Kế hoạch chiến lược phát triển ngành học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 27

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
TP. HỒ CHÍ MINH, 2006
2
MỞ ĐẦU
1. Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh được thành lập theo Quyết định số
426/TTg ngày 27/10/1976 của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở sáp nhập Trường Đại học
Luật khoa Sài Gòn và các trường đại học kinh tế khác của miền Nam trước ngày giải
phóng. Đến tháng 7/1996, Bộ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo ký Quyết định số 2819/GD-
ĐT ngày 09/7/1996 hợp nhất Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, Trường Đại học
Tài chính - Kế toán TP. Hồ Chí Minh và Khoa Kinh tế thuộc Trường Đại học Tổng hợp
TP. Hồ Chí Minh, thành Trường Đại học Kinh tế hoạt động dưới sự quản lý điều hành của
Đại học Quốc gia TP.HCM. Ngày 10/10/2000, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định
số 118/2000/QĐ-TTg về việc thay đổi tổ chức của Đại học Quốc gia TP.HCM, theo quyết
định này Trường Đại học Kinh tế tách ra khỏi Đại học Quốc gia TP.HCM, thành Trường
Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Địa chỉ: 59C Nguyễn Đình Chiểu, P.6, Q.3, TP.HCM.
- Năm thành lập: 1976
- Tên tiếng Anh: University of Economics Ho Chi Minh City (UEH)
- Điện thoại: (84.8) 8295299
- Fax: (84.8) 8250359
- Website: www.ueh.edu.vn
- E-mail:
- Bộ chủ quản: Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Tổng số cán bộ, công chức: 791 người; trong đó có 5 giáo sư, 32 phó giáo sư, 181
tiến sĩ, 229 thạc sĩ, 202 giảng viên chính, 2 nhà giáo nhân dân, 25 nhà giáo ưu tú, 343 đảng
viên. Ngoài ra còn hơn 200 nhân viên hợp đồng làm việc tại các trung tâm, dịch vụ thuộc
trường và gần 300 giảng viên hợp đồng thỉnh giảng. Đơn vị trực thuộc: 9 phòng chức
năng, 2 khoa quản lý, 12 khoa đào tạo, 2 ban chuyên môn, 47 bộ môn, 2 viện nghiên cứu, 1
tạp chí, 7 trung tâm, 1 thư viện, 3 ký túc xá, 1 ban quản lý dự án, 1 trạm y tế và 3 công ty
TNHH một thành viên trực thuộc.

- Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản
và toàn diện giáo dục Việt Nam giai đoạn 2006-2020;
- Điều lệ trường đại học ban hành theo Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg ngày
30/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 18/2004/TT-BGD&ĐT ngày
21/6/2004 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn thực hiện Điều lệ trường đại học;
- Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày 28/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010;
- Quyết định số 47/2001/QĐ-TTg ngày 04/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quy
hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng Việt Nam giai đoạn 2001- 2010;
- Quyết định số 171/2004/QĐ-TTg ngày 28/9/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Đề án đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ;
- Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg ngày 27/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Quy hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng giai đoạn 2006-2020;
- Công văn số 1269/CP-KG ngày 06/9/2004 của Chính phủ về việc đồng ý xây dựng
14 cơ sở đại học trọng điểm quốc gia, trong đó có Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí
Minh;
- Công văn số 1032/UBND-ĐT ngày 23/02/2007 của Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí
Minh về việc đồng ý cho trường lập quy hoạch chi tiết xây dựng tỉ lệ 1/2000 dự án xây
dựng trường (diện tích 70 hecta) tại phường Long Phước, quận 9, TP.HCM;
- Ðịnh hướng phát triển của trường giai đoạn 2001 -2010;
- Ngoài ra còn dựa vào kết quả của các hội nghị, hội thảo về đổi mới phương pháp
dạy học, về kiểm định chất lượng, các báo cáo điều tra của các đơn vị trong trường.
4. Mục đích xây dựng văn bản kế hoạch chiến lược: Trong bối cảnh hội nhập kinh
tế toàn cầu, việc Việt Nam gia nhập WTO đã làm xuất hiện nhiều cơ hội phát triển cũng
như những thách thức trong quá trình phát triển đối với giáo dục đại học nói chung và
trường nói riêng. Chính vì vậy, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cần thiết phải
xây dựng kế hoạch chiến lược. Căn cứ vào văn bản kế hoạch chiến lược giai đoạn 2006-
2020, trường sẽ hoạch định các mục tiêu, các hành động và hệ thống giải pháp để đạt được
các mục tiêu đã định.
5. Quá trình xây dựng văn bản kế hoạch chiến lược của trường: Văn bản kế hoạch

- Xác định các lĩnh vực ưu tiên cho từng giai đoạn phát triển của trường;
- Xây dựng nhóm thực hiện có năng lực phù hợp và tính chuyên nghiệp cao;
- Xây dựng và nâng cao tinh thần hợp tác với các đối tác bên ngoài.
8. Kết cấu của kế hoạch chiến lược phát triển gồm 5 phần:
- Sứ mạng, tầm nhìn và các giá trị;
- Phân tích bối cảnh và thực trạng trường;
- Mục tiêu, chiến lược phát triển và giải pháp;
- Chương trình hành động thực hiện chiến lược;
- Tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá kế hoạch và kết quả đạt được;.
Ngoài ra, kế hoạch chiến lược phát triển còn có mở đầu, kết luận và các phụ lục.

Phần I
SỨ MẠNG, TẦM NHÌN VÀ CÁC GIÁ TRỊ
1. Sứ mạng
Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh là nơi cung cấp cho người học các
chương trình đào tạo chất lượng cao về khoa học kinh tế - quản trị kinh doanh; đồng thời
5
chuyển giao những kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn, góp phần phát triển nguồn
