TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG, NHIỄM GIUN VÀ
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA TRẺ EM 12-36 THÁNG TUỔI TẠI HUYỆN
ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy dinh dưỡng protein năng lượng ở trẻ em vẫn phổ biến ở mức ý nghĩa
sức khỏe cộng đồng ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Bệnh không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển thể
chất mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển tinh thần, trí tuệ của trẻ. Về mặt xã hội, suy dinh dưỡng gây nhiều thiệt hại về kinh tế, kìm
hãm phát triển kinh tế bởi nó trực tiếp ảnh hưởng tới
nguồn nhân lực, ảnh hưởng tới giống nòi.
Theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng từ năm 2000-2009, tỷ lệ SDD trẻ em đã giảm đi một cách rõ rệt, nếu như
năm 2000 tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi là 33,8% (theo chỉ tiêu cân nặng theo tuổi) thì tới năm 2009 đã giảm chỉ còn 18,9%
[13]. Tuy nhiên, theo điều tra theo dõi tỷ lệ SDD trẻ em các tỉnh năm 2009 của Viện Dinh Dưỡng cho thấy có sự khác nhau
nhiều về tỷ lệ SDD trẻ em giữa các vùng sinh thái trên cả nước. Trong đó, tỷ lệ SDD khu vực miền núi luôn cao hơn đồng
bằng, nông thôn cao hơn thành thị, những vùng bị hạn hán, lũ lụt có tỷ lệ SDD cao hơn các vùng khác. Trong khi một số tỉnh
đồng bằng tỷ lệ SDD đã giảm xuống mức thấp như thành phố HCM (5,3%), Hà Nội (12,6%)... thì nhiều khu vực miền núi tỷ lệ
SDD vẫn ở mức rất cao như Kon Tum (29,5%), Đắc Nông (29,4%), Lai Châu (27,8%), Quảng Bình (25,9%)… [13]. Sự chênh
lệch ở mức từ 2-4 lần giữa miền xuôi và miền núi cho thấy mức độ trầm trọng của SDD trẻ em khu vực miền núi.
Đakrông là một huyện miền núi vùng cao biên giới phía Tây Nam của tỉnh Quảng Trị, là nơi có nhiều đồng bào các
dân tộc sinh sống trong đó chủ yếu là dân tộc Vân Kiều và Pakoh (chiếm 82%, theo số liệu cục thống kê tỉnh Quảng Trị). Đời sống
kinh tế của người dân ở đây còn gặp nhiều khó khăn. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em ở vùng này rất cao. Theo một đánh giá về tình
trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 2 tuổi được thực hiện tại Đakrông và
3
Các thời kỳ phát triển của trẻ em và các đặc điểm sinh học cơ bản
của trẻ dưới 3 tuổi:
1.1.1. Cách phân chia các thời kỳ:
Cơ thể trẻ em có những đặc điểm riêng về cấu tạo và sinh lý. Từ lúc thụ thai đến tuổi trưởng thành trẻ phải trải qua hai hiện
tượng: trước hết là sự tăng trưởng, phát triển về số lượng và kích thước của tế bào ở các mô; sau đó là sự trưởng thành về cấu trúc,
chức năng các cơ quan.
Quá trình lớn lên và phát triển của trẻ có tính chất toàn diện, cả về thể chất, tâm thần và vận động. Mỗi giai đoạn có
những đặc điểm riêng về bệnh lý và sinh lý.
Sự phân chia các thời kỳ (giai đoạn) của trẻ em là một thực tế khách quan, nhưng ranh giới giữa các giai đoạn không
rõ ràng và có sự khác biệt đối
với từng đứa trẻ, giai đoạn trước chuẩn bị cho giai đoạn sau.
Theo WHO trẻ em bao gồm từ 0 đến 18 tuổi, được phân chia cụ thể như
sau [30]:
-
Sơ sinh (newborn): từ lúc sinh đến 1 tháng
-
Trẻ bú mẹ (infant): 1 đến 23 tháng
Trẻ tiền học đường (preschool child): 2 đến 5 tuổi Trẻ em nhi đồng (child): 6 đến 12
tuổi
Trẻ vị thành niên (adolescent): 13 đến 18 tuổi
-
Chế độ ăn của trẻ có 60-65% kcal từ glucid, chủ yếu từ ngũ cốc, khoai
củ, một số loại rau củ…
6
Ở
lứa tuổi này hàng ngày cần cung cấp 400-500mg canxi, là chất khoáng
rất cần cho sự tạo xương, tạo răng, tạo máu và các hoạt động chức năng sinh lý của cơ thể. Trẻ cần 6-7mg sắt mỗi ngày cho sự
tạo máu và tham gia vào thành phần nhiều men quan trọng trong cơ thể [14].
