LUẬN văn THẠC sĩ HOÀN THIỆN QUY CHẾ THỰC HIỆN dân CHỦ ở cơ sở ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa ra đời đánh dấu một bước chuyển biến vô cùng trọng đại
của dân tộc ta. Nó đập tan ách thống trị thực dân tàn bạo, xóa bỏ chế độ
phong kiến lỗi thời đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội, nhân dân được làm chủ đất nước, làm chủ xã hội.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi dân
chủ là một nội dung quan trọng. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân vừa là
mục tiêu, vừa là động lực để nhân dân ta vượt qua khó khăn, thực hiện thắng
lợi mọi nhiệm vụ cách mạng, vừa là bản chất và đặc trưng của chế độ mới.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) đã khẳng định:
"Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, đó là nền nếp hàng ngày của xã hội
mới, thể hiện chế độ nhân dân lao động tự quản lý nhà nước của mình".
Trong quá trình xây dựng đất nước, quyền dân chủ của nhân dân ngày
càng được mở rộng, nhân dân thực hiện quyền làm chủ đất nước trước hết và
chủ yếu thông qua các cơ quan dân cử. Trong những năm 80 - 90 của thế kỷ
XX tình hình vi phạm quyền dân chủ, tệ quan liêu tham nhũng diễn ra trầm
trọng dẫn đến tình trạng khiếu kiện tập thể, sự phản ứng mạnh mẽ của nhân
dân, làm giảm mạnh lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chính quyền.
Ngày 18/02/1998, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 30/CT-TƯ về xây dựng
và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Cụ thể hóa một bước chỉ thị này, ngày
15/5/1998, Chính phủ ra Nghị định số 29/NĐ-CP ban hành kèm theo Quy chế
thực hiện dân chủ ở xã và đã được sửa đổi, bổ sung thay thế bằng Nghị định
số 79/NĐ-CP ngày 7/7/2003 (quy chế này áp dụng cho cả phường và thị trấn,
sau đây gọi là Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở). Đây là những văn bản





3

thật, Hà Nội, 1991; Hoàng Chí Bảo: Tổng quan về dân chủ và cơ chế thực
hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta: quan điểm, lý luận và phương pháp
nghiên cứu, Tạp chí Thông tin lý luận, số 9/1992; Nguyễn Đăng Quang: Một
cách tiếp cận khái niệm dân chủ, Tạp chí Thông tin lý luận, số 9/1992;
PGS.TS Vũ Minh Giang: Thiết chế làng xã cổ truyền và quá trình dân chủ
hóa hiện nay ở nước ta, Tạp chí Thông tin lý luận, số 9/1992; Lê Văn Tuấn:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ, Tạp chí Thông tin lý luận, số
9/1992; TS. Đỗ Trung Hiếu: Một số suy nghĩ về xây dựng nền dân chủ ở Việt
Nam hiện nay (sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Đào
Trí Úc: Củng cố các hình thức dân chủ và sự vững mạnh của nhà nước ta,
Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11/1998; Nguyễn Đăng Dung: "Dân chủ"
làng xã - Những vấn đề cần phải đặt ra nghiên cứu, Tạp chí Cộng sản, số
6/1998; Lê Minh Thông: Tăng cường cơ sở pháp luật về dân chủ trực tiếp ở
nước ta trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1/2000;
Lê Hồng Hạnh: Bàn về các đảm bảo pháp lý của dân chủ, Tạp chí Quản lý
nhà nước, số 4(51), 2000; Trần Thị Băng Thanh: Vai trò của Nhà nước đối
với việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân ở Việt Nam hiện nay, Luận án
tiến sĩ Triết học bảo vệ năm 2002 tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh.
Nghiên cứu về Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở, các bài viết, công
trình nghiên cứu chỉ dừng lại ở chỗ: Tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề lý
luận và thực tiễn về việc triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp xã. Đánh
giá, tổng kết những thành tựu và những khó khăn sau hơn 6 năm thực hiện
Quy chế dân chủ ở cấp xã như: Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã một số
vấn đề lý luận và thực tiễn (sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2000 do PGS. TS. Dương Xuân Ngọc chủ biên; sách chuyên khảo của tác giả

Cộng sản, số 32/2003; Nguyễn Đại Khởn: Kết quả và kinh nghiệm bước đầu
sau 5 năm triển khai thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở tỉnh Nam Định, Tạp
chí Tổ chức Nhà nước, số 7/2004; Lê Kim Việt: Qua ba năm thực hiện Quy
chế dân chủ cơ sở ở nông thôn, Tạp chí cộng sản, số 18/2002...


