các nước Đông Âu.
- Chính sách cộng gộp từng phần quy định trên một số khu vực địa lí như: EU,
Quy tắc này được một số nước cho hưởng áp dụng.
Ví dụ:
- Những sản phẩm xuất xứ từ EU được sử dụng vào sản xuất hay gia công chế
biến tại nước được hưởng coi là có xuất xứ tại nước được hưởng đó. Quy định này
mở rộng thêm lựa chọn việc cộng gộp bằng cách cho phép sử dụng những sản phẩm
đầu hoặc trung gian mà có xuất xứ từ EU.
- Bằng chứng về xuất xứ của những sản phẩm của EU phải được xuất trình
hoặc bằng chứng nhận dịch chuyển EUR.1 hoặc bằng một tờ khai hóa đơn. Các quy
định của EU về cấp, sử dụng giấy chứng nhận xuất xứ form A sẽ áp dụng một cách
phù hợp cho giấy chứng nhận EUR.1.
- Quy tắc “thành phần nước bảo trợ” của EU cũng được mở rộng cho những
sản phẩm xuất xứ tại Nauy, Thụy Sĩ. Khi hai nước này ban hành những ưu đãi phổ
cập và áp dụng cách khái niệm xuất xứ tương ứng với cách xác định trong chế độ
của EU.
1.2.6. Điều kiện về vận chuyển
Điều kiện này quy định bắt buộc sản phẩm có xuất xứ phải được vận
chuyển thẳng từ nước được hưởng đến nước cho hưởng. Trừ Úc không áp dụng
điều kiện này.
Mục đích của quy định này là giúp cơ quan hải quan của nước cho hưởng đảm
bảo rằng sản phẩm nhập khẩu đúng là có xuất xứ từ nước được hưởng. Nghĩa là
chúng không bị tác động, thay thế, gia công chế biến thêm hoặc được đưa vào buôn
bán, lưu thông tại bất kì nước thứ 3 trung gian nào.
Các điều kiện chung được Canada, EU, Nhật, NaUy, Thụy Sĩ, Newzeland quy
định là:
-Sản phẩm được vận chuyển thẳng mà không đi qua lãnh thổ của nước thứ
ba khác.
- Sản phẩm vận chuyển đi qua lãnh thổ của một nước khác, có hoặc không có
hoạt động chuyển tải, lưu kho. Cần đảm bảo rằng sản phẩm đó vẫn nằm trong sự
kiểm của hải quan nước quá cảnh hay lưu kho, không được mua bán, sử dụng hoặc
- Cấp bản sao giấy chứng nhận xuất xứ. Form A cấp lần hai theo cách này phải
được đóng dấu “DUPLICATE” hoặc “DUPLICATA” tại ô số 4. Bản cấp lần hai
này phải ghi ngày cấp và số seri của bản cấp lần 1, sẽ có hiệu lực từ ngày đó.
MSV 11121574 - NGUYỄN THỊ HỒNG
- Với những lí do đặc biệt hoặc bất khả kháng cơ quan cấp giấy chứng nhận
xuất xứ có thể cấp cấp tạm thời hoặc cấp chậm chứng nhận xuất xứ form A;
- Tùy theo từng trường hợp cụ thể mà có thể yêu cờ cầu các giấy tờ khác.
1.3.1.2. Các quy định áp dụng tại nước cho hưởng.
Tất cả các nước cho hưởng đều quy định:
-Sản phẩm có xuất xứ khi nhập khẩu phải có Tờ Khai Tổng Hợp và Giấy
chứng nhận xuất xứ form A, đã được điền đầy đủ và kí bởi người xuất khẩu, được
chứng nhận bởi một cơ quan có thẩm quyền tạo nước xuất khẩu được hưởng.
- Ngoài ra các nước cho hưởng còn có quy định riêng khác:
+ Úc: Yêu cầu chính là lời khai của người xuất khẩu trên hóa đơn thương mại.
Có thể dùng Form A để thay thế, nhưng không yêu cầu phải có chứng nhận.
+ Canada: Yêu cầu chính là lời khai của người xuất khẩu trên hóa đơn hoặc
làm thành bản riêng.
+ Nhật: Chấp nhận giấy chứng nhận xuất xứ được cấp bởi cơ quan chính phủ
(ví dụ: phòng thương mại).
-Thời hạn xuất trình giấy chứng nhận xuất xứ form A:
Theo quy định của EU giấy chứng nhận xuất xứ form A phải được xuất trình
tại cơ quan Hải quan nơi hàng hóa được làm thủ tục hải quan trong mười (10) tháng
kể từ ngày cấp.
-Khi nhập khẩu hàng hóa nếu phát hiện ra những khác biệt nhỏ giữa lời khai
của giấy chứng nhận xuất xứ và các chứng từ được trình làm thủ tục hải quan thì
cũng không làm cho giấy chứng nhận xuất xứ mất giá trị hay không co hiệu lực, cần
bảo đảm rằng giấy chứng nhận xuất xứ phù hợp với hàng hóa.
- Trường hợp bị mất, thất lạc hoặc hư hỏng form A:
- Nếu không có các giấy tờ trên thì phải cung cấp các chứng từ chứng minh
hoặc cần thiết khác như: bản sao đơn đặt hàng, hóa đơn của người cung cấp, vận
đơn lịch trình hàng hóa được vận chuyển.