Mọi vitamin đều cần thiết cho trẻ, trong đó cần chú ý cung cấp đủ
vitamin A (400µg) và vitamin C (35mg) là những vitamin rất cần cho sự phát triển bình thường của trẻ, cần cho sự tạo máu, tăng
cường sức chống đỡ với
bệnh tật [11].
Số bữa ăn trong ngày nên từ 4-5 bữa, với chế độ ăn riêng của trẻ, các
thức ăn mềm và tập dần cho trẻ ăn từng loại thức ăn từ ít đến nhiều, cho đến thức ăn hỗn hợp.
1.2.
Tình hình SDD protein năng lượng của trẻ em
1.2.1. Tình hình SDD protein năng lượng trên Thế giới:
Theo báo cáo của UNICEF công bố ngày 2/5/2006 cho thấy hơn 1/4 trẻ
em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển ở tình trạng SDD nhẹ cân, cuộc sống đang bị đe doạ. Dinh dưỡng không đầy đủ
(%)
(%)
(%)
Banglades
56
55
18
Việt nam
34
36
8
Thái Lan
19
16
6
13
Trung Quốc
10
17
11
Theo báo cáo của UNICEF
(Quĩ Nhi đồng của Liên Hiệp Quốc) năm
2007, trên thế giới có khoảng 146 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng
thể nhẹ cân, phần lớn tập trung ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh. Trong số này có khoảng 2 triệu trẻ em từ Việt Nam.
Theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng Quốc gia năm 2007, số trẻ em dưới 5 tuổi ở nước ta có khoảng 9,4 triệu, có
đến 2 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thiếu cân (chiếm 21,2%) [13]. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
và lần thứ X đã đề ra chỉ tiêu giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng xuống dưới 20% vào năm 2010 [29]. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em tuy có
xu
8
hướng giảm, nhưng vẫn còn khoảng 1/3 trẻ em cơ thể trong tình trạng kém
phát triển. Con số này đặt nước ta vào số 36 nước có tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng cao nhất thế giới, và đó là một vấn đề y tế
công cộng rất lớn.
1.2.1 Tình hình SDD protein năng lượng trẻ em tại Việt Nam
Suy dinh dưỡng protein năng lượng ở trẻ em Việt Nam còn là một thách thức quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng và
30
33,9
32,0
26,6
32,6
31,9
30,7
31,9
29,6
28,4
29,3
25,2
23,4
25
21,2
19,9
2008
2009
2010
Biểu đồ 1.1. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam qua các
năm 1999-2010 [13].
Tháng 10/1999, Trương Thị Sương và cộng sự tiến hành khám lưu động cho 5.084 trẻ em, trong đó có 1.906 trẻ dưới 5
tuổi tại 18 xã thuộc 9 huyện
của tỉnh Quảng Nam cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng là 42,47%, trong đó suy
9
dinh dưỡng nặng và rất nặng chiếm 11,38%. Nhóm tuổi có tỷ lệ suy dinh
dưỡng thấp nhất là từ 0-12 tháng, nhóm có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao nhất là từ
24-36 tháng (56,0%) [35].
Kết quả điều tra trên 749 trẻ từ 0-60 tháng tuổi của Đinh Văn Thức và cộng sự tại hai xã Đặng Cương và Quốc Tuấn, huyện
An Hải, Hải Phòng năm 2000 cho thấy tỷ lệ SDD thể thấp còi chiếm 42,32%, thể nhẹ cân là 4,41% và thể gày mòn là 2,80%. Tỷ lệ
SDD cao nhất ở nhóm tuổi 13-24 tháng (42,76%), thấp nhất ở nhóm 0-12 tháng tuổi (23,42%) [38].