5

Nhìn chung, các bài viết đã lý giải về tính tất yếu phải xây dựng và
thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, qua thực tiễn khảo sát việc thực hiện quy
chế ở các địa phương, vùng miền trong cả nước để đưa ra những thành tựu đã
đạt được của việc thực hiện quy chế dân chủ ở cấp xã cũng như rút ra những
bất cập, hạn chế, vướng mắc của Quy chế, mà chưa có công trình nào nghiên
cứu một cách có hệ thống pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã và hoàn
thiện pháp luật thực hiện dân chủ ở cấp xã trên cơ sở lý luận và thực tiễn hiện
nay. Tuy nhiên, những tài liệu nêu trên có giá trị tham khảo tốt cho tác giả
trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn.
3. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Pháp luật về thực hiện dân chủ hiện nay có phạm vi điều chỉnh tương
đối rộng, bao gồm nhiều loại như: Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở (xã,
phường, thị trấn), quy chế thực hiện dân chủ ở cơ quan, doanh nghiệp... Luận
văn chỉ tập trung nghiên cứu Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở (được ban
hành kèm theo Nghị định số 29/NĐ-CP ngày 11/5/1998 của Chính phủ, đã
được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 79/NĐ-CP ngày 7/7/2003). Trong đó, tập
trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở,
thực trạng quy chế và thi hành Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở từ năm
1998 đến nay. Trên cơ sở đó đề ra phương hướng và các giải pháp cơ bản
nhằm hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở trong điều kiện mới.
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích

thực hiện quyền dân chủ, tiêu chí hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở.


7

- Phân tích, đánh giá một cách tương đối có hệ thống toàn diện thực
trạng và những nguyên nhân tồn tại của Quy chế và thực thi Quy chế thực
hiện dân chủ ở cơ sở.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp pháp lý cơ bản nhằm
hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam hiện nay và hoàn
thiện các quy định của pháp luật có liên quan trong điều kiện mới.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần giải quyết một số vấn đề lý luận và thực tiễn hiện
nay đang đặt ra đối với hoạt động thực hiện quyền dân chủ ở cơ sở xã, phường,
thị trấn.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và
giảng dạy trong các trường chính trị, pháp lý cũng như nghiên cứu hoàn thiện
pháp luật thực hiện quyền dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam trong thời gian tới.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.


8

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ HOÀN THIỆN QUY CHẾ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ

1.1. KHÁI QUÁT VỀ DÂN CHỦ VÀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ XÃ HỘI

khác nhau trong điều kiện của các hình thái kinh tế - xã hội. Trong xã hội
XHCN, "dân chủ" có một chất lượng mới, nội dung "quyền lực thuộc về nhân
dân" được phát triển đầy đủ trên cơ sở một nền kinh tế phát triển cao, giải
phóng sức sản xuất, vượt qua lợi ích ích kỷ của giai cấp thống trị. Nhờ vậy,
dân chủ là yếu tố bảo đảm cho quá trình giải phóng và phát triển toàn diện
con người, đem lại cho họ quyền làm chủ cuộc sống, quyền sáng tạo và sản
xuất của cải vật chất, tinh thần cho xã hội, trong đó, "sự phát triển tự do của
mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người" [34, tr.
569].
"Dân chủ", theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, trước hết là một
hình thức nhà nước. Nhà nước đó, một mặt thực hiện dân chủ và mặt khác thực
hiện trấn áp đối với giai cấp khác trong xã hội, V.I. Lênin viết: "Chế độ dân chủ,
đó là một nhà nước thừa nhận việc thiểu số phục tùng đa số, nghĩa là sự tổ chức
bảo đảm cho một giai cấp thi hành bạo lực một cách có hệ thống chống lại
một giai cấp khác" [30, tr. 101]. Vì vậy, trong lịch sử xã hội loài người, dân
chủ luôn mang tính giai cấp, nó tồn tại dưới những hình thức cụ thể, biến đổi
cùng với sự thay đổi của phương thức sản xuất và kết cấu giai cấp của xã hội.
Dân chủ là một quá trình phát triển, là kết quả của các cuộc đấu tranh
của nhân dân. Do vậy, dân chủ XHCN là một hiện tượng hợp quy luật, là
bước phát triển cao hơn về chất so với các kiểu dân chủ trong lịch sử mà bản
chất của nó là nhằm giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột và tạo điều kiện
để con người được phát triển toàn diện. Theo C.Mác, chế độ dân chủ XHCN


10

thực chất là chế độ "do nhân dân tự quy định nhà nước", từ việc nhân dân tổ
chức bầu cử để hình thành bộ máy nhà nước đến tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước dựa trên nguyên tắc do dân và vì dân cũng như việc kiểm tra,
giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy nhà nước.

những quyền năng nắm giữ và thực hiện quyền lực nhà nước của người dân
được luật pháp ghi nhận. Đó là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định
quyền của công dân trong mối quan hệ với Nhà nước và các chủ thể khác
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nó bao gồm các quyền về dân sự,
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Như vậy, khi nói tới quyền dân chủ hay các giá trị dân chủ được thể
chế hóa, trước hết phải xác định nguồn gốc của nó là do pháp luật thừa nhận
và quy định phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị của xã hội trong từng thời
kỳ. Sau đó Nhà nước bảo đảm cho các giá trị đó được thực hiện trên thực tế.
Quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa là hệ thống các quy phạm pháp luật
do Nhà nước XHCN ban hành và bảo đảm thực hiện, bao gồm các quy định
về quyền của công dân trong mối quan hệ với Nhà nước và các chủ thể khác
trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… bảo đảm cho nhân dân
là chủ thể của quyền lực nhà nước.
- Quyền dân chủ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội
+ Quyền dân chủ trong lĩnh vực chính trị:
Đây là nhóm quyền quan trọng và trước hết đối với người dân của bất kỳ
một quốc gia nào. Nó xác định tư cách hay địa vị của công dân trong xã hội.
Dân chủ trong lĩnh vực chính trị, theo Lênin:


13

Áp dụng chế độ dân chủ Xô viết, tức là chế độ dân chủ vô
sản một cách cụ thể nhất… trước hết các cử tri đều phải là quần
chúng cần lao và bị bóc lột… Hai là: Mọi thủ tục và những hạn chế
có tính quan liêu đều bị xóa bỏ, quần chúng tự quy định lấy thể thức
và thời hạn bầu cử, hoàn toàn có quyền tự do bãi miễn những người
mà họ bầu ra [28, tr. 343].
Ở Việt Nam, nhân dân là chủ thể chân chính và duy nhất của quyền lực

trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu
toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.
Các quyền trong lĩnh vực kinh tế gắn liền với việc bảo đảm cho cá
nhân tự do sử dụng các đồ dùng và các yếu tố cơ bản của hoạt động sản xuất các điều kiện sản xuất và sức lao động là một trong các điều kiện quan trọng
nhất cho sự tồn tại của xã hội công dân với tư cách là cơ sở xã hội của chế độ
dân chủ và cho sự bảo đảm tự do của cá nhân.
Các quyền kinh tế ngày càng được mở rộng cho cá nhân, đó là việc
nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân, các cá
nhân có quyền tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh trong cơ chế bình đẳng,
công bằng, công khai giữa các thành phần kinh tế.
+ Các quyền dân chủ trong lĩnh vực văn hoá - xã hội:
Nhóm các quyền này quy định nghĩa vụ của nhà nước bảo đảm cho
người dân những điều kiện sinh tồn xứng đáng, những phúc lợi và dịch vụ vật
chất tối thiểu để duy trì cuộc sống của con người, phát triển tinh thần trong
một môi trường bao quanh lành mạnh. Khi đó, các quyền xã hội sẽ bao gồm
quyền được bảo hiểm xã hội, có nơi ở, hưởng an toàn lao động, bảo vệ sức
khỏe... Các quyền văn hóa có nhiệm vụ bảo đảm sự phát triển tinh thần của cá
nhân, đó là quyền học tập, tự do sáng tạo, tận hưởng các giá trị văn hóa…;
các quyền sinh thái là quyền có một môi trường bao quanh tốt lành, có thông
tin đáng tin cậy về thực trạng của nó.


