Luận văn đánh giá sự suy thoái và khả năng phục hồi hệ sinh thái đầm phá tam giang cầu hai, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-------------------------------

Đỗ Văn Mười

ĐÁNH GIÁ SỰ SUY THOÁI VÀ KHẢ NĂNG PHỤC HỒI HỆ SINH
THÁI ĐẦM PHÁ TAM GIANG - CẦU HAI, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 42 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Nguyễn Văn Quân
PGS.TS. Lê Thu Hà

Hà Nội


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn
Văn Quân, phó viện trưởng Viện Tài nguyên và Môi trường Biển - Viện Hàn lâm
Khoa học và Công nghệ Việt Nam và PGS.TS. Lê Thu Hà, phó chủ nhiệm Khoa
Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, những
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua.
Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi nhận được sự giúp
đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi của Lãnh đạo Viện Tài nguyên và Môi trường
Biển, sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ, viên chức Phòng Bảo tồn và Đa
dạng Sinh học biển, cán bộ và nhân viên phòng Thí nghiệm Sinh thái học và Sinh

1.2.2. Đặc điểm tự nhiên......................................................................................6
1.2.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội.........................................................................10
1.3. Tổng quan về chất lượng môi trường nước vùng Tam Giang - Cầu Hai.......13
1.3.1. Nhiệt độ nước...........................................................................................13
1.3.2. Giá trị pH..................................................................................................13
1.3.3. Độ mặn (SAL)..........................................................................................13
1.3.4. Độ đục.......................................................................................................14
1.3.5. Đặc điểm dinh dưỡng...............................................................................14
1.3.6. Hàm lượng oxy hòa tan, BOD, COD.......................................................16
1.4. Tổng quan về những nghiên cứu đã có tại đầm phá Tam Giang - Cầu Hai...18
1.4.1. Tình hình nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn..................................18
1.4.2. Tình hình nghiên cứu hệ sinh thái cỏ biển...............................................20
CHƯƠNG II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........................22
2.1. Địa điểm và đối tượng nghiên cứu..................................................................22

i


2.1.1. Địa điểm nghiên cứu................................................................................22
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu...............................................................................22
2.2. Thời gian nghiên cứu.......................................................................................22
2.3. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................22
2.3.1. Phương pháp kế thừa tài liệu....................................................................22
2.3.2. Phương pháp điều tra thực địa.................................................................23
2.3.3. Phương pháp phân tích mẫu, phân tích số liệu........................................23
2.3.4. Phương pháp điều tra, phỏng vấn............................................................25
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN..................................27
3.1. Đa dạng sinh học hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai.....................................27
3.1.1. Đa dạng hệ sinh thái.................................................................................27
3.1.2. Đa dạng quần xã sinh vật.........................................................................34

KIẾN NGHỊ............................................................................................................86
PHỤ LỤC......................................................................................................................a

iii


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt
BOD
COD
DO
FAO
IMOLA
nnk
NXB
QCVN
STT
TVNM
UB KH&KT
UBND
WWF

Nội dung
Nhu cầu ôxy sinh hóa
Nhu cầu ôxy hóa học
Lượng ôxy hòa tan trong nước
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc
Dự án Quản lí tổng hợp hoạt động đầm phá Thừa Thiên Huế
nhiều người khác

DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Lược đồ địa hình hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai..................................7
Hình 1.2. Diễn biến hàm lượng BOD trong nước khu vực đầm phá Tam Giang Cầu Hai theo thời gian................................................................................................17
Hình 1.3. Diễn biến hàm lượng COD trong nước khu vực đầm phá Tam Giang Cầu Hai theo thời gian................................................................................................18
Hình 2.4. Sơ đồ các trạm khảo sát mặt rộng tại đầm phá Tam Giang - Cầu Hai......24
Hình 2.5. Sơ đồ vị trí khảo sát tại đầm phá Tam Giang - Cầu Hai...........................26
Hình 3.6. Lược đồ phân bố các hệ sinh thái đầm phá Tam Giang - Cầu Hai...........28
Hình 3.7. Sơ đồ phân bố các thảm cỏ biển Tam Giang - Cầu Hai............................29
Hình 3.8. Sơ đồ vị trí phân bố thảm thực vật ngập mặn tại xã Hương Phong, thị xã
Hương Trà...................................................................................................................31
Hình 3.9. Bãi triều cát ven đầm Thanh Lam được trồng thử nghiệm đước vòi........31
Hình 3.10. Đồng lúa ven đầm Thủy Tú được sử dụng trồng cây hoa màu hoặc bỏ
hoang vào mùa khô.....................................................................................................32
Hình 3.11. Các đầm nuôi thủy sản ở đầm Sam và phá Tam Giang...........................33
Hình 3.12. Đầm lầy ở Rú Chá được cải tạo để nuôi trồng thủy sản..........................34
Hình 3.13. Tỉ lệ thành phần loài trong các lớp thực vật phù du................................36
Hình 3.14. Biến động phân bố số loài trên các trạm mặt rộng theo mùa..................36
Hình 3.15. Biến động phân bố số loài động vật phù du các mặt cắt theo mùa.........38
Hình 3.16. Biến động số lượng cá thể động vật phù du theo mùa............................39
Hình 3.17. Tỉ lệ thành phần loài trong các nhóm động vật đáy................................40
Hình 3.18. So sánh mật độ động vật đáy ở các tiểu vùng sinh thái năm 2007.........42
Hình 3.19. Tỉ lệ thành phần loài trong các ngành rong biển.....................................43
Hình 3.20. Khai thác rong biển trên đầm Thủy Tú....................................................44
Hình 3.21. Lược đồ phân bố các loài cỏ biển ở đầm phá Tam Giang - Cầu Hai......45
Hình 3.22. Thảm TVNM ở xã Hương Phong, thị xã Hương Trà..............................47
Hình 3.23. Biến động diện tích các thảm cỏ biển đầm phá Tam Giang - Cầu Hai tại
các điểm khảo sát qua một số giai đoạn.....................................................................52
Hình 3.24. Hệ thống ao nuôi thủy sản dày đặc trên đầm Thủy Tú............................54

vi

bởi một hoặc vài cửa [12].
Các đầm phá ven biển là một loại hình thủy vực rất tiêu biểu ở dải ven bờ
miền Trung nước ta. Ở đây có tất cả 12 đầm phá với tổng diện tích khoảng 447,8
km2, lớn nhất là hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai rộng tới hơn 216 km 2, nhỏ nhất
là đầm Nước Mặn với khoảng 2,8 km2.
Đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là một hệ thống các đầm nối với nhau từ Bắc
xuống Nam là phá Tam Giang, đầm Sam, đầm Hà Trung, đầm Thủy Tú, đầm Thanh
Lam, đầm An Truyền và đầm Cầu Hai chạy dài qua địa phận năm huyện, thị xã của
tỉnh Thừa Thiên Huế gồm Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang và Phú
Lộc. Giữa đầm phá và biển ngăn cách bởi các đồi cát cao, có nơi cao đến trên 20m.
Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai nằm cách cố đô Huế khoảng 7 km về phía Đông
Bắc, ở tọa độ địa lý 16°42′ - 16°14′ B và 107°22′ - 107°57′ Đ, kéo dài gần 70 km
dọc từ huyện Phong Điền đến huyện Phú Lộc với tổng diện tích khoảng 21.620 ha,
nơi rộng nhất có thể đạt đến 10 km và hẹp nhất dưới 1km. Đầm phá Tam Giang Cầu Hai được nối liền với Biển Đông bởi cửa Thuận An ở phía Bắc và cửa Tư Hiền
ở phía Nam. Tại đây chứa đựng hàng trăm loài động vật, thực vật có giá trị kinh tế,
tạo ra hàng nghìn tấn sản phẩm góp phần nuôi sống trên 500.000 người dân sống ở
5 huyện xung quanh đầm phá [16]. Sự khai thác các nguồn lợi tự nhiên và tiến hành
nuôi trồng thủy, hải sản trong không gian đầm phá phục vụ cho sự phát triển kinh tế
- xã hội là điều hiển nhiên. Nhưng sự khai thác quá mức hoặc khai thác không theo
một kế hoạch quản lý phù hợp dẫn đến cạn kiệt một số loài sinh vật có giá trị kinh
tế cao như: cua bùn, cá mú, cá dìa, tôm he,… là vấn đề cần bàn đến.
Những hậu quả của các tác động đó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của
dân cư ven đầm phá, không những thế, nó còn tác động ngược trở lại với sự phát
triển của các nghề nuôi trồng và khai thác thủy sản trong đầm. Mặt khác, việc khai
khác các nguồn lợi thủy, hải sản cùng với ô nhiễm môi trường vùng đầm phá Tam

