Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non 5 6 tuổi trường mầm non hoa hồng mai sơn sơn la thông qua hoạt động kể chuyện - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
=====o0o=====

NGUYỄN THỊ LAN ANH

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ
MẦM NON 5-6 TUỔI TRƢỜNG MẦM NON HOA HỒNG
MAI SƠN - SƠN LA THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, năm 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
=====o0o=====

NGUYỄN THỊ LAN ANH

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ
MẦM NON 5-6 TUỔI TRƢỜNG MẦM NON HOA HỒNG
MAI SƠN - SƠN LA THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN

Chuyên ngành: Khoa học giáo dục

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Vũ Tiến Dũng


Biểu đồ 1.3: Khả năng phát âm của trẻ mầm non 5-6 tuổi thông qua hoạt động
kể chuyện tại trƣờng mầm non Hoa Hồng – Mai Sơn - Sơn La trƣớc và sau thực
nghiệm tại cơ sở 1. ............................................................................................. 55\
Biểu đồ 2.1: Khả năng diễn đạt của trẻ mầm non 5-6 tuổi thông qua hoạt động
kể chuyện tại trƣờng mầm non Hoa Hồng – Mai Sơn - Sơn La trƣớc và sau thực
nghiệm tại cơ sở 2. .............................................................................................. 57
Biểu đồ 2.2: Khả năng hiểu từ của trẻ mầm non 5-6 tuổi thông qua hoạt động kể
chuyện tại trƣờng mầm non Hoa Hồng – Mai Sơn - Sơn La trƣớc và sau thực
nghiệm tại cơ sở 2. .............................................................................................. 58
Biểu đồ 2.3: Khả năng phát âm của trẻ mầm non 5-6 tuổi thông qua hoạt động
kể chuyện tại trƣờng mầm non Hoa Hồng – Mai Sơn - Sơn La trƣớc và sau thực
nghiệm tại cơ sở 2. .............................................................................................. 58


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Kết quả nhóm thực nghiệm theo các tiêu chí đánh giá mức độ phát
triển ngôn ngữ của trẻ trƣờng mầm non Hoa Hồng – Mai Sơn - Sơn La ........... 50
Bảng 3.2: Kết quả nhóm đối chứng theo các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển
ngôn ngữ của trẻ trƣờng mầm non Hoa Hồng - Mai Sơn - Sơn La ................... 51
Bảng 3.3: Kết quả nhóm thực nghiệm theo các tiêu chí đánh giá mức độ phát
triển ngôn ngữ của trẻ trƣờng mầm non Hoa Hồng - Mai Sơn - Sơn La ............ 51
Bảng 3.4: Kết quả nhóm đối chứng theo các tiêu chí đánh giá mức độ phát triển
ngôn ngữ của trẻ trƣờng mầm non Hoa Hồng – Mai Sơn - Sơn La.................... 52
Bảng 3.5: So sánh kết quả sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non 5-6 tuổi
thông qua hoạt động kể chuyện tại trƣờng mầm non Hoa Hồng – Mai Sơn - Sơn
La trƣớc và sau thực nghiệm tại cơ sở 1. ............................................................ 53
Bảng 3.6: So sánh kết quả sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non 5-6 tuổi
thông qua hoạt động kể chuyện tại trƣờng mầm non Hoa Hồng – Mai Sơn - Sơn
La trƣớc và sau thực nghiệm tại cơ sở 2. ............................................................ 56




