Cao Bá Quát Tiểu sử
Cao Bá Quát (1809? -1855) tự Chu Thần sinh tại Phú Thị, Gia Lâm, Hà
Nội, mất giữa trận tiền Quốc Oai trong cuộc khởi nghĩa chống triều
đình thời Tự Đức... Tự Đức tru di ba họ Cao Bá Quát, thu hồi tiêu hủy
văn chương ông. Nhưng ông được lòng dân bảo vệ: một rừng truyền
thuyết ca ngợi tài thơ, lòng dũng cảm, trí thông minh và tinh thần
thương dân yêu nước của ông. Tác phẩm của ông còn được lưu đến nay
là 1353 bài thơ, 21 bài văn xuôi, một số bài ca trù và khá nhiều câu đối.
Thập tải luân giao cầu cổ kiếm (Mười năm giao thiệp tìm gươm báu)
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa (Một đời chỉ cúi trước hoa mai)
Đôi câu đối ấy đã thâu tóm khá đầy đủ hoài bão và phẩm chất Cao Bá
Quát. Lúc trẻ Cao Bá Quát cũng như trăm nghìn sỹ tử khác mong học
giỏi đỗ cao để giúp đời. Trong thơ thấy rõ cái hăng hái thường tình ấy
Trên đường công danh đã mấy ai nhàn/ Mũ lọng nhộn nhịp ta cũng đi
đây. Nhưng cũng nhận ra ngay trong cơn hăng hái trên đường đi thi ấy
cái khí phách khác thường của ông:
Sóng biển trào lên như đầu bạc lô nhô
Gió giận dữ đánh chìm cả những chiếc thuyền to
Chớp giật sấm ran ai nấy đều xanh mắt,
Giữa cảnh, con chim hải âu vẫn nhởn nhơ
Sau này trong truyền thuyết về Cao nhiều giai thoại cũng vẽ nên sự
bình thản của ông giữa gian lao như hải âu giữa bão: Một chiếc cùm
lim chân có đế/ Ba vòng xích sắt bước thì vương.
Khí phách ấy bắt nguồn từ chất tâm hồn của Cao Bá Quát. Tâm hồn ấy
cao rộng. Qua núi Dục Thúy: Ta muốn trèo lên đỉnh núi cao ngất kia/
Hát vang lên để gửi tấm lòng vào mây nước. Tâm hồn ấy giàu năng lực
bên trong, chấp nhận cái khó của đường đời:
Bãi cát dài, bãi cát dài!
Bước một bước lại như lùi một bước.
Trong tình cảnh oan khốc bị giam cầm, tra tấn chỉ vì tội sửa vào bài thi
cho một thí sinh có tài vô ý phạm trường quy, ông tỉnh táo và can đảm
sánh vắn dài/ Đến lúc đã rối bời thì cùng rối bời như nhau. Rối bời vì ái
quốc thì không thể trung quân.
Cuối đời, những bài thơ Cao Bá Quát càng nặng trĩu nội tâm. Không
chỉ buồn thương, mà có buồn thương cũng không chỉ vì thân danh mình
lận đận. Hoài bão của con người một đời chỉ cúi trước hoa mai rộng xa
hơn nhiều. Trước cảnh đời ngang trái ấy ông không thể làm tấm bia
không chữ, (Thế sự hà kham một tự bi). Ông phải có thái độ, nhưng
thái độ ấy không thể nói trong thơ. Ông như cái hạt sen ôm tấm lòng
đắng ngắt chỉ mình mình biết (Liên tử hữu tâm tri độc khổ). Đêm xuân
đọc sách mà như đối thoại với người xưa (Bùi ngùi xuân này ngồi đối
diện với người xưa) mà như giao lưu với vũ trụ (Dưới có người không
ngủ/ Trên có vì sao muốn rơi). Trong bài Tiễn Nguyễn Trúc Khê ra
nhận chức tại phủ Thường Tín, ý chí hành động của Cao Bá Quát đã rõ,
sau khi nhắc đến Chu An, Nguyễn Trãi, ông viết:
Khách nam nhi chẳng vì thế thái
Đem thân ra đỡ lấy cương thường
Năm 1853 Cao Bá Quát đã trở thành một trong những người lãnh đạo
của cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương. Bối cảnh lịch sử chưa đủ chín để cuộc
khởi nghĩa thành công. Nhưng Cao Bá Quát đã trở thành hình tượng
sáng chói của lớp nhà thơ hoạt động, từ thơ mà thành chiến sỹ, lấy máu
để diễn tả cao nhất cảm xúc của chính mình.