Qua cuộc tổng điều tra về dinh dưỡng năm 2000 cho thấy, tỷ lệ SDD trẻ dưới 5 tuổi còn có sự chênh lệch giữa các nhóm tuổi
khác nhau [8]: tỷ lệ SDD ở nhóm trẻ dưới 12 tháng tuổi là thấp nhất đối với cả 3 thể ( thể nhẹ cân, thể thấp còi, thể gầy còm), sau đó
tăng lên nhanh ở cả 3 chỉ tiêu cho tới 2-3 tuổi và tiếp tục duy trì ở mức cao trong những năm tiếp theo. Điều đó cho thấy tỷ lệ
SDD trẻ em dưới 5 tuổi ở cả 3 chỉ tiêu (CN/T, CC/T, CN/CC) đều đã giảm nhưng các đặc điểm SDD ở trẻ em nước ta đã được nghiên
25
1
2 05
S D D H /A ( % )
12 .2
12 .9
9 .2
8 .8
8 .5
10
S D D W /H ( % )
6
5
T h á n g tu ổ i
0
≤ 12
Thể nhẹ cân
[11]
Thể thấp còi
Thể gầy còm
Tên vùng
Toàn quốc
18,9
31,9
6,9
Đồng bằng sông Hồng
16,7
27,8
6,6
Tây Bắc
24,6
35,7
39,2
7,3
Đông Nam Bộ
16,4
18,1
6,8
Đồng bằng sông Cửu Long
18,7
19,1
6,7
Có sự khác biệt khá lớn về tỷ lệ SDD trẻ em ở thành thị và nông thôn.
Điều này lý giải bởi sự bất cập trong việc tiếp cận dịch vụ Y tế, trình độ dân trí và khoảng cách giàu nghèo giữa khu
vực nông thôn, miền núi so với các
thành phố lớn và các khu đô thị.
11
Bảng 1.3. Tỷ lệ SDD trẻ em theo khu vực - Năm 2005 [7]
25,2
29,6
6,9
Phương pháp đánh giá tình trạng SDD trẻ em :
1.
Khái niệm :
Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các vi chất dinh dưỡng. Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới
5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức
độ khác nhau, nhưng ít nhiều đều có ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất, tinh thần và vận động của trẻ [30].
2.
Các chỉ tiêu đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em
Hiện nay có 4 nhóm chỉ tiêu được dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em [24]:
-
Điều tra khẩu phần và tập quán ăn uống.
Thăm khám thực thể để phát hiện các dấu hiệu lâm sàng của bệnh tật có liên quan đến ăn uống.
Các chỉ tiêu nhân trắc.
Các xét nghiệm hóa sinh.
Trong đó 2 nhóm chỉ tiêu được sử dụng nhiều nhất là nhân trắc và điều
mức độ thiếu ăn và nhiễm khuẩn là hai nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.
1.3.3. Cách phân loại suy dinh dưỡng 1.3.3.1. Phân loại theo
Gomez (1956)
Là phân loại được dùng sớm nhất, nó chỉ dựa trên chỉ só cân nặng theo tuổi và sử dụng quần thể tham khảo
Tiêu chuẩn
Mức độ SDD
Từ 70%-90% của cân nặng chuẩn
SDD độ I
Từ 60%-75% của cân nặng chuẩn
SDD độ II
Từ dưới 60% của cân nặng chuẩn
SDD độ III
Cách phân loại này không phân biệt giữa SDD cấp hay mãn cũng như
giữa Marasmus và Kwashiorkor bởi vì cách phân loại này không đánh giá tới chiều cao.
13
1.3.3.2. Phân loại theo Wellcome (1970)
Cân nặng (%) so với chuẩn
Trên
Dưới
Bình thường
Thiếu DD thấp còi
Thiếu DD gầy còm
Thiếu DD nặng kéo dài
Thiếu dinh dưỡng gầy còm là thiếu dinh dưỡng cấp tính. Thiếu dinh
dưỡng thấp còi là biểu hiện thiếu dinh dưỡng trường diễn và đã chịu thiếu dinh dưỡng từ lâu.
1.3.3.4. Phân loại theo WHO 2005:
SDD trong cộng đồng được chia thành 3 thể: SDD nhẹ cân, SDD thấp còi và SDD gày còm [50].Theo khuyến nghị
của Tổ chức Y tế thế giới, các
chỉ tiêu thường dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng là cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T), cân nặng theo
chiều cao (CN/CC). Suy
dinh dưỡng được ghi nhận khi các chỉ tiêu nói trên thấp hơn hai độ lệch chuẩn (< -2SD) so với quần thể tham chiếu NCHS
(National Center For Health
Statistics) của Hoa Kỳ [49]. Đây là cách phân loại đơn giản cho phép đánh giá nhanh các mức độ SDD và có thể áp dụng rộng rãi
trong cộng đồng.