CHƢƠNG 2. BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU
GIÁO TỪ 5-6 TUỔI TRƢỜNG MẦM NON HOA HỒNG - MAI SƠN SƠN LA THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN ................................. 22
2.1. Khái niệm biện pháp .................................................................................... 22
2.2. Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non 5-6 tuổi trƣờng Mầm non
Hoa Hồng Mai Sơn - Sơn La thông qua hoạt động kể chuyện ........................... 22
2.2.1 Biện pháp áp dụng công nghệ thông tin các video vào bài giảng, dạy trẻ kể
lại chuyện ............................................................................................................ 22
2.2.2. Biện pháp giúp trẻ vận dụng ngôn ngữ mạch lạc trong khi kể chuyện..... 24
2.2.3. Biện pháp sử dụng các loại rối trang phục, mô hình, học cụ thu hút sự chú
ý của trẻ ............................................................................................................... 25
2.2.4 Biện pháp kết hợp kể chuyên trong các hoạt động khác…………………25
2.2.5. Biện pháp tổ chức cho trẻ kể chuyện mọi lúc mọi nơi ............................. 28
2.2.6. Biện pháp tổ chức cho trẻ kể chuyện sáng tạo, đóng kịch, kể theo nhóm,
tổ, cá nhân............................................................................................................ 28
2.2.7. Biện pháp thực hiện tốt công tác tuyên truyềnphối hợp với phụ huynh ... 30
Tiểu kết chƣơng 2................................................................................................ 32
CHƢƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM .................................................... 33
3.1 Mục đích thực nghiệm................................................................................... 33
3.2. Đối tƣợng, địa bàn, thời gian thực nghiệm .................................................. 33
3.3. Tiến hành thực nghiệm................................................................................. 33
3.4. Thiết kế thể nghiệm ...................................................................................... 33
3.4.1. Thiết kế giáo án, phiếu điều tra Anket thực nghiệm ................................. 33
3.2.2. Đánh giá và xử lí kết quả thể nghiệm ....................................................... 50
Tiểu kết chƣơng 3................................................................................................ 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................... 60
1. KẾT LUẬN .................................................................................................... 60
2. KIẾN NGHỊ SƢ PHẠM ............................................................................... 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO

phát triển ngôn ngữ trong những năm tháng đầu đời có vai trò rất quan trọng với
khả năng tƣ duy, nhận thức và giao tiếp cũng nhƣ toàn bộ quá trình phát triển về
sau của trẻ. Không chỉ vậy mà đối với trẻ, ngôn ngữ còn là phƣơng tiện để điều
1


khiển, điều chỉnh hành vi giúp trẻ lĩnh hội các giá trị đạo đức mang tính chuẩn
mực. Vì vậy, việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non là rất quan trọng, đặc
biệt ở độ tuổi 5 – 6 tuổi trẻ đang cần đƣợc học ngôn ngữ một cách chính xác.
Đây là lứa tuổi cuối cùng của tuổi mẫu giáo, là giai đoạn then chốt để trẻ tới
trƣờng phổ thông , là bƣớc ngoặt trong cuộc đời trẻ. Đây là giai đoạn trẻ rất
thích học nói vì luôn mong muốn mình đƣợc hòa nhập vào xã hội của ngƣời lớn.
Với tần số nói ngày một tăng đáng kể, trẻ sử dụng chủ yếu là ngôn ngữ nói để
làm phƣơng tiện giao tiếp cho mình. Vì thế cần phải chuẩn bị tốt các mặt tâm lí
để trẻ sẵn sang đi học trong đó ngôn ngữ là thành phần cốt yếu.
Đối với mỗi đứa trẻ ngay từ khi mới chào đời tiếng ru ầu ơ những câu
chuyện cổ tích của bà, của mẹ đã dần khắc sâu vào tâm hồn trẻ, nó thấm dần vào
máu thịt nuôi dƣỡng những tâm hồn còn non dại ấy. Từ những em bé nhút nhát,
yếu đuối nhất, đến những em bó đƣợc coi là ngỗ nghịch bƣớng bỉnh nhất, truyện
cổ tích đều làm chúng say mê. Theo nhận xét của nhiều giáo viên Mầm non giờ
học đƣợc trẻ ham thích nhất, giữ trật tự nhất là giờ các cháu đƣợc nghe kể
chuyện. Còn các bà, các mẹ của trẻ thì cho rằng không gì dỗ trẻ dễ dàng cho
chúng đi ngủ sớm bằng cách kể chuyện cho chúng nghe. Những câu chuyện hấp
dẫn, lôi cuốn trẻ thích kể qua đó giúp trẻ phát triển ngôn ngữ. Chính vì vậy cần
có kế hoạch để vừa giúp trẻ vui vẻ, thích thú vừa giúp trẻ phát triển ngôn ngữ
một cách tốt nhất.
Xuất phát từ những lí do trên và bằng sự hiểu biết của mình, đồng thời dựa
trên cơ sở tiếp thu học hỏi những thành tựu của công trình nghiên cứu khác, tôi
mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm
non 5-6 tuổi trường Mầm non Hoa Hồng Mai Sơn - Sơn La thông qua hoạt