Hà Nội 1-11-2000
VŨ QUẦN PHƯƠNG
TIỂU SỬ
NHÀ BÁC HỌC LÊ QUÝ ĐÔN
------***------
I. SƠ LƯỢC VỀ TIỂU SỬ VÀ SỰ NGHIỆP CỦA NHÀ BÁC HỌC LÊ QUÝ ĐÔN:
1. Lê Quý Đôn sinh ngày 5/7/1726 mất ngày 14/4/1784. Ông là con tiến sĩ Lê
Phú Thứ, quê ở huyện Diên Hà ( nay thuộc thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng
Hà) tỉnh Thái Bình, nổi tiếng thần đồng, có trí nhớ lạ lùng, tài ứng đối mau lẹ, 14
Quế đường thi tập - rất nổi tiếng.
- Về sử học:
Có: “ Đại việt thông sử”, “ Phủ biên tạp lục”, “ Kiến
văn tiểu lục”, “ Bắc sử thông lục”.
Tiểu sử
Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng
Vào nửa sau thế kỷ VIII, quyền thống trị của triều đình Trường An đã
bắt đầu suy yếu. Chiến tranh giữa "phiên trấn" và "triều đình" - mà đỉnh
cao là loạn An Sử - càng làm cho nhà Đường lụn bại. Uy quyền của bọn
tiết độ sứ và đô hộ ngày một tăng, chúng tự ý trưng thu thuế má. Cao
Chính Bình, hiệu úy châu Vũ Định (miền Việt Bắc), năm 767 giúp kinh
lược sứ An Nam Trương Bá Nghi đánh bại được cuộc xâm lược của quân
Chà Và (Ja va) ở Chu Diên, sau đó y được cử làm đô hộ An Nam. Y ra
sức bòn rút của cải của nhân dân ta, đánh thuế rất nặng. Khoảng niên
hiệu Đại Lịch (766-779), chưa rõ đích xác vào năm nào, nhân lòng căm
phẫn của nhân dân, lợi dụng khi quân lính ở Tống Bình nổi loạn, người
hào trưởng đất Đường Lâm (nay là xã Đường Lâm, huyện Ba Vì, Hà Nội)
là Phùng Hưng đã phát động một cuộc khởi nghĩa lớn chống chính
quyền đô hộ.
Sử liệu gốc ghi lại về Phùng Hưng không nhiều. Chỉ biết, Phùng Hưng
xuất thân từ dòng dõi cự tộc, hào trưởng đất Đường Lâm. Đường Lâm
xưa kia vốn là vùng đồi gò và rừng cây rậm rạp, thú vật dữ tợn thường
hay lui tới, nên nơi đây tục gọi là Đường Lâm hay Cam Lâm.