1


Giang - Cầu Hai do tác động của con người cũng ảnh hưởng rất lớn môi trường

nhau với độ lớn, hình thái cấu trúc, xu thế phát triển, tiến hóa khác nhau, dẫn đến
các điều kiện sinh thái - sinh học khác nhau. Việc phân chia các kiểu đầm phá dựa
trên sự phân dị của các đặc điểm trên, trên cơ sở sự thống nhất tương đối của tính
chất chung của thủy vực đầm phá, trong đó đặc điểm chủ yếu là chế độ thủy văn của
đầm phá phụ thuộc vào khả năng trao đổi nước giữa đầm phá và biển, vào cân bằng
nước diễn ra trong đầm phá giữa khối nước sông và khối nước biển, liên quan tới vị
trí độ lớn của cửa mở đầm phá ra biển và các cửa sông đổ vào đầm phá [8,9].
Dải ven biển Việt Nam có một hệ thống đầm phá tập trung chủ yếu ở ven
biển miền Trung, phân bố từ vĩ độ 16°B tới 11°B, từ Thừa Thiên - Huế tới Bình
Thuận. Các đầm phá tiêu biểu là Tam Giang - Cầu Hai, Lăng Cô (Thừa Thiên Huế), Trường Giang, An Khê, Nước Mặn (Quảng Ngãi), Trà Ổ, Nước Ngọt, Thị
Nại (Bình Định), Cù Mông, Ô Loan (Phú Yên), Thủy Triều (Khánh Hoà), Nại
(Ninh Thuận) [11,24].

3


Việc phân loại các đầm phá ở Việt Nam chỉ mới được đề cập tới trong những
nghiên cứu gần đây (Trần Đức Thạnh và nnk, 1995) [24,28]. Kết hợp giữa các tiêu
chuẩn lý luận và thực tiễn, vận dụng các phương pháp đã được sử dụng trên thế giới
(Nichols và Allen, 1981), chú trọng đặc điểm, trạng thái cửa mở và chế độ thủy văn
đầm phá, bước đầu có thể phân chia các đầm phá ven biển miền Trung nước ta
thành hai loại (bảng 1.1).
Bảng 1.1. Vị trí phân loại đầm phá miền Trung Việt Nam trong hệ thống phân
loại đầm phá ven biển của thế giới
Phân loại chung đầm phá

Tên đầm phá

ven biển thế giới
Kiểu đầm phá gần kín

quả thu được từ hai đợt khảo sát bổ sung và kiểm tra từ 2013 - 2014 cho thấy môi
trường tự nhiên hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai có thể chia thành 4 khu vực chính
có đặc trưng môi trường thuỷ hoá và trầm tích khác nhau, tạo nên sự phân bố và
phát triển khác nhau cho các hệ sinh thái trong toàn đầm phá.
- Khu vực phá Tam Giang: với diện tích 5200 ha với các lạch triều sâu dần về
phía cửa Thuận An và cồn cát nhỏ hai bên bờ. Đó là các bãi cỏ nước, cỏ biển tuy
không lớn (chỉ vài chục ha) song có chất lượng tốt như các khu vực Cồn Sáo, Cồn
Đĩnh, Cồn Đâu, Cồn Tè, Hải Tiến, Hải Dương. Cùng với các thảm cỏ biển, các đầm
nuôi trồng thủy sản được xây dựng trên vùng triều ven đầm phá và các lạch nước
dưới triều.
- Khu vực đầm Sam: địa hình tương đối bằng phẳng với diện tích khoảng 1620 ha,
sâu 1,5 m ở phía Hoà Duân, 0,5 m phía Phú An, Phú Thuận, Phú Hải và lạch triều
ngầm sâu 4-5m phía cửa Thuận An. Trầm tích nền đáy chủ yếu là bùn cát cùng với
độ muối từ 7-10‰ trong mùa mưa và 18-20‰ trong mùa khô, ổn định hơn các khu
vực khác đã tạo điều kiện cho cỏ biển phát triển thành các thảm khá lớn tới hàng
trăm ha. Trên vùng triều rộng lớn khu Đầm Sam - Cồn Hợp Châu là các khu đầm
nuôi trồng thủy sản dày đặc.
- Khu vực đầm Thuỷ Tú: có diện tích khoảng 3600 ha, là một lạch triều ngầm sâu
trung bình 2m, tạo ra thảm cỏ biển khá lớn tại các khu vực Phú Xuân, Vinh Xuân,
Vinh Thanh. Ven đầm Thủy Tú là hệ thống dày đặc các đầm nuôi trồng thủy sản và
các ruộng lúa, hoa màu trồng vào mùa mưa và trở thành các bãi chăn thả gia súc
vào mùa khô.
- Khu vực đầm Cầu Hai: có hình bán nguyệt, cung tròn hướng về phía huyện Phú