14
Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng quần thể tham chiếu NCHS để đánh
giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em không phù hợp với thực tế vì vậy để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ
năm 2006 WHO đưa ra “chuẩn tăng trưởng mới ở trẻ em” và đề nghị áp dụng trên toàn thế giới [51]. Dựa vào các chỉ tiêu
nhân trắc: tuổi, giới, cân nặng, chiều cao đo được và số trung bình của quần thể tham chiếu WHO 2005 để tính toán các
< 20
20-29
30-39
≥ 40
Nhẹ cân ( Underweight)
< 10
10-19
20-29
≥ 30
10-15
≥ 15
Chỉ tiêu
Gầy còm ( Wasting )
1.4.
Tình hình nhiễm giun của trẻ em trên Thế giới và ở Việt Nam
1.4.1. Tình hình nhiễm giun của trẻ em trên thế giới
Nhiễm giun là bệnh thường gặp nhất ở người, hay gặp ở các nước nhiệt
đới, phần lớn các nước đang phát triển là vùng nhiễm kí sinh trùng. Theo thống kê của WHO 2002, có đến 230 triệu
trẻ em từ 0-4 tuổi bị nhiễm giun, vùng bị nhiễm nhiều nhất là vùng châu Á, Trung quốc, Ấn độ và sa mạc Sahara
[18].
Năm 1997 tại Ấn Độ, Awashi. S và cộng sự nghiên cứu 1061 trẻ em từ
18-42 tháng tuổi thấy tỷ lệ nhiễm kí sinh trùng đường ruột là 17,5%, trong đó nhiễm giun đũa chiếm 68,1% [34]. Tại Kenya, Olsen A
và cộng sự cho thấy 16% trẻ nhiễm giun đũa, 63% nhiễm giun móc và 24% nhiễm giun tóc [25].
Bệnh giun đũa rất phổ biến trên thế giới, có mặt hầu hết các châu lục, Châu Á có tỷ lệ nhiễm giun đũa cao nhất,
khoảng 70%; Châu Phi là 32,32%; các nước Châu Mỹ có tỷ lệ nhiễm khoảng 8%. Tình trạng nhiễm giun đũa ở trẻ em tại một số
nước Đông Nam Á: Thủ đô Kuala Lumpur có tỷ lệ nhiễm giun 15,5%, ở Sulawesi có tỷ lệ nhiễm 59,8%, Sukaraja có tỷ lệ nhiễm
44%, Philippin có tỷ lệ nhiễm 70,6%
Do tính chất sinh thái giống nhau giữa giun tóc và giun đũa nên các vùng có bệnh giun đũa đều có bệnh giun tóc. Bệnh
giun tóc phổ biến ở các vùng nhiệt đới Châu Phi và vùng Đông Nam Á [1]. Ở
Guatemala tỷ lệ trẻ em nhiễm giun tóc là 82%. Ở
Jamaicar, tỷ lệ trẻ em nhiễm giun tóc là 38,3%,
Indonesia có tỷ lệ nhiễm từ 54,9%-76,0%. Tỷ lệ nhiễm ở trẻ em Philippin là
85,0%.
Bệnh giun móc cũng gặp ở hầu hết các nước trên thế giới, nhưng chủ yếu ở các nước nhiệt đới như Nam Mỹ, Châu Phi,
Nam Á, Đông Nam Á và một số nước Châu Âu. Các nước khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ nhiễm phục thuộc vào từng nước,
từng khu vực: Thái Lan là 40.56%, Indonesia năm 1980 là
em dưới 5 tuổi tại Thái Bình tỷ lệ nhiễm giun
đũa là 77,4%, giun tóc 30,1%, giun móc 1,07% [18] ; Đỗ Thị Đáng nghiên
cứu ở huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa ở trẻ 6 tháng đến 15 tuổi là 87% - 89%, giun tóc 78% 80% và giun móc 20% [5].