Phùng Hưng có tên tự là Công Phấn, cháu 7 đời của Phùng Tói Cái -
người đã từng vào trong cung nhà Đường Cao Tổ, đời Đường Vũ Đức
(618-626) dự yến tiệc và làm quan lang ở đất Đường Lâm. Bố của
Phùng Hưng là Phùng Hạp Khanh - một người hiền tài đức độ. Khoảng
năm Nhâm Tuất (722) đời Đường Khai Nguyên, ông đã tham gia cuộc
khởi nghĩa của Mai Thúc Loan. Sau đó, ông trở về quê chăm chú công
việc điền viên, trở nên giàu có, trong nhà nuôi nô tỳ có đến hàng nghìn
chủ tướng Phùng Hưng tiến công vây thành. Quân của Cao Chính Bình
(khoảng hơn 4 vạn bia Quảng Bá) đem ra chống cự. Cuộc chiến đấu
diễn ra quyết liệt trong khoảng 7 ngày, quân địch chết nhiều, Cao Chính
Bình phải vào cố thủ trong thành, lo sợ cuối cùng bị ốm rồi chết. Phùng
Hưng chiếm lĩnh thành trì và vào phủ Đô hộ, coi chính sự đất nước được
7 năm thì mất. Rất tiếc trong 7 năm ấy, sử sách không để lại một
nguồn tài liệu nào về ông. Sau khi mất, con trai ông là Phùng An lên nối
ngôi, dâng tôn hiệu cha là Bố Cái Đại Vương. An nối nghiệp được hai
năm thì chính quyền lại rơi vào tay giặc. Nền tự chủ vừa mới xây dựng,
chỉ tồn tại vẻn vẹn trên dưới 9 năm.
Sử liệu và truyền thuyết dân gian ở vùng Đường Lâm kể lại rằng: Phùng
Hưng chết rồi rất hiển linh, thường hiện hình trong dân gian, giúp dân
trong lúc hoạn nạn. Dân làng cho là linh ứng, lập miếu để thờ tự tại
Đường Lâm. Tương truyền sau này, Phùng Hưng còn hiển linh giúp Ngô
Quyền đánh thắng giặc ở sông Bạch Đằng. Thấy vậy, Ngô Quyền cho
lập đền thờ quy mô to lớn hơn trước. Sự ngưỡng mộ đối với người anh
hùng dân tộc họ Phùng còn thể hiện ở việc lập đền thờ phụng của nhân
dân như ở đình Quảng Bá (Hà Nội), đình Triều Khúc (Hà Tây), thờ ở
lăng Đại áng, Phương Trung, Hoạch An, phủ Thanh Oai (Hà Tây),v.v.
Hiện nay dấu vết lăng mộ của Phùng Hưng còn lại ở đầu phố Giảng Võ
(gần bến xe Kim Mã), vì khi chết, ông được mai táng ở cạnh phủ Tống
Bình, sau đó mới đưa thi hài về quê hương. Để tưởng nhớ người anh
hùng dân tộc, Nhà nước ta đã đặt tên phố Phùng Hưng tại phía cửa
Đông của thủ đô Hà Nội.
Phó tiến sĩ sử học Trần Thị Vinh
Tiểu sử vị anh hùng dân tộc Ngô Quyền
Tóm tắt tiểu sử cụ Ngô Quyền
Ngô Quyền, vị anh hùng dân tộc sinh ngày 12 tháng 03 năm Đinh Tỵ (897) ở ấp
Đường Lâm (nay là thôn Cam Lâm xã Đường Lâm thuộc thị xã Sơn Tây tỉnh Hà Tây)
là con cụ Ngô Mân lúc đó làm Châu Mục ở quận Châu Phong, cụ bà là người hiền đức
quân đóng giữ Hải Môn (thuộc tỉnh Quảng Đông – Trung Quốc) để sẵn sàng tiếp ứng
cho Hoàng Thao.
Nắm vững âm mưu của quân giặc, Ngô Quyền bí mật sai người đi giết Kiều Công
Tiễn, một mặt ông bí mật hạ lệnh cho quân sĩ cùng với nhân dân địa phương vùng
Thủy Nguyên – Yên Hưng chặt gỗ đẽo nhọn rồi đóng vào nơi cửa song Bạch Đằng
hiểm yếu chảy ra biển. Đây là một trận địa hết sức hiểm trở, một mặt ông sai các
tướng lĩnh đem quân bố trí trận địa ở hai bên bờ song, còn mặt khác ông cho chuẩn
bị 200 chiến thuyền nhẹ tới chỗ giặc đóng quân để khiêu chiến rồi giả vờ thua chạy
lừa chiến thuyền của giặc lọt vào trận địa mai phục để phản công.