- M.M.Konxova với Dạy nói cho trẻ trước tuổi đi học: đã chỉ ra các hình
thức, biện pháp để nhằm dạy nói cho trẻ trƣớc khi vào tuổi đi học.
- A.N.Xookolop với Lời nói bên trong và tư duy: nghiên cứu những vấn đề
lí luận về ngôn ngữ và tƣ duy của trẻ em.
Ở Việt Nam, vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ cũng đƣợc đông đảo các
nhà giáo dục quan tâm và đi vào nghiên cứu nhƣ:
Nguyễn Xuân Khoa với cuốn : Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Mẫu giáo (0-6 tuổi) (năm 1997), Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ( năm
1999).
3


Tập thể tác giả Nguyễn Xuân Khoa, Phùng Ngọc Kiếm, Lƣơng Kim Nga với
cuốn: Tiếng việt, văn học và phương pháp giáo dục ( năm 1998).
Nguyễn Ánh Tuyết, Phạm Hoàng Gia, Đoàn thị Tâm với cuốn : Tâm lí trẻ
em lứa tuổi mầm non.
Các tác phẩm trên đều đề cập đến nội dung và phƣơng pháp nhằm hình
thành và phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Đây chính là cơ sở, là tiền đề cho cá nhà
khoa học sau này nghiên cứu, tìm tòi, khám phá, về vấn đề ngôn ngữ của trẻ.
Ngày nay càng nhiều ngƣời nghiên cứu về lĩnh vực này:
Lƣu Thị Lan với luận án tiến sĩ : Các biện pháp nhát triển ngôn ngữ cho trẻ
mẫu giáo lớn. Luận án thạc sĩ khoa học giáo dục mầm non : Ngôn ngữ bước
phát triển ngôn ngữ cho trẻ từ 1 – 6 tuổi.
Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Khoa về: Phương pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ mẫu giáo từ 0 – 6 tuổi
Nguyễn Thị Oanh Luận án Tiến sĩ: Cơ sở của việc tác động sư phạm đến sự
phát triển ngôn ngữ tuổi Mầm non.
3. Mục đích và nhiên vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Xác định hoạt động kể chuyện đang thực hiện ở trƣờng mầm non.

liên quan về vấn đề nghiên cứu với các giáo viên ở trƣờng mầm non, nhằm phát
triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non từ 5 – 6 tuổi thông qua hoạt đông kể chuyện.
- Sử dụng phƣơng pháp quan sát: Quan sát những hoạt động của trẻ để đƣa
ra các biện pháp hợp lí với tâm sinh lí của trẻ 5 – 6 tuổi.
5.3. Phƣơng pháp thể nghiệm sƣ phạm
- Sử dụng các phƣơng pháp tác động đến một nhóm trẻ đƣợc chọn để thực nghiệm.
- Xử lí kết quả nghiên cứu bằng phƣơng pháp thống kê toán học.
6. Giả thuyết khoa học
Qua việc khảo sát sơ bộ trên thực tế kết hợp với việc nghiên cứu lí luận,
chúng tôi thấy mức độ phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non từ 5 – 6 tuổi
thông qua hoạt đông kể chuyện ở các trƣờng mầm non hiện nay ngày càng bị
hạn chế đi rất nhiều. Hoặc nếu có thì chƣa gây đƣợc hứng thú thực sự đối với
trẻ, eo hẹp về cách bố trí thời gian tổ chức kể chuyện nên chƣa đạt đƣợc hiệu
quả cao. Do vậy, nếu các biện pháp trong đề tài mang tính khả thi thì sẽ góp

5


phần nâng cao hiệu quả phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua trò hoạt động kể
chuyện, góp phần vào phong trào đổi mới giáo dục.
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, cấu trúc của
khóa luận bao gồm có 3 chƣơng.
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chƣơng 2: Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non 5-6 tuổi
trƣờng Mầm non Hoa Hồng Mai Sơn - Sơn La thông qua hoạt động kể chuyện.
Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm.