5


Lộc, với diện tích tới 11.200 ha, và độ sâu trung bình 1 - 1,5 m. Trong đầm Cầu Hai
có các khu vực Ba Cồn, Cồn Lậy các bãi triều ven đầm thuộc Lộc Bình, Đá Bạc,...
đáy cát bùn đều có các thảm cỏ biển và cỏ nước phân bố thành các thảm có diện

vực đạt 21.620 ha, chiếm khoảng 4,3% diện tích toàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Có 32
xã, thị trấn nằm trên bờ của hệ đầm phá với số dân khoảng trên 500.000 người. Mặc
dù có diện tích rộng, hình thái lạ kéo dài nhưng hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
chỉ thông với biển qua một cửa chính là cửa Thuận An, còn cửa Tư Hiền thường
đóng mở theo điều kiện địa động lực - thuỷ hải văn, thêm vào đó hệ đầm phá này
nhận nguồn nước ngọt từ các con sông như sông Ô Lâu, sông Hương, Sông Bồ,
sông Bù Lu, sông Đại Giang và rất nhiều suối, lạch nhỏ khác bắt nguồn từ dãy núi
Bạch Mã đổ ra. Lưu lượng của các con sông, suối, lạch này mang tính mùa nên các
yếu tố môi trường ở đây rất phức tạp. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến tính đa
dạng sinh học và nguồn lợi động, thực vật của hệ đầm phá [15]. Địa hình vùng thủy
vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai được thể hiện trên hình 1.1.

Hình 1.1. Lược đồ địa hình hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
(Nguồn: Nguyễn Văn Quân, 2015)[23]
1.2.2.2. Khí hậu
Việt Nam nằm trong vùng nội chí tuyến, là nơi giao lưu của các loại hình
thời tiết nên khí hậu chịu sự tác động của cả khối không khí cực đới khô hanh từ
phía Bắc di chuyển xuống và khối không khí nóng ẩm từ xích đạo đi lên. Khí hậu

7


về cơ bản mang tính nhiệt đới gió mùa nhưng cũng có khi biểu hiện của khí hậu
miền ôn đới do tác động của các hệ thống thời tiết phía Bắc. Mặt khác, nước ta vừa
tiếp giáp với đại lục châu Á, vừa nối liền với Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương
nên vừa mang tính chất lục địa khô nóng, vừa mang tính chất đại dương nóng ẩm
[15].
Vùng biển ven bờ tỉnh Thừa Thiên Huế cũng mang những đặc điểm chung
của vùng biển Việt Nam, nhưng do ảnh hưởng của địa hình bờ biển chạy theo
hướng Tây Bắc - Đông Nam có các dãy núi cao tiến sát ra biển nên có những nét

