Hoàn thiện chiến lược phát triển Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 – 2020 - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã khẳng định “phát triển giáo dục
– đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ
bản để phát triển xã hội, tăng cường kinh tế nhanh và bền vững”. Với sự khẳng định
đó, vai trò quan trọng của giáo dục Việt Nam nói chung và giáo dục đại học nói riêng
đã được Đảng và nhà nước ưu tiên và quan tâm hơn bao giờ hết.
Trong quá trình đổi mới tư duy kinh tế, từ mô hình kinh tế tập trung bao cấp
chuyển sang mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giáo
dục truyền thống Việt Nam cũng dần chuyển sang cơ chế thị trường và từng bước
thích nghi hội nhập với khu vực và thế giới. Điều này thể hiện qua việc quy mô ngày
càng mở rộng hệ thống các trường ngoài công lập với sự đầu tư từ nhiều thành phần
kinh tế khác nhau: vốn nước ngoài, tư nhân trong nước, liên doanh … Với tính năng
động thì những trường công lập tiếp cận và thích nghi tương đối tốt với cơ chế mới,
bên cạnh những trường tư duy còn nặng về tính bao cấp (như các trường công và đặc
biệt là các trường sư phạm) của nhà nước và hoàn toàn lệ thuộc vào ngân sách nhà
nước thì hiển nhiên sẽ đứng trước những khó khăn và phải lựa chọn cách thức để có
thể tiếp tục tồn tại và phát triển. Bên cạnh đó là sự cạnh tranh ngày càng gay gắt
trong thị trường giáo dục khi ngày càng có nhiều trường với nhiều loại hình đào tạo,
nhiều ngành nghề, và cơ chế chính sách cho người học giữa hai hệ thống công lập và
tư thục. Lẽ tất nhiên, mỗi một hệ thống đều có những lợi thế và thế mạnh riêng
nhưng nếu không có sự nhận thức đúng đắn về tư duy kinh tế trong giáo dục cùng với
sự hài hòa giữa trường công và trường tư thì hậu quả sẽ ảnh hưởng không chỉ đến bản
thân các trường, người học mà cả nền giáo dục đại học nói chung.


2


Nam ban hành và đã có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2013 như đã phần nào
mở ra tính tự chủ từng bước được nâng cao đối với giáo dục đại học.
Muốn hội nhập tốt, thì việc quản lý và xây dựng cơ chế hợp tác quốc tế yêu cầu
các nhà quản lý giáo dục đại học cần một tư duy linh hoạt và nhạy bén. Nhằm kịp
thời nắm bắt cơ hội phối hợp với các tổ chức giáo dục của khu vực và quốc tế để
mang lại cho cơ sở giáo dục những mối liên hệ sâu – rộng phát triển. Sự phát triển
này tạo ra những thuận lợi không chỉ cho người học mà còn cho cả nâng cao năng lực
và trình độ chuyên môn của cán bộ giảng viên. Một trong những khó khăn hiện nay
là nâng cao được năng lực nghiên cứu khoa học và sử dụng thành thạo các kỹ năng
ngoại ngữ của cán bộ – giảng viên để có thể hội nhập được với nền khoa học của khu
vực và thế giới. Việc ứng dụng kiển thức, kỹ năng thực hành của giảng viên các
trường đại học Việt Nam khá là hạn chế so với nhu cầu được đào tạo cho người học.
Người học vẫn chưa thực sự tìm được mối liên kết giữa trong nước và quốc tế,
khi mà hệ thống văn bằng giáo dục trong nước chưa được công nhận trong khu vực
và quốc tế. Việc này buộc những du học sinh trong nước khi học các chương trình
của nước ngoài phải học lại hoàn toàn từ đầu. Chính vì vậy mà việc liên kết hợp tác
quốc tế trong giáo dục đại học sẽ mang lại cho người học những cơ hội để hội nhập
thực sự. Việc nâng cao được giá trị văn bằng không chỉ đơn thuần là liên kết đào tạo
quốc tế để người học lấy bằng cấp do các trường nước ngoài cấp mà còn cần tiến tới
sự phát triển đồng bộ các điều kiện của các mặt: xây dựng phát triển chương trình
đào tạo, đầu tư cơ sở hạ tầng, vất chất thiết bị kỹ thuật cho thực hành, huấn
luyện…để hướng tới tính đồng đẳng với các trường nước ngoài mà trước mắt là trong
khu vực ở mức trung bình (để có thể so sánh được với một số quốc gia như Thái Lan,
Malaysia, tiến tới tiệm cận với Trung Quốc và Singapore).
Yêu cầu của thị trường và của xã hội khi hội nhập đang đặt ra cho giáo dục đại
học cần tăng cường quản lý và tổ chức kết hợp giữa nghiên cứu với ứng dụng kết quả
nghiên cứu khoa học; nâng cao từng bước tính ứng dụng của các sản phẩm nghiên