6


học
7


Trong văn học trung đại Việt Nam, truyện là khái niệm đƣợc văn học mƣợn
từ sử học, là thể loại trƣớc thuật đƣợc các sử gia dùng để ghi chép tiểu sử, hành
trạng, công tích của các nhân vật lịch sử. Bên cạnh các tác phẩm văn xuôi
dạng truyện truyền kỳ, trong văn học trung đại các tác phẩm thơ có cốt truyện tự
sự cũng đƣợc gọi là các truyện, hoặc truyện thơ, nhƣ các tác phẩm thơ Nôm.
Trong văn học hiện đại, truyện là khái niệm không đƣợc định tính rõ rệt.
Bên cạnh việc sử dụng khái niệm truyện để chỉ mọi tác phẩm tự sự có cốt truyện
nói chung, bao gồm cả truyện ký, tiểu thuyết, khái niệm còn đƣợc dùng nhƣ một
thuật ngữ chỉ dung lƣợng tác phẩm (truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn, truyện
trong lòng bàn tay hay truyện siêu ngắn). Khái niệm truyện cũng thƣờng lẫn lộn
với khái niệm tiểu thuyết, đặc biệt khi nhà văn dùng thuật ngữ này hay thuật ngữ
kia để gọi tên thể loại của tác phẩm mình chấp bút. Trong thực tế có tác phẩm
dạng truyện là tiểu thuyết và có tiểu thuyết là truyện, tuy không phải bao giờ
truyện cũng là tiểu thuyết hay ngƣợc lại.
Truyện kể là dẫy sự kiện, tình huống và xung đột (các hành vi, vị thế, bao
gồm cả vị thế mâu thuẫn, và trạng thái của các nhân vật) đƣợc định hƣớng một
cách nghệ thuật trong thế giới các nhân vật; dựa vào trình tự của chúng, ngƣời ta
phân biệt các bình diện cốt truyện (sự phân bố của các yếu tố thuộc dãy nói trên
trong đời sống một nhân vật và ý nghĩa của chúng đối với nó) và truyện kể theo
đúng nghĩa riêng của nó (sự phân bố của chính các sự kiện và tình huống nói
trên trong tầm nhìn của tác giả và độc giả), nhƣng thông thƣờng, dựa vào đó,
ngƣời ta phân biệt các yếu tố lặp lại (yếu tố truyền thống), tức là các môtip, và
và tổ hợp vững chắc của các môtip (sơ đồ truyện kể).
1.1.2 Vai trò của ngôn ngữ
Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của con ngƣời. Nhờ
ngon ngữ mà con ngƣời có thể trao đổi với nhau ngững hiểu biết, truyền cho

Thứ hai ngôn ngữ là phƣơng tiện của tƣ duy, là công cụ để phát triển nhận thức.
U.sinxki đã nhận định: “ Tiếng mẹ để là cơ sở của mọi sự phát triển, là vốn
quý của mọi tri thức”.
Các Mác và Ăng Ghen cũng đã khẳng định: ngôn ngữ và tƣ duy ra đời cùng
một lúc. Ngay từ đầu chúng đã quện vào nhau, không tách rời. Ngôn ngữ là hiện
thực trực tiếp của tƣ duy. Nếu ngôn ngữ chỉ là những tổ hợp âm thanh đơn giản
thì không thể trở thành phƣơng tiện giao tiếp đƣợc, mặc dù chức năng giao tiếp
9