giờ/tháng, thấp nhất vào tháng 12 [15,23].
1.3.1.3. Chế độ thủy văn biển
Dao động triều trong đầm phá có nguyên nhân do cảm ứng triều ngoài biển
thông qua các cửa biển. Vùng cửa Thuận An và phá Tam Giang chịu ảnh hưởng của
chế độ bán nhật triều đều, vùng đầm phá Cầu Hai chịu ảnh hưởng của chế độ bán
nhật triều không đều. Do biên độ triều nhỏ (35 – 50cm tại cửa Thuận An và 50 –
100cm tại cửa Tư Hiền), các lạch cửa lại có hướng gần vuông góc với trục đầm nên
năng lượng triều giảm mạnh khi vào đầm phá, động lực trong đầm phá vì thế rất
yếu. Mực nước biển động rất phức tạp theo thời gian và không gian do chịu sự chi
phối của dao động mực nước biển, dòng nước sông và đặc biệt lũ trên các hệ thống
sông vào mùa mưa. Biên độ dao động mực nước tăng dần từ Tam Giang đến Cầu
Hai. Vào mùa khô, mực nước đầm phá luôn thấp hơn đỉnh triều ngoài biển, chẳng
hạn ở Cầu Hai là 25 – 30cm và ở Tam Giang là 5 – 15cm. Vào mùa lũ, mực nước
đầm phá luôn cao hơn mực nước biển do ảnh hưởng mạnh của nước sông đổ ra.
Biên độ dao động thủy triều trong đầm phá luôn nhỏ hơn so với biển và trong sông.
Giá trị biên độ ở Tam Giang bằng 30 – 50cm, ở Cầu Hai bằng 10 – 20cm.
Sóng trong đầm phá yếu và được hình thành, phát triển trong chính thủy vực.
Các đặc trưng sóng ở đây phụ thuộc chủ yếu vào hướng và tốc độ gió tác động ở
bên trên vùng nước. Sóng có điều kiện phát triển trong đầm phá, nhất là đầm Cầu
Hai, là sóng hướng Bắc và Tây Bắc vào mùa đông. Khi đó thời gian gió thổi tương
đối dài, ổn định và đà gió khá dài trên mặt thoáng 7 – 10km tạo điều kiện cho sóng
phát triển đến độ cao khoảng 0,3 đến 0,5m, trong giông có thể tới 0,7m. Trong gió
bão ở đầm Cầu Hai sóng có đủ điều kiện phát triển đến độ cao 1m [15].
Hệ thống dòng chảy trong đầm phá rất phức tạp do sự tương tác của dòng
triều, dòng chảy biển ven bờ, dòng nước sông, dòng chảy gió, địa hình đáy và hình
dạng đường bờ,… làm cho bức tranh dòng chảy tổng cộng rất khác nhau trên không

9



10


chưa định cư còn sống trên thuyền [10].
Bảng 1.2. Một số đặc điểm về hành chính và dân số của các huyện vùng đầm
phá Tam Giang - Cầu Hai

Huyện
Phong Điền
Quảng Điền
Hương Trà
Phú Vang
Phú Lộc
Tổng cộng

Số xã đầm
phá/tổng số xã,
thị trấn thuộc
huyện (tỉ lệ %)
2/16 (13%)
8/11 (73%)
2/16 (13%)
13/20 (65%)
7/18 (39%)
32/81 (40%)

Diện tích các xã đầm
phá/diện tích toàn
huyện, ha (%)


Phong Điền dân số trung bình 84.450 người, mật độ dân số 518,1 người/km 2 [5].
Hơn nữa đời sống của dân cư nhóm nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản trên đầm
phá đã ổn định và phát triển tốt hơn sau nhiều dự án cải thiện sinh kế và phục hồi
các hệ sinh thái và nguồn lợi trên đầm phá [23].

11


1.3.2.2. Trình độ dân trí
Trên mặt nước đầm phá có một cộng đồng dân cư đặc biệt với số lượng khá
lớn, họ lấy những con đò làm nhà, nghề nghiệp duy nhất là khai thác thủy sản bằng
phương tiện nhỏ (tiểu nghệ), dân địa phương gọi họ là dân thủy diện hay dân vạn
đò. Trình độ dân trí của cộng đồng này khá thấp: khoảng 90% dân vạn đò mù chữ.
Đa số trẻ em không có điều kiện học tiếp các bậc học cao hơn sau khi tốt nghiệp bậc
tiểu học [10].
Các điều tra ở các xã Phú Thuận, Phú Tân và Phú An huyện Phú Vang cho
thấy trên 80% trẻ em các xã này không biết đọc và viết. Kết quả điều tra về lao
động ở xã Phú Tân cho thấy trình độ học vấn cao nhất của lao động nữ không vượt
quá lớp 4. Đây là một vấn đề xã hội rất lớn có ảnh hưởng bất lợi đến việc tuyên
truyền bảo vệ môi trường, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ các
thảm cỏ biển [42].
1.3.2.3. Cơ cấu nghề nghiệp
Cư dân thuộc các xã ven đầm phá Tam Giang - Cầu Hai làm đủ nghề để
kiếm sống như: nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản, thu mua và
chế biến thủy sản, dịch vụ vận chuyển, du lịch,… trong đó đánh bắt và nuôi trồng
thủy sản là những nghề chủ yếu.
Người dân sử dụng các ngư cụ khai thác thủy hải sản trong đầm phá dựa trên
tập tính của các loài động vật. Các ngư cụ được sử dụng gồm ngư cụ khai thác cố
định (nò sáo, đáy, rớ giàn, rờ bà, dạy chuôm) và ngư cụ khai thác di động (lừ, giã
cào, lưới vét, cần câu, le, xiếc điện,…), trong đó nhiều loại ngư cụ đã bị cấm sử