Tháng 10 năm đó (938) lợi dụng nước thủy triều dâng lên, lại có gió mùa đông bắc,
đoàn chiến thuyền của giặc do tướng Hoàng Thao chỉ huy ồ ạt tiến vào vịnh Hạ Long,
vào sông Bạch Đằng gặp đoàn thuyền chiến nhẹ của ta ra khiêu chiến, đoàn thuyền
giặc đốc thúc đuổi theo. Chờ cho nước thủy triều rút, Ngô Quyền hạ lệnh phản công
từ các mũi. Bị đánh bất ngờ quân giặc vô cùng kinh hoàng hạ lệnh cho quân quay
mũi thuyền định tháo chạy, vừa lúc thủy triều rút, thuyền giặc càng lao nhanh càng
đam vào mũi cọc. Thuyền bị tan vỡ, toàn bộ quân sĩ của giặc phần thì bị giết, phần
thì bị chìm, xác chật cả một khúc song, máu loang đỏ dòng nước. Tên tướng giặc
Hoàng Thao bị giết trong đám loạn quân. Âm mưu xâm lược của Nam Hán bị đại bại.
Lưu Yểm sợ hãi rút quân về Phiên Ngưng.
Sau đại thắng trận Bạch Đằng năm 938. Ngô Quyền bãi bỏ chức tiết độ sứ tự xưng
vương lấy hiệu là Tiền Ngô Vương, xây dựng nhà nước độc lập, tự chủ, đóng đô ở Cổ
Loa nay thuộc huyện Đông Anh – Hà Nội là kinh đô cũ của nước Âu Lạc thời An
Dương Vương. Chấm dứt trên 1000 năm nước ta bị đô hộ, mở đầu cho thời kỳ phục
hưng đất nước. Năm Giáp Thân (944) ông lâm bệnh rồi mất, làm vua được 6 năm
hưởng thọ 47 tuổi.
Sau khi ông mất, bản ấp lập miếu để hàng ngày thờ phụng và ghi nhớ công ơn của
Người. Ngày nay, cứ đến ngày 14/08 âm lịch. Đảng bộ, chính quyền, mặt trận tổ
quốc, các đoàn thể và nhân dân trong xã long trọng tổ chức lễ kỷ niệm để tưởng nhớ
công lao của vị anh hùng dân tộc đã có công với dân với nước và ôn lại truyền thống
đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta.
và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Thành đồng
hạng nhất.
Chính quyền Việt Nam Cộng hòa bí mật cho chôn xác Nguyễn Văn Trỗi tại nghĩa trang
Văn Giáp ở Giồng Ông Tố (nay thuộc phường Bình Trưng Đông, Quận 2, Thành phố Hồ
Chí Minh). Sau nhiều ngày tìm kiếm, cha đẻ và vợ anh mới tìm thấy mộ.
Chu Văn An
Tiểu sử
CHU VĂN AN (?- 1370)
Nhà giáo dục và nhà văn Việt Nam đời Trần. Còn gọi là Chu An; tự là Linh Triệt. Năm
sinh chưa rõ. Quê ở thôn Văn, làng Quang Liệt, huyện Thanh Đàm, nay thuộc ngoại thành
Hà Nội.
Ðậu Tiến sĩ nhưng không ra làm quan. Ông mở trường dạy học ở quê nhà. Ông có nhiều
học trò nổi tiếng như: Lê Qúat, Phạm Sư Mạnh...
Ðời Trần Minh Tông, ông được mời đến Thăng long giữ chức Tư nghiệp Trường Quốc tử
giám. Ðến đời Trần Dụ Tông, chính trị đổ nát, ông viết Thất trảm sớ dâng Vua xin chém 7
gian thần. Không được chấp thuận, ông từ chức, về ở ẩn ở núi Phượng Hòang, làng Kiệt
Ðặc, huyện Chí Linh (nay thuộc tỉnh Hải Dương), lấy biệt hiệu Tiều ẩn, làm thơ viết văn.