18
1.4.3. Đặc điểm sinh học, tác hại đối với sức khỏe và bệnh tật trẻ em của
một số loại giun thường gặp
1.4.3.1. Đặc điểm sinh học của một số loại giun thường gặp
Giun đũa (Ascaris Lumbricoides) là một loại giun lớn, có hình thể dài và to như chiếc đũa [32]. Bệnh giun đũa gây tác hại
tiềm tàng do khả năng chiếm thức ăn của chúng ở ruột non. Ngoài việc chiếm protein của cơ thể, giun đũa
còn gây ra rối loạn các chức năng về tiêu hóa và dinh dưỡng. Do đó ảnh hưởng đến thể lực, tuổi thọ của mỗi người, đặc
biệt làm giảm khả năng phát
triển thể lực và trí tuệ của trẻ em [32]
Giun móc/mỏ gây bệnh ở người chủ yếu do hai loài
giun
tròn
nhỏ
thuộc họ Ancylostomide
là giun móc
trẻ em hay gặp
các triệu chứng như: gầy còm, bụng chướng, biếng ăn, co giật, ứa nước bọt, đó là những triệu chứng nhiễm
độc thần kinh do độc tố của giun gây ra. Biểu hiện suy dinh dưỡng ở trẻ em
nhiễm giun thường kéo dài, cân nặng và tốc độ phát triển thể lực của trẻ em nhiều khi rất thấp [32], [37].
Giun móc không những gây ra tình trạng thiếu máu mà còn làm giảm Vitamin A, B1, C... và giảm protein. Kết quả
nghiên cứu bằng đồng vị phóng xạ cho thấy: hiện tượng giảm protein trong bệnh giun móc vừa do mất máu vừa do rối loạn
hấp thu [2]. Như vậy hậu quả nghiêm trọng nhất của nhiễm giun móc là sự mất máu mãn tính từ tá tràng đến ruột non làm giảm
dự trữ sắt của cơ thể và phát sinh bệnh thiếu máu, thiếu sắt và cũng có thể mất protein huyết thanh dẫn đến giảm Albumin nghiêm
trọng. Ở
trẻ em nhiễm giun móc nhiều và kéo dài có thể làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể như: chậm lớn, còi cọc, chậm
phát triển về tinh thần và trí tuệ [32].
Giun tóc ký sinh ở đại tràng, manh tràng, phần đầu của giun tóc cắm sâu vào niêm mạc ruột gây tổn thương tế bào, làm
rối loạn chức năng ruột và
20
viêm ruột. Hậu quả gây ra những triệu chứng rối loạn tiêu hóa, đau bụng, đi
ngoài... Vì giun tóc hút máu nên những trường hợp nhiễm nặng thường bị
thiếu máu nhược sắc, hồng cầu giảm [21], [31].
Theo WHO, số dân của Việt Nam là 70 triệu, tỷ lệ nhiễm trong dân là 80% nhiễm giun đũa, 52% nhiễm giun Tóc và 32%
giun Móc. Mỗi người Việt Nam trung bình có 8 con giun đũa, 22 con giun tóc và 17 con giun móc. Như vậy, trong một năm tác hại do
giun như sau: giun đũa tiêu thụ 28.616 tấn gạo; 31,8 tấn thịt; giun tóc tiêu thụ 1.461.460 lít máu; giun móc tiêu thụ
27.798.400 lít máu [50].
Năm 1998, UNICEF đã phát triển mô hình nguyên nhân suy dinh dưỡng.
Một số tổ chức khác cũng đã có những mô hình nguyên nhân - hậu quả SDD riêng, hoặc phát triển mô hình mới dựa trên mô hình của
UNICEF.
Mô hình nguyên nhân của SDD thiếu protein, năng lượng ở trẻ em dưới
5 tuổi cho thấy, suy dinh dưỡng là do tác động của nhiều yếu tố, có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề y tế, lương thực-thực phẩm
và thực hành chăm sóc trẻ tại hộ gia đình. Mô hình chỉ ra các nguyên nhân ở các cấp độ khác nhau: nguyên nhân trực tiếp,
nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân sâu xa và các yếu tố ở cấp độ này ảnh hưởng đến cấp độ khác.