của ngôn ngữ gắn liền với chức năng thể hiện tƣ duy, nhƣng chúng lại tồn tại
độc lập với nhau.
Ngôn ngữ của con ngƣời không chỉ tồn tại ở dạng thành tiếng mà còn tồn
tại dƣới dạng biểu tƣợng âm thanh trong óc, chữ viết ra giấy. Chức năng ngôn
ngữ với tƣ duy không chỉ hiện ra lời nói mà cả khi con ngƣời suy nghĩ thầm bên
trong – ngôn ngữ cũng là phƣơng tiện biểu hiện. Bởi vậy con ngƣời không thể tƣ
duy mà không có ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là cơ sở của suy nghĩ và là công cụ của tƣ duy. Ngôn ngữ là
thành tố của tình cảm , trí tuệ, tri thức, đâọ đức…. của con ngƣời nhƣ
F.D.Saussure nói : “ Toàn bộ logic của cuộc sống chứa đựng trong một giọt
ngôn ngữ” [5- trang 19].
Ngôn ngữ là vật chất, tƣ duy là tinh thần. Tƣ duy có tính chất nhân loại còn
ngôn ngữ có tính chất dân tộc. Ngôn ngữ và tƣ duy ra đời cùng cùng một lúc và
không tách rời nhau, trong một chừng mực nào đó chúng xuất hiện cùng một lúc
và bổ sung cho nhau.
Đối với trẻ em: “ Ngôn ngữ có vai trò quyết định đến sự phát triển tâm lí
của trẻ , ngôn ngữ làm phát triển tư duy. Ngược lại, tư duy càng phát triển càng
đẩy mạnh nhanh sự phát triển của ngôn ngữ” [5- trang 8].
Khi trẻ càng lớn nhận thức của trẻ càng phát triển, trẻ không chỉ dừng lại ở
những nhận thức về sự vật hiện tƣợng gần gũi xung quanh trẻ, mà còn muốn biết

tiếp, ngƣời lớn luôn hƣớng dẫn, uốn nắn hành vi của trẻ bằng lời nói, nét mặt, nụ
cƣời, giúp trẻ có thể nhận ra đƣợc hành vi của mình là đúng hay là sai. Bằng
cách đó, ở trẻ dần dần hình thành những thói quen tốt và học đƣợc những cách
ửng xử đúng đắn. Ngƣời lớn có thể khen trẻ khi chúng làm đúng và tốt, cổ vũ,
động viên kịp thời cho những hành vi đúng đắn hay có những ý tƣởng hay của
trẻ. Khi trẻ làm sai hay nói sai, ngƣời lớn tỏ vẻ không bằng lòng bằng ánh mắt,
nét mặt nghiêm nghị kèm theo lời nói với giọng điệu nghiêm túc thì trẻ sẽ nhận
thức đƣợc cái sai của mình và sửa sai.
Ngôn ngữ có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển trí tƣởng tƣợng của
trẻ. Nó tác động có mục đích, có hệ thống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm
thụ cái đẹp và hiểu đúng đắn cái đẹp trong tự nhiên, trong đời sống xã hội, trong
nghệ thuật. Các sự vật, hiện tƣợng mà trẻ quan sát đƣợc trong môi trƣờng sống
đƣợc in hằn trong trí não của trẻ. Nhƣng để trẻ biết cái lá có màu xanh, bông hoa
11


có màu đỏ, con cá vàng bơi trong nƣớc, con chim bay trên bầu trời,… nó trở nên
đẹp nhƣ thế nào thì thông qua ngôn ngữ trẻ sẽ nhận thức đƣợc cái hay, cái đẹp
đó trong cuộc sống xung quanh mình. Từ đó trẻ hình thành thái độ tôn trọng cái
đẹp và đồng thời kích thích sự sáng tạo ra cái đẹp ở trẻ.
Những hình ảnh tƣởng tƣợng vừa ngây thơ, đôi khi phi lý này không chỉ
đem lại cho tuổi thơ niềm hạnh phúc mà còn cần cho mỗi ngƣời sau này lớn lên,
dù đó là ngƣời lao động chân tay, nhà khoa học hay ngƣời nghệ sĩ,… phƣơng
tiện có hiệu quả nhất để nuôi dƣỡng sự tƣởng tƣợng đó là trò chơi. Điều đó giúp
trẻ có nhiều ấn tƣợng đẹp và tâm hồn trẻ sẽ càng thêm phong phú. Từ đó, trẻ sẽ
biết yêu quý và có ý thức giữ gìn những cái hay cái đẹp trong cuộc sống.
Khi trẻ đƣợc tiếp xúc thƣờng xuyên với ngôn ngữ văn học nhƣ thơ, truyện,
ca dao, đồng dao,… trẻ sẽ đƣợc chìm vào với thế giới đa dạng màu sắc. Bao
nhiêu loại ngƣời khác nhau, loại ngƣời tốt sao gần gũi, mến thƣơng; loại ngƣời
xấu sao vừa ghét lại vừa sợ… Những phong cảnh xa lạ từ những khu rừng rậm