triều, lưu lượng nước từ các sông đổ vào đầm phá,… Vào mùa khô, đầm phá chịu
tác động mạnh của thủy triều qua 2 cửa (Thuận An và Tư Hiền), nên pH thường cao
và ổn định hơn mùa mưa.
1.3.3. Độ mặn (SAL)
Độ mặn là một trong những thông số ảnh hưởng đến những thông số khác và
quyết định tính đa dạng sinh học của đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Các kết quả
quan trắc các thông số thuỷ lý, thuỷ hoá trong nước biển khu vực đầm phá Tam
Giang - Cầu Hai trong năm 2009 cho thấy độ mặn là một thông số rất quan trọng,
ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của các thực vật thuỷ sinh. Trong ngày, độ mặn

13


của nước biển thường thay đổi theo sự lên xuống của thuỷ triều. Ngoài ra, độ mặn
còn thay đổi theo mùa, theo không gian[14].
Độ mặn của nước biển khu vực đầm phá qua hai đợt quan trắc chênh lệch
khá rõ nét. Vào tháng 4 trùng với mùa ít mưa nên nước biển có độ mặn cao, dao
động từ 15 - 30‰, trung bình các vùng là 23,4‰. Độ mặn cao nhất ghi nhận được
tại khu vực Hải Tiến (30‰), tiếp đến là khu vực Cồn Tè và Cồn Lậy (27‰), khu
vực Cồn Nổi, Cồn Mắm (23 - 24‰), thấp nhất là tại Ba Cồn (15‰). Vào tháng 9,
do ảnh hưởng của chế độ mưa trong khu vực nên nước biển bị ngọt hoá do đó độ
mặn giảm mạnh, chỉ còn từ 1 - 4‰, trung bình các khu vực là 2,5‰. Độ mặn của
nước biển vào mùa mưa thấp nhất là tại Cồn Tè, Hải Tiến (1‰), các khu vực khác
(Cồn Nổi, Cồn Mắm, Ba Cồn, Cồn Lậy) có giá trị 2 - 4‰. Sự ngọt hoá của nước
biển vào mùa mưa cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến sự phân bố của thảm cỏ biển
trong vùng [40].
1.3.4. Độ đục
Giá trị độ đục trong nước tại các khu vực thảm cỏ biển trong đợt quan trắc
năm 2009 nằm trong khoảng 17-30mg/l. Độ đục của nước đầm phá có xu hướng
tăng cao so với các đợt quan trắc trước đó. Các giá trị quan trắc độ đục của nước tại

vượt giới hạn cho phép đối với nước mặt (theo TCVN 5942 – 1995 là 10 μg/l), (Đỗ
Công Thung, 2005). Kết quả khảo sát tháng 6/2008, hàm lượng nitrit có xu hướng
tăng dần theo thời gian với hàm lượng dao động từ 14,46-21,22μg/l, trung bình toàn
vùng 17,33μg/l, lớn hơn giới hạn cho phép khoảng 1,7 lần. Nhìn chung nước vùng
đầm phá Tam Giang - Cầu Hai bị ô nhiễm bởi nitrit khá cao, tỉ lệ số mẫu có nồng độ
trên 2 μg/l rất lớn, vượt giới hạn cho phép đối với nước nuôi trồng thuỷ sản. Nhiều
mẫu có nồng độ trên 10μg/l, vựợt giới hạn cho phép đối với nước mặt [40].
- Phosphat (PO43-) trong nước
Mức độ ô nhiễm nước bởi phosphat trong vùng thuộc loại thấp, các mẫu đã
phân tích từ năm 2004 đến 2006 đều có hàm lượng thấp hơn giới hạn cho phép theo
quy chuẩn Việt Nam - QCVN 08: 2008/BTNMT (100 μg/l) đối với nước mặt [3].
Hàm lượng PO43- và NO3- trong nước đầm phá thấp, dao động trong khoảng
dưới 0,05 – 0,26 mg N-NO3-/l và dưới 0,01 – 0,10 mg P - PO43-/l. Mặc dù nồng độ

15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status