1.4. Giấy chứng nhận xuất xứ- C/O.
Khái niệm giấy chứng nhận xuất xứ (C/O): Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) là
một bằng chứng để bên bán chứng minh với bên mua là hàng hóa có xuất xứ đúng
như bên mua yêu cầu. C/O là một chứng từ cần thiết của bộ chứng từ hàng hóa do
MSV 11121574 - NGUYỄN THỊ HỒNG
người xuất khẩu khai báo, kí và được Cơ qua có thẩm quyền cấp C/O tại nước xuất
xứ chứng thực.
Một bộ C/O của hàng hóa bao gồm một bản gốc và các bản sao. Được phân
loại theo màu như sau:
- Bản gốc được đóng dấu hoặc in chữ “ORIGINAL”, thường có các màu: tím
nhạt, xanh, đỏ.
- Bản sao được đóng dâu “COPY”, trong một số trường hợp cần phân biệt thứ
tự các bản sao được đóng dấu “DUPLICATE”, “TRIPLICATE” và thường có màu
trắng.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA GSP ĐỐI
XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM VÀO EU
2.1.Khái quát chung về phòng cấp C/O.
Văn phòng cấp C/O trực thuộc phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam.
Đây là cơ quan có thẩm quyền cấp C/O của nước người xuất khẩu được nhà nước
ủy quyền cấp C/O.
Các cơ quan có thẩm quyền cấp C/O tại Việt Nam là:
- Bộ công thương là cơ quan tổ chức việc thực hiện cấp giấy chứng nhận xuất
xứ hàng hóa xuất khẩu; trực tiếp hoặc ủy quyền cho phòng Thương mại và Công
chế độ GSP với số mã và tên sản phẩm trong biểu thuế quan của EU. Lưu ý đến
những thay đổi, bổ sung hoặc cắt bỏ các loại hàng hóa trong danh sách công bố
hàng năm của EU.
Bước 3: Đánh giá mức lợi thế ưu đãi
Đánh giá mức lợi thế ưu đãi là việc so sánh giữa mức thuế chung và mức thuế
ưu đãi theo mức thuế suất MFN áp dụng cho sản phẩm của mình, từ đó định giá
chào hàng cho người mua. Sự chênh lệch tạo ra mức lợi thế ưu đãi, đó là lợi thế
cạnh tranh với những nhà xuất khẩu không được hưởng ưu đãi.
Ví dụ: Một chiếc áo sơ mi xuất khẩu từ Việt Nam sang EU được giảm 3,5
UDS thì nhà xuất khẩu sẽ sử dụng khoản giám trừ này để thương lượng với nhà
nhập khẩu nâng giá bán và chia phần trăm cho nhà nhập khẩu. Làm như vậy doanh
MSV 11121574 - NGUYỄN THỊ HỒNG
nghiệp xuất khẩu vẫn có lợi nhuận đồng thời tăng được sản lượng xuất khẩu.
Bước 4: Kiểm tra hạn ngạch, danh mục trưởng thành và giới hạn cạnh tranh
cần thiết
Hàng năm các quy chế về Quota/ giới hạn tối đa đều được sửa đổi nên cần
kiểm tra và cập nhật thông tin, hiểu rõ việc quản lí chung. Bộ Thương mại sẽ phân
bổ Quota hàng năm cho từng loại mặt hàng (đối với các mặt hàng hạn chế xuất khẩu
bằng hạn ngạch), quy chế phân bổ dựa theo số lượng năm trước của doanh nghiệp
thể hiện bằng các tờ phân bổ hạn ngạch.
Kiểm tra các trường hợp sản phẩm đã bị loại khỏi ưu đãi hay chưa, và các giới
hạn liên quan.
Bước 5: Thực hiện đấy đủ về quy chế xuất xứ
Tuân thủ theo quy tắc xuất xứ đã nêu ở mục 2.5.2.
Bước 6: Kiểm tra các tiêu chuẩn gửi hàng
Tuân thủ theo điều kiện vận chuyển đã nêu ở mục 2.5.2.
Bước 7: Chuẩn bị các chứng từ xác nhận
Nguồn: Tổng cục Thống kê
-5,1
-0,4
0,78
0
2,14
Biểu đồ2. 1. Cán cân thương mại xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam giai
đoạn 2010 2014.
Đơn vị : tỉ USD
MSV 11121574 - NGUYỄN THỊ HỒNG
Năm 2010:
Năm 2010 nền kinh tế thế giới dần phục hồi và tăng trưởng trở lại, tạo điều
kiện cho các nước trong đó có Việt Nam đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu. Cụ
thể, tổng kim ngạch đạt 72,2 tỉ USD tăng 26,4% so với năm 2009. Trong đó xuất
khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 27,8% và chiếm 54,2 kim
ngạch xuất khẩu của cả nước. Xuất khẩu của nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư
trong nước tăng 22,7%.
Cụ thể kim ngạch xuất khẩu của từng nhóm hàng như sau:
- Nhóm nông sản, thủy sản: kim ngạch xuất khẩu năm 2010 đạt 15,07 tỉ
USD, tăng 22,9% so với năm 2009, chiếm tỉ trọng 21% trong tổng kim ngạch
xuất khẩu của cả nước. các mặt hàng có kim ngạch trên 1 tỉ USD như: thủy sản
4,952 tỉ USD, nhân điều 1,136 tỉ USD, cà phê 1,763 tỉ USD, gạo 3,212 tỉ USD,
cao su 2,376 tỉ USD.
- Nhóm nhiên liệu, khoáng sản: kim ngạch xuất khẩu đạt 7,92 tỉ USD, giảm
8,4% so với năm 2009 và chiếm tỉ trọng 11,1%; các mặt hàng có kim ngạch trên
1 tỉ USD như: than đá 1,549 tỉ USD, dầu thô 4,944 tỉ USD, xăng dầu các loại