chơi cùng với các bạn mà ngay cả khi trẻ chơi tƣởng tƣợng với một đồ vật thì
ngôn ngữ vẫn đóng vai trò quan trọng trong quá trình chơi của trẻ. Qua đó, ngôn
ngữ của trẻ đƣợc phát triển, trẻ đƣợc giao lƣu tình cảm trong lúc chơi, phát triển
khả năng tƣ duy và trí tƣởng tƣợng của trẻ.
Những kinh nghiệm lịch sử xã hội đọng lại hay nói cách khác đƣợc chứa
đựng trong các công cụ lao động, đối tƣợng lao động, trong các chuẩn mực hành
vi các mối quan hệ qua lại giữa con ngƣời với nhau,… nhƣng hầu hết đƣợc ghi
lại để truyền bá cho thế hệ sau nhờ ngôn ngữ. Ngay từ lúc mới đầu, đứa trẻ
không thể nhận thức đƣợc những gì đang tồn tại xung quanh nó. Để thỏa mãn sự
hiểu biết đó mà nó thƣờng đặt ra hàng vạn câu hỏi cho bố mẹ và ngƣời xung
quanh chúng. Vì thế, ngƣời lớn trở thành chiếc cầu nối trẻ với cộng đồng, với
thế giới thông qua ngôn ngữ. Ngƣời lớn đã dẫn dắt trẻ hình thành tình cảm, thái
độ, nhận thức về con ngƣời, đồ vật gần gũi xung quanh. Nhờ sự biết đi, biết nói
mà trẻ ngày càng mở rộng phạm vi tiếp xúc, phát triển nhận thức đối với thế giới
xung quanh và hình thành “ý thức bản ngã”. Trẻ muốn tự lập hơn, thể hiện các
hành vi theo ý nghĩ riêng của mình trong các trò chơi. Qua những lời chỉ dẫn của
ngƣời lớn mà trẻ dần hiểu đƣợc những quy định chung của cộng đồng mà mọi
thành viên trong cộng đồng đều phải thực hiện. Trƣớc tiên, là những nề nếp sinh

13


hoạt của gia đình, nhóm trẻ, trƣờng mầm non. Sau đó, là những quy định ngoài xã
hội, những gì trẻ đƣợc phép làm và không đƣợc phép làm.
Mặt khác, để bày tỏ những những nhu cầu mong muốn của mình với những
thành viên trong cộng đồng, trẻ sử dụng ngôn ngữ để thỏa mãn nhu cầu của cá
nhân mình. Điều đó giúp trẻ hòa nhập hơn với mọi ngƣời xung quanh mình.
Trong việc giáo dục toàn diện của trẻ, phát triển thể lực cũng là một mặt
quan trọng .
Giáo dục thể lực đối với trẻ em là quá trình tác động chủ yếu vào cơ thể của