5

Tuy nhiên, đây là một thách thức không nhỏ cho các cơ sở giáo dục, các trường đại
học khi tiến tới thực hiện việc kiểm định đánh giá chất lượng thông qua hệ thống
định chuẩn quốc tế và được kiểm định bởi các tổ chức độc lập.
Giáo dục đại học Việt Nam bước đầu đang được tổ chức lại theo xu hướng chung
của giáo dục đại học thế giới. Theo quyết định số 121/2007/QĐ-TTg ngày 27/7/2007
của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt qui hoạch mạng lưới các trường đại học,
cao đẳng giai đoạn 2006 - 2020. Các trường đại học sẽ được phân tầng thành các đại
học đẳng cấp thế giới, các đại học nghiên cứu và các đại học định hướng nghề
nghiệp, ứng dụng. Bên cạnh đó, quy mô đào tạo của các trường đại học, cao đẳng
được xác định trên cơ sở bảo đảm các điều kiện, yếu tố ảnh hưởng chất lượng như: số
lượng, chất lượng giảng viên, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, phòng học, phòng thí
nghiệm, thực hành, ký túc xá sinh viên, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong
công tác đào tạo, quản lý nhà trường …, đồng thời được cân đối phù hợp với đặc
điểm các trường, ngành nghề đào tạo, bậc đào tạo và năng lực quản lý để bảo đảm
chất lượng đào tạo ngày càng được nâng cao. Ngoài ra, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ
triển khai đại trà công tác đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục đại học; thực
hiện định kỳ xếp hạng các trường đại học, cao đẳng.
Cũng theo quyết định của Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch mạng lưới các
trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006 – 2020 và theo lộ trình gia nhập Tổ chức
Thương mại quốc tế - WTO, kể từ ngày 01/01/2010, các cơ sở giáo dục – đào tạo vốn
100% nước ngoài đã được thành lập trên lãnh thổ Việt Nam và Chính phủ cho phép
hình thành các khu đại học dành cho các trường đại học nước ngoài đầu tư vào Việt
Nam. Do đó, thị trường giáo dục đại học Việt Nam sẽ đón nhận thêm nhiều trường
đại học và cao đẳng vốn nước ngoài hoạt động. Qua đó, mở ra nhiều cơ hội học tập
cho sinh viên Việt Nam nhưng cũng mang lại rất nhiều thách thức, đặc biệt là gia
tăng sự cạnh tranh khốc liệt đối với các trường đại học ở Việt Nam.


nghiên cứu của các quốc gia trên thế giới, từ đó rút ra các bài học từ thực tiễn cho sự
phát triển của ĐHQG TP.HCM.
+ Thu thập thông tin, số liệu về thực trạng chiến lược và tình hình hoạt động
của ĐHQG TP.HCM trong các năm 2010 – 2012: mục tiêu, sứ mạng, tầm nhìn; đào
tạo và kiểm định, đánh giá chất lượng đào tạo; nghiên cứu khoa học và chuyển giao


7

công nghệ; hợp tác quốc tế; công tác phát triển nhân sự; công tác kế hoạch - tài
chính; xây dựng khu đô thị đại học và đầu tư phát triển cơ sở vật chất.
+ Đánh giá thực trạng chiến lược và hoạt động của ĐHQG TP.HCM trong
những năm vừa qua: thành tựu đạt được, những khó khăn, những điểm mạnh và điểm
yếu cũng như các cơ hội và nguy cơ đe dọa.
+ Điều chỉnh và hoàn thiện các chiến lược phát triển ĐHQG TP.HCM giai
đoạn 2014 – 2020, và nghiên cứu đề xuất các giải pháp, kiến nghị để thực hiện có
hiệu quả.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí

Minh.
-

Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
+ Nội dung nghiên cứu của đề tài là tập trung mô tả chiến lược và các giải

pháp cho sự phát triển của ĐHQG TP.HCM giai đoạn 2014 – 2020.
+ Thời gian nghiên cứu: thông tin, tư liệu liên quan đến đề tài được thu thập

-

Luận văn đề xuất một số chiến lược để phát triển ĐHQG TP.HCM giai đoạn

2014 – 2020 phù hợp với xu hướng phát triển và hội nhập với nền giáo dục thế giới.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục đề tài được bố
cục thành 03 chương cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chiến lược
Chương 2: Thực trạng về chiến lược của ĐHQG TP.HCM
Chương 3: Hoàn thiện chiến lược phát triển ĐHQG TP.HCM giai đoạn 2014 – 2020


9

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC

1.1. Khái niệm về chiến lược
1.1.1. Khái niệm chiến lược và phát triển
Chiến lược là một chương trình hành động tổng quát để đạt được mục tiêu cụ
thể. Nói đến chiến lược của một tổ chức nào đó người ta thường nghĩ ngay đến việc
tổ chức đó phải xác định mục tiêu muốn đạt tới là gì, cách thức thực hiện ra sao và
phải đảm bảo cho nó những nguồn lực nào.
Afred Chandler định nghĩa: Chiến lược bao hàm việc ấn định các mục tiêu cơ
bản dài hạn của một tổ chức, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động
và phân bổ các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó.[04]
Theo James B. Quinh: Chiến lược là một dạng thức hoặc một kế hoạch phối
hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các trình tự hành động thành một tổng thể
kết dính lại với nhau.

Vai trò dự báo: Trong một môi trường luôn luôn biến động, các cơ hội cũng

như nguy cơ luôn luôn xuất hiện. Quá trình hoạch định chiến lược giúp cho nhà quản
trị phân tích môi trường và đưa ra những dự báo nhằm đưa ra các chiến lược hợp lý.
Nhờ đó nhà quản trị có khả năng nắm bắt tốt hơn các cơ hội, tận dụng được các cơ
hội và giảm bớt các nguy cơ liên quan đến môi trường.
-

Vai trò điều khiển: Chiến lược kinh doanh giúp nhà quản trị sử dụng và phân

bổ các nguồn lực hiện có một cách tối ưu cũng như phối hợp một cách hiệu quả các
chức năng trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung đề ra.
1.2. Qui trình quản trị chiến lược
1.2.1. Bước 1: Thỏa thuận hoạch định chiến lược, xác định sứ mạng và mục tiêu
định hướng.
-

Thỏa thuận hoạch định chiến lược: là sự hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau giữa các nhà

chiến lược với những người tham gia vào quá trình thực hiện chiến lược nhằm:
+ Những người tham gia vào quá trình hoạch định chiến lược sẽ hiểu rõ hơn
về các chiến lược được xây dựng và có thể triển khai thực hiện dễ dàng.


11

+ Làm tăng tính khả thi của các chiến lược được đưa ra.
-

Xác định sứ mạng của doanh nghiệp: sứ mạng được hiểu là lý do tồn tại, ý

này có thể tạo ra những cơ hội hoặc nguy cơ cho sự phát triển.


12

+ Môi trường kỹ thuật- công nghệ: ngày càng có nhiều công nghệ mới ra
đời tạo ra các cơ hội cũng như những nguy cơ cho doanh nghiệp. Công nghệ mới
giúp sản xuất ra những sản phẩm mới với giá thành thấp hơn, cạnh tranh hơn,
đồng thời, công nghệ mới cũng làm rút ngắn chu kỳ sống của sản phẩm…
+ Môi trường văn hóa - xã hội: đặc điểm tiêu dùng, phong cách sống, tập
quán hay nét văn hóa của từng địa phương sẽ tác động đến nhu cầu, thị hiếu của
người tiêu dùng.
+ Môi trường dân số: quy mô dân số, tốc độ tăng dân số, kết cấu dân số
cũng tác động đến doanh nghiệp.
+ Yếu tố môi trường toàn cầu: ngày nay toàn cầu hóa, hội nhập với thế
giới là xu hướng tất yếu, nó vừa mang lại nhiều cơ hội đồng thời cũng mang đến
nhiều nguy cơ.
-

Phân tích môi trường vi mô
+ Các đối thủ tiềm ẩn: Khi các đối thủ mới tham gia vào ngành sẽ làm

giảm thị phần, lợi nhuận của doanh nghiệp. Để bảo vệ vị thế cạnh tranh của mình,
doanh nghiệp phải tăng rào cản nhập ngành thông qua các biện pháp như đa dạng
hóa sản phẩm, lợi thế theo quy mô hoặc muốn gia nhập ngành đòi hỏi phải có chi phí
đầu tư ban đầu lớn.
+ Sản phẩm thay thế: Sản phẩm thay thế làm hạn chế tiềm năng lợi nhuận
của doanh nghiệp, đe dọa thị phần của doanh nghiệp.
+ Khách hàng: sự tín nhiệm của khách hàng rất có ý nghĩa đối với doanh
nghiệp. Tuy nhiên, khi khách hàng có được những ưu thế nhất định khi đó họ sẽ gây


kế hoạch vận chuyển…
+ Sản xuất: vận hành máy móc thiết bị, bao bì đóng gói, lắp ráp, bảo
trì, bảo dưỡng ….
+ Các hoạt động đầu ra: tồn trữ, quản lý sản phẩm, phân phối…
+ Marketing và bán hàng: quảng cáo và sử dụng các phương tiện
thông tin, truyền thông…


14

+ Dịch vụ khách hàng: lắp đặt, sửa chữa, huấn luyện, phụ tùng, thái
độ và thời gian đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
-

Các hoạt động hỗ trợ: tác động gián tiếp đến sản phẩm, gồm:
+ Quản trị nguồn nhân lực: tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng chuyên

môn nghiệp vụ, phát triển và trả công…
+ Công nghệ sử dụng: hiện đại, lạc hậu, thân thiện với môi trường.
+ Mua sắm các yếu tố đầu vào.
+ Cấu trúc hạ tầng : tài chính kế toán, luật pháp và quan hệ với chính
quyền, hệ thống thông tin.
-

Các vấn đề khác
-

Phân tích tài chính: các chỉ số luân chuyển, đòn bẩy, lợi nhuận, chỉ số


viết rất ngắn gọn. Các chính sách là để trả lời cho câu hỏi việc ra quyết định để thực
hiện chiến lược được thực hiện như thế nào. Các chính sách quy định rõ ràng các
nguyên tắc, quy tắc cũng như các hướng dẫn cần thiết cho các hoạt động, trong đó
gắn liền với quyền ra quyết định của các cấp quản lý. Chính sách rõ ràng giúp cho
các quyết định được đưa ra đúng đắn và kịp thời, đáp ứng yêu cầu năng động, linh
hoạt trong hoạt động của doanh nghiệp.
1.2.4. Bước 4: Thực hiện chiến lược
Đây là quá trình thiết lập cơ chế, đưa ra các kế hoạch phân bổ các nguồn lực của
doanh nghiệp nhằm thực hiện các hướng giải pháp của các chiến lược then chốt được
lựa chọn. Trên cơ sở đó, góp phần khai thác một cách hiệu quả các nguồn lực và lợi
thế của doanh nghiệp, tạo sức mạnh tổng hợp để đạt được mục tiêu đã đề ra.
1.2.5. Bước 5: Đánh giá chiến lược
Do sự thay đổi nhanh chóng của các yếu tố trong môi trường hoạt động và dự báo
cho tương lai khó đạt được chính xác tuyệt đối, nên trong quá trình thực hiện đòi hỏi
doanh nghiệp cần phải liên tục kiểm tra, đánh giá và từ đó có sự điều chỉnh cho phù
hợp với thực tiễn.


16

Sứ mạng và mục tiêu

Phân tích
môi trường
bên ngoài

Hình thành chiến lược

Phân tích
môi trường

trung bình là 2,5. Tổng số điểm quan trọng nhỏ hơn 2,5 cho thấy khả năng phản ứng
yếu đối với môi trường, chưa tận dụng được cơ hội và chưa đối phó được các nguy
cơ. Số điểm trung bình lớn hơn 2,5 cho thấy khả năng phản ứng tốt, tích cực đối với
các cơ hội và nguy cơ.
Lập danh
mục các
yếu tố
bên
ngoài chủ
yếu

(1)

Xác định
tầm quan
trọng
của các
yếu tố

(2)

Phân
loại các
yếu tố
từ 1
đến 4

(3)

Tính

bên trong
chủ yếu

(1)

Xác định
tầm quan
trọng của
các yếu
tố

(2)

Phân loại
các yếu
tố từ 1
đến 4

(3)

Tính
điểm
từng yếu
tố

(4)

Cộng
điểm các
yếu tố


-

Nguy cơ chủ yếu: là những nguy cơ mà tích số giữa các mức tác động khi

nguy cơ xảy ra đối với doanh nghiệp và xác suất xảy ra nguy cơ đó đạt giá trị lớn
nhất.
-

Xác định những điểm mạnh, điểm yếu cốt lõi: quá trình đánh giá và phân

tích môi trường bên trong của doanh nghiệp rút ra được nhiều yếu tố nhưng điều
quan trọng là phải rút ra được những nhân tố cốt lõi có ảnh hưởng đến vị thế cạnh
tranh và việc thực thi những chiến lược của doanh nghiệp. Ở đây cần xem xét các
yếu tố với tư cách là các hoạt động trong hệ thống và so sánh với chuẩn mực chung
của ngành và các đối thủ cạnh tranh chính.
-

Liên kết các yếu tố bên trong và các điều kiện bên ngoài: sau khi đã xác định

các yếu tố cơ bản của các điều kiện bên trong và bên ngoài, cần áp dụng một quy
trình gồm các bước sau đây để tiến hành phân tích và đề xuất các chiến lược:


Bước 1: liệt kê các yếu tố chủ yếu của các điều kiện bên trong và bên

ngoài lên các ô của ma trận SWOT. SWOT là chữ viết tắt của 4 chữ Strengths (các
điểm mạnh), Weaknesses (các điểm yếu), Opportunities (các cơ hội) và Threats (các
mối đe dọa).




Chỉ rõ các điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp cũng như xác định các

cơ hội và đe dọa từ môi trường bên ngoài.


Đưa ra các chiến lược kết hợp cụ thể từ các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội

và đe dọa để doanh nghiệp thực hiện.
-

Hạn chế: Ma trận SWOT giúp đề ra các chiến lược khả thi có thể lựa chọn

chứ không phải đưa ra chọn lựa hay quyết định chiến lược nào là tốt nhất.
1.4. Chiến lược phát triển đại học đẳng cấp tại một số quốc gia trên thế giới [13]
-

Cộng hòa Pháp – “Kế hoạch khuôn viên nhà trường” (Plan Campus).
Chính phủ Pháp đầu tư 5 tỷ Euro để xây dựng 10 trung tâm giảng dạy và

nghiên cứu đại học đạt “tầm thế giới”, bao gồm tổng cộng 39 trường đại học (trong
tồng số 85 trường đại học trong cả nước), 37 tổ chức giáo dục đại học và các viện
nghiên cứu, với 650.000 sinh viên và 21.000 nhà nghiên cứu. “Kế hoạch khuôn viên
nhà trường” gắn kết các trường đại học Pháp vốn dĩ bị manh mún nhằm tạo ra những
trường đại học đẳng cấp thế giới của Pháp, cải thiện hình ảnh giáo dục Pháp trong
bảng xếp hạnh thế giới.
Vào cuối tháng 5-2008, có 6 dự án được lựa chọn đợi đầu tiên. Tháng 7 tiếp
tục đợt lựa chọn thứ 2 với 4 dự án mới. Tháng 12/2009, Tổng thống Pháp công bố
đầu tư tiếp 3, 5 tỷ Euro “cho vay” để nâng cao năng lực cạnh tranh của các trường đại

nghiên cứu quốc gia sẽ bị loại ra khỏi dự án. Nhìn chung, dự án cung cấp nhiều cơ
hội cho các trường đại học Nga trong nghiên cứu và phát triển, ở một mức độ nào đó
đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của giáo dục đại học ở Nga.
-

Cộng hòa Ấn Độ - kế hoạch “14 trường đại học đẳng cấp thế giới”(14 World

Class Universities).


22

Phát biểu tại lễ kỷ niệm ngày độc lập (23-6-2007), Thủ tướng Ấn Độ
Manmohan Singh tuyên bố sẽ xây dựng 14 trường đại học đẳng cấp thế giới như Đại
học Harvard hay Đại học Cambridge nhằm nâng cao tính cạnh tranh toàn cầu của
giáo dục đại học Ấn Độ. Ngày 29-3-2008, Bộ Phát triển nguồn nhân lực công bố kế
hoạch xây dựng 14 trường đại học đẳng cấp thế giới trong kế hoạch 5 năm lần thứ 11
của Ấn Độ. Ở ba tiểu bang, một số trường đại học công sẽ đặt dưới sự chỉ đạo của
Chính phủ để chuyển thành đại học đẳng cấp thế giới. Ấn Độ đầu tư 73 triệu USD để
xây dựng 14 trường đại học đẳng cấp thế giới. Ấn Độ cũng đã đề nghị với Anh giúp
về tài chính và kỹ thuật để xây dựng đại học đẳng cấp thế giới.
Dự án có sự phối hợp giữa Chính phủ, tư nhân cơ sở giáo dục đại học nước
ngoài và các trường đại học. Ấn Độ tích cực tìm kiếm sự hợp tác với các trường đại
học của Hoa Kỳ, trường đại học của Anh trong xây dựng trường đại học đẳng cấp thế
giới. Trường đại học đẳng cấp thế giới là những đại học đa ngành, đa lĩnh vực có các
ngành tự nhiên, nhân văn, xã hội, công nghệ, y học,… Ấn Độ cũng xây dựng “đề án
hỗ trợ tiềm năng xuất sắc của trường đại học”, cung cấp cho kinh phí đặc biệt hỗ trợ
giảng dạy và nghiên cứu nhằm nâng cao trình độ của giảng viên và sinh viên đặc biệt
là trình độ nghiên cứu của các nhà khoa học trẻ.
-

sách những trường đại học tốt nhất thế giới trong vòng một thập kỷ và chi hàng tỷ
USD cho việc xây dựng những trung tâm nghiên cứu, những phòng thí nghiệm tốt
nhất. Những nỗ lực này là cái giá mà Trung Quốc sẵn sàng trả để thu hẹp khoảng
cách các trường đại học Trung Quốc với các trường đại học hàng đầu thế giới.
-

Đại Hàn dân quốc – Dự án “Trí tuệ Hàn Quốc 21” (Brain Korea 21 Project).
Đối với Chính phủ Hàn Quốc quan tâm đến việc thu hút hàng ngàn sinh viên

Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản từ các trường đại học Mỹ đến học, vượt qua các đối
thủ Singabore, Hong Kong, Malaysia, với giấc mơ biến Hàn Quốc trở thành điểm đến
hàng đầu của giáo dục đại học khu vực Châu Á. Giai đoạn đầu (1999-2005), mỗi năm
Hàn Quốc đầu tư 199,5 tỷ KRW (tương đương khoảng 170 triệu USD) để xây dựng
đại học đẳng cấp thế giới, đồng thời nâng cao chất lượng nghiên cứu của các trường
đại học xuất sắc; đầu tư cho các trường đại học có viện nghiên cứu tiềm năng, đẩy
mạnh nghiên cứu cơ bản, tập trung vào các lĩnh vực mũi nhọn; đầu tư phát triển các
trường đại học với mục tiêu tăng sức cạnh tranh và đồng thời tăng sự liên kết giữa


24

các trường đại học với các doanh nghiệp, tập trung đầu tư các dự án hợp tác giữa
công nghiệp với trường đại học. Giai đoạn 2 (2006-2012), đầu tư 7 năm với khoảng
2,1 tỷ USD với mục tiêu xây dựng trung tâm nghiên cứu xuất sắc, hỗ trợ cho các lĩnh
vực nghiên cứu mũi nhọn của các trường đại học nghiên cứu, giúp cho các nhà
nghiên cứu (nghiên cứu sinh, tiến sĩ, giáo sư, nghiên cứu viên…) có một môi trường
học tập tốt, yên tâm học tập và nghiên cứu nhằm nâng cao được năng lực cạnh tranh
thế giới.
Khả năng và kết quả nghiên cứu trường đại học Hàn Quốc tăng lên đáng kể,
số lượng ấn phẩm trong lĩnh vực khoa học công nghệ của Hàn Quốc được đăng lên

khả năng nội lực của bản thân và tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài
nước.
Trong chương 2, tác giả sẽ vận dụng các công cụ: EFE, IFE, SWOT để phân tích
các yếu tố tác động đến quá trình hoàn thiện chiến lược và lựa chọn chiến lược phát
triển ĐHQG TP.HCM giai đoạn 2014 - 2020.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status