Nguyên nhân trực tiếp của SDD trẻ em gồm ăn uống không hợp lý và bệnh tật:
- Các yếu tố về dinh dưỡng/chế độ ăn :
Các số liệu điều tra riêng về khẩu phần ăn của người lớn và trẻ em cho thấy chế độ ăn đóng vai trò quan
trọng dẫn tới tình trạng suy dinh dưỡng ở
Việt Nam. Nhìn chung, khẩu phần ăn ở cả người lớn và trẻ em nước ta còn ở
22
mức thấp so với các nước trong khu vực [34]. Đối với trẻ em trên 2 tuổi thì
hầu hết các gia đình cho trẻ ăn cơm cùng bữa cơm với gia đình, nhưng số bữa ăn hàng ngày thấp (trung bình 3 bữa/ngày). Ngay ở
nhóm trẻ 24-36 tháng tuổi cũng chỉ có 17,5% được ăn 3 bữa/ ngày. Tần xuất xuất hiện các thực phẩm như thịt, cá, trứng, sữa
trong bữa ăn của trẻ thấp, thường do điều kiện kinh tế gia đình hoặc do hiểu biết của bà mẹ về chăm sóc dinh dưỡng trẻ em còn quá
hạn chế [34].
- Bệnh nhiễm trùng :
Vòng xoắn bệnh lý giữa các bệnh nhiễm trùng ở trẻ em và SDD đã được chứng minh. Bệnh nhiễm trùng dẫn đến SDD, SDD
dẫn đến bệnh nhiễm trùng
và vòng xoắn bệnh lý cứ thế tiếp diễn nếu không có can thiệp hoặc xử trí phù hợp.
khẩu phần ăn của trẻ không được đảm bảo. Chính điều này lại tạo nên vòng luẩn quẩn của đói nghèo khó giải quyết.
1.5.2. Nguyên nhân, yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm giun của trẻ
e
m
Các nước khí hậu nhiệt đới rất thuận tiện cho sự sinh trưởng và phát triển của giun truyền qua đất và các nước có nền kinh tế
chậm phát triển, điều kiện
vệ sinh môi trường còn thấp thì tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất cao hơn. Việt Nam là nước có nhiều điều kiện thuận lợi cho bệnh giun
truyền qua đất tồn tại và phát triển.
Từ những năm 60, cả nước ta đã có phong trào “ba sạch, ba diệt”, việc
xây dựng những công trình vệ sinh an toàn đã góp phần làm giảm tỷ lệ bệnh giun sán và bệnh đường tiêu hoá. Theo nghiên cứu
của Bộ Nông nghiệp và
24
Phát triển nông thôn, hố xí hai ngăn là loại hố xí phù hợp nhất với vùng nông
thôn đồng bằng Bắc Bộ. Hố xí dội thấm nước tuy cũng diệt được mầm bệnh GTQĐ, nhưng có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước.
Giáo dục sức khoẻ có vai trò quan trọng trong phòng chống bệnh giun truyền qua đất. Giáo dục sức khoẻ nhằm tăng
cường lối sống vệ sinh, lành mạnh, nâng cao kiến thức vệ sinh phòng bệnh của người dân. Mascie - Taylor (1999) thấy giáo dục sức
khoẻ (cải thiện vệ sinh cá nhân, đi dép, rửa tay, dùng hố xí sạch) là biện pháp phòng bệnh GTQĐ hiệu quả và ít tốn kém nhất [55].
Nghiên cứu của Lê Nguyễn Bảo Khanh và CS (1998) cho thấy thực hiện tăng cường giáo dục kiến thức phòng bệnh giun sán cho học
sinh tiểu học đã làm giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm giun truyền qua đất [56]. Tuy nhiên, để giáo dục sức khoẻ đạt hiệu quả, đòi hỏi phải có
sự lồng ghép và liên kết nhiều chương trình y tế với sự tham gia của cộng đồng, trường học, các đoàn thể xã hội và các chuyên gia
truyền thông. Chỉ có các biện pháp vệ sinh môi trường mới đảm bảo tính an toàn và hiệu quả lâu dài của chương trình phòng
chống GTQĐ.
Trẻ em từ 12 đến 36 tháng tuổi trên địa bàn nghiên cứu.
•
Bà mẹ của trẻ có con từ 12-36 tháng tuổi (mẹ của những trẻ đã
được chọn) đang có mặt tại địa bàn trong thời gian nghiên cứu).
2.2.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
-
Trẻ: trong độ tuổi 12-36 tháng có mặt tại thời điểm và trên địa bàn nghiên
cứu đó được lựa chọn. Trẻ không bị mắc các bệnh bẩm sinh, các bệnh mạn tính, hiện tại không mắc các bệnh cấp tính.
-
Bà mẹ: là mẹ của các trẻ được lựa chọn, không bị tâm thần, không bị rối loạn
trí nhớ và hợp tác.