trong chuyện và tự nhận mình là hoàng tử, công chúa…
Nhƣ vậy rõ ràng truyện có những yếu tố đáp ứng đƣợc nhiều nhu cầu tinh
thần của trẻ và là món ăn không thể thiếu đƣợc của trẻ.
Nhân vật chính diện trong truyện đều trung thực, biết yêu thƣơng và vị tha
vô hạn. Đó là một thứ tình thƣơng dành cho những ngƣời đồng cảnh ngộ. Ta có
thể hiểu vì sao cô Tấm chỉ đến ở với bà lão trong hàng nƣớc cô đơn, vì sao Sọ
Dừa lại đầu thai vào một nhà nghèo khổ, cô gái nhỏ giấu cơm đƣa cho ông lão
qua đƣờng mà đƣợc ban thƣởng sắc đẹp, chàng nông dân cứu giúp con chó, con
mèo mà đƣợc giúp đỡ trở nên giàu có, ngƣời nông dân là có thực nhƣng anh ta
có thể phục sinh ngƣời chết bằng cách cho ăn lá cây đa thần là yếu tố kì
ảo…Chính những yếu tố đó làm cho truyện có sức hấp dẫn kì lạ đối với trẻ thơ.
Nhƣ vậy, có thể nói nghe kể chuyện là một nhu cầu thực sự của trẻ em.
Dƣờng nhƣ trong mỗi em bé có cái mà ta có thể gọi đó là nhu cầu “bản năng” về
sự huyền diệu và kì lạ. Mà điều này truyện có thể thỏa mãn cái nhu cầu rất tự
nhiên và cũng rất khẩn thiết đó của trẻ thơ bởi những yếu tố kì ảo, thần diệu của nó.
1.1.4. Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 5-6 tuổi
1.1.4.1 Đặc điểm phát âm
Trẻ 5-6 tuổi đã phát âm tốt hơn, rõ hơn, ít ê a, ậm ừ, trẻ vẫn còn phát âm sai
những âm thanh khó, những từ có 2-3 âm tiết nhƣ: lựu, lịu, hƣơu- hiu, mƣớp,
mớp, chim chíp, rắn dắn… tuy nhiên nỗi sai đã ít hơn.
1.1.4.2 Đặc điểm về vốn từ
Vốn từ của trẻ tăng nhanh khoảng từ 1300-2000 từ. Danh từ và động từ trẻ
vẫn chiếm ƣu thế, tính từ và các loại từ khác trẻ đã sử dụng nhiều hơn.
Trẻ đã sử dụng chính xác các từ chỉ tính chất không gian nhƣ: Cao thấp, dài
ngắn, rộng hẹp, các từ chỉ tốc độ nhƣ: nhanh- chậm, các từ chỉ màu sắc: đỏ,
15


vàng, trắng, đen, ngoài ra các từ có khái niệm tƣơng đối nhƣ: hôm qua, hôm nay,
ngày mai, trẻ dùng chƣa chính xác. Một số trẻ biết sử dụng các từ chỉ màu sắc

qua hoạt động kể chuyện.
1.2.1.3. Đối tượng khảo sát
- Giáo viên dạy lớp mẫu giáo lớn (6 cô)
- Trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi (40 cháu)
1.2.1.4. Địa bàn khảo sát
- Trƣờng Mầm non Hoa Hồng (Mai Sơn)
1.2.1.5. Thời gian khảo sát
- Từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 04 năm 2015
1.2.1.6. Phương pháp khảo sát
* Phương pháp khảo sát bằng phiếu Anket
+ Đối với giáo viên:
- Mục đích: Tiến hành khảo sát để thu thập ý kiến của các giáo viên mầm
non nhằm tìm hiểu về nhận thức về tác động của truyện tới sự phát triển của trẻ
đặc biệt là sự phát triển ngôn ngữ của trẻ, nhận thức của giáo viên trong việc
phát triển ngôn ngữ của trẻ thông qua hoạt động kể chuyện.
- Các bƣớc tiến hành:
Bƣớc 1: Phát phiếu khảo sát cho giáo viên
Bƣớc 2: Tiến hành phân tích, tổng hợp kết quả theo nội dung khảo sát
Bƣớc 3: Nhận xét thực trạng, phân tích nguyên nhân dẫn đến thực trạng.
+ Đối với trẻ
- Mục đích: Sử dụng các phiếu đánh giá thực trạng ngôn ngữ của trẻ mẫu
giáo (5-6 tuổi) nhằm tìm hiểu mức độ ngôn ngữ của trẻ.
1.2.1.7.Kết quả khảo sát đối với trẻ
Tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ Mầm non
5-6 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện theo phiếu đánh giá. Đánh giá 60 trẻ tại
3 lớp trƣờng Mầm non Hoa Hồng - Mai Sơn - Sơn La. Tôi đã xây dựng những
tiêu chí đánh giá nhƣ sau:

17



Trung bình

+ Không diễn đạt đƣợc

Yếu

+ Nhanh

Giỏi

+ Bình thƣờng

Khá

+ Chậm

Trung bình

+ Không hiểu

Yếu

+ Tốt

Giỏi

Khả năng phát âm ( l, đ, s, + Bình thƣờng
x, th, n,…)



Yếu

Khả năng diễn đạt

5

7

8

0

25%

35%

40%

0%

Khả năng hiểu từ

4

5

11

0


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status