15

Trên đây là những quyền dân chủ cơ bản của cá nhân cần được bảo
đảm và thực hiện trong một chế độ nhà nước dân chủ. Mức độ thực hiện
chúng trên thực tế là thước đo tính dân chủ của mỗi nhà nước.
Mở rộng và thực hiện các quyền dân chủ chính là mục đích mà Nhà
nước XHCN đang cố gắng đạt tới nhằm xây dựng một Nhà nước pháp quyền
của dân, do dân và vì dân.

giám sát, kiểm tra hoạt động của các cơ quan đại diện. Dân chủ đại diện là
một hình thức thực hiện dân chủ quan trọng, có ý nghĩa to lớn trong quy trình
thực hiện quyền lực của nhân dân và đã được thực tiễn hoạt động Nhà nước
trong các quốc gia dân chủ ghi nhận. Hình thức đầu tiên của chế độ dân chủ
đại diện là chế độ đại nghị tư sản, ra đời trong lòng chế độ quân chủ phong
kiến chuyên chế, trở thành công cụ của giai cấp tư sản trong quá trình đang
lên. Ở Việt Nam, dân chủ đại diện với các quan điểm của chế độ "dân ủy" đã
được khẳng định ngay trong Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp 1946) và tiếp tục
khẳng định trong tất cả các bản Hiến pháp sau này. Điều 6 Hiến pháp 1992
quy định: "Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội
đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân
dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân". Như vậy, hình
thức chủ yếu của dân chủ đại diện ở nước ta là thông qua Quốc hội và Hội
đồng nhân dân (HĐND) các cấp. Ngoài ra, nhân dân còn làm chủ thông qua
các tổ chức chính trị - xã hội, các hội nghề nghiệp của nhân dân được lập nên
theo nguyên tắc tự nguyện.
Tuy nhiên, dân chủ đại diện dù có ý nghĩa quan trọng đến mấy vẫn
không thể khắc phục được những hạn chế của chế độ nhà nước với tính cách
là chủ thể quyền lực được ủy quyền nhưng lại trực tiếp thực hiện quyền năng
của người ủy quyền là nhân dân. Do vậy, trong một phạm vi, mức độ đáng kể
nhân dân vẫn bị tách khỏi quyền lực nhà nước và không phải lúc nào những
ủy quyền của nhân dân cũng được thực thi đúng. Vẫn có nguy cơ về căn bệnh
tha hóa quyền lực, quan liêu hóa bộ máy nhà nước, sự cồng kềnh, kém hiệu


17

quả của các thiết chế quyền lực, sự xuất hiện một bộ phận cán bộ đặc quyền,
đặc lợi trong bộ máy nhà nước sẽ khó khắc phục nổi nến thiếu các nỗ lực của
các lực lượng quần chúng nhân dân. Để khắc phục tình trạng đó cần phải có

nâng cao đời sống của dân thì nhân dân không chỉ nói lên điều mình mong
muốn mà còn gợi ý, kiến nghị và chỉ ra rằng Nhà nước cần phải hành động
như thế nào, bằng phương pháp và công cụ nào để giải quyết các vấn đề kinh
tế - xã hội. Thực tiễn của những năm đổi mới vừa qua đã chứng tỏ rằng,
những sáng kiến đầy tâm huyết của nhân dân là một nguồn trí tuệ vô cùng quý
giá góp phần to lớn hoàn thiện những chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước, tạo ra những bước phát triển vững chắc của đất nước trên
con đường phát triển và hội nhập.
- Dân chủ trực tiếp tạo nên cơ chế đối trọng, kiểm tra, giám sát đối với
hình thức dân chủ đại diện, với bộ máy nhà nước, giảm bớt sự tùy tiện, lạm
quyền, phát huy được tính tự giác, tích cực của mỗi thành viên trong một tập
thể, một cộng đồng. Khắc phục thói quen trì trệ, ỷ lại, trông chờ người khác;
phát huy truyền thống tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau, tăng cường sức
mạnh đại đoàn kết toàn dân vì mục tiêu: "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ văn minh".
Dân chủ trực tiếp là hệ thống báo động nhạy cảm nhất, những thông
tin phản hồi nhanh nhất về hiệu lực, hiệu quả của các đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước. Giúp cho Đảng và Nhà nước kiểm nghiệm
lại đường lối, chính sách của mình một cách nhanh nhất, kịp thời sửa chữa, bổ
sung, khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, xa với thực tế, tăng cường mối
quan hệ giữa Đảng và nhân dân.
Tăng cường và hoàn thiện các chế độ thực hiện dân chủ của nhân dân
là việc làm lâu dài và thường xuyên của Đảng và Nhà nước để bảo đảm mỗi
bước phát triển của dân chủ phải được ghi nhận bởi các quy định của pháp
luật có tính chất mở đường định hướng cho sự phát triển của mỗi quốc gia,
dân tộc. Nhưng việc phát huy và mở rộng dân chủ phải phù hợp với trình độ


19



Phạm vi điều chỉnh của pháp luật (nói chung) là giới hạn điều chỉnh
của hệ thống pháp luật nhưng không phải là giới hạn chung cho tất cả các chế
định pháp luật và các ngành luật. Mỗi chế định pháp luật, mỗi ngành luật đều
có phạm vi điều chỉnh riêng, đó là những quan hệ xã hội cùng loại thuộc một
lĩnh vực của đời sống xã hội cần có sự điều chỉnh bằng pháp luật. Ví dụ: Luật
dân sự có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa tiền tệ và một số quan hệ nhân thân phi tài sản; luật hành chính có đối tượng
điều chỉnh chủ yếu là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện
chức năng quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước…
Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là một chế định pháp luật do vậy
nó cũng có đối tượng điều chỉnh riêng. Đối tượng điều chỉnh của Quy chế
thực hiện dân chủ ở cơ sở cũng được xác định trên cơ sở lý luận về đối tượng
điều chỉnh của pháp luật nói chung, nghĩa là Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ
sở chỉ điều chỉnh trong giới hạn xác định hoạt động của chính quyền cấp xã,
phường, thị trấn liên quan đến quyền dân chủ của công dân.
Hiện nay Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ban hành kèm theo Nghị
định 79/2003/NĐ-CP ngày 7/7/2003 của Chính phủ có phạm vi điều chỉnh gồm:
Thứ nhất: Những việc cần thông báo để nhân dân biết
Đây là những nội dung rất quan trọng đối với nhân dân nó liên quan
đến các quyền và lợi ích thiết thân của nhân dân trên các lĩnh vực chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội.
Chính quyền cấp xã có trách nhiệm phối hợp với ủy ban Mặt trận Tổ quốc
(MTTQ) Việt Nam, các thành viên của MTTQ Việt Nam cùng cấp và Trưởng
thôn để thông báo cho nhân dân biết những nội dung này bằng nhiều hình thức.
Thứ hai: Những việc nhân dân bàn và quyết định trực tiếp
Đây là những nội dung liên quan đến quyền lợi trực tiếp của nhân dân,
nhân dân có quyền quyết định trực tiếp những công việc này, phù hợp với


21

22

tín dị đoan, tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn giao thông, vệ sinh
môi trường, xây dựng nông thôn mới giàu đẹp, văn minh.
Xác định phạm vi điều chỉnh của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
có ý nghĩa hết sức quan trọng, một mặt giúp cho chính quyền thấy được
những nội dung công việc cụ thể phải thực hiện, mặt khác để người dân thực
hiện quyền dân chủ trong khuôn khổ của pháp luật tránh việc lợi dụng dân
chủ để gây mất đoàn kết nội bộ, phá rối trật tự công cộng hoặc có những hành
vi chống phá chính quyền nhân dân.
1.2.3. Vai trò của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
1.2.3.1. Vai trò của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở với việc
hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
Hệ thống pháp luật XHCN Việt Nam là tổng thể các quy phạm pháp luật
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, được quy định thành các chế định pháp luật,
các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà
nước ban hành theo những trình tự, thủ tục và hình thức nhất định [24, tr. 173].
Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở được ban hành kèm theo Nghị định số
29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 được sửa đổi thay thế bằng Quy chế thực hiện
dân chủ ở cơ sở ban hành kèm theo Nghị định 79/1998/NĐ-CP ngày 7/7/2003
là một chế định pháp luật hợp thành của hệ thống pháp luật Việt Nam. Sự ra
đời của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở đã góp phần hoàn chỉnh hệ thống
pháp luật, phù hợp với sự phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội của đất
nước trong thời kỳ mới. Bảo đảm nguyên tắc pháp chế XHCN là những quan
hệ xã hội quan trọng phải được điều chỉnh bằng pháp luật. Đồng thời, Quy
chế thực hiện dân chủ đã thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng là: Quyền
làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; tệ quan
liêu, mệnh lệnh cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân vẫn
đang phổ biến và nghiêm trọng mà chúng ta chưa đẩy lùi, ngăn chặn được.




24

của Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
các cấp vừa thực hiện tốt chế độ dân chủ trực tiếp ở cấp cơ sở để
nhân dân bàn bạc và quyết định trực tiếp những công việc quan
trọng thiết thực, gắn liền với lợi ích của mình. Phát huy dân chủ
phải gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao dân trí, tạo
điều kiện mở rộng dân chủ có chất lượng và hiệu quả [14, tr. 2].
Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ra đời đã có vai trò hết sức quan
trọng trong đời sống xã hội thể hiện trên các lĩnh vực.
* Trong lĩnh vực chính trị
Nhân dân có nhu cầu ổn định chính trị, an ninh, trật tự ở nơi mình sinh
sống làm điều kiện tiên quyết để an tâm sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh
tế, đời sống mọi mặt. Thực tiễn đã chỉ ra rằng, khi dân được cung cấp đầy đủ
thông tin, hiểu đúng đắn và đầy đủ chính sách pháp luật của Nhà nước và các
quyền cơ bản của mình, thì khi đó nhân dân giác ngộ và quyền dân chủ mới
được phát huy một cách lành mạnh và đúng hướng.
Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở đã cho nhân dân thấy được vai trò
làm chủ thực sự của mình, họ thực sự là chủ thể của quyền lực nhà nước, là
đối tượng kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước. Được tham gia tổ chức
và tự giác trong bầu cử trực tiếp ra các cơ quan nhà nước của mình (bầu Quốc
hội, HĐND các cấp). Được nâng cao dân trí, hiểu biết cơ bản về đường lối,
chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật, chính sách của Nhà nước để có
hiểu biết, có ý thức pháp luật, hiểu rõ quyền hạn, quyền lợi, trách nhiệm,
nghĩa vụ của công dân… một cách ngày càng rõ ràng đúng đắn. Được tham
gia bảo vệ Đảng, chính quyền bằng việc giám sát, kiểm tra, góp ý xây dựng,
phê bình… đối với đảng viên, cán bộ nhà nước và đoàn thể các cấp. Phát
hiện, ngăn chặn các biểu biểu hiện sai trái, tiêu cực. Được tham gia quản lý

nhiệm vụ và phương thức thực hiện các nhiệm vụ của chính quyền cơ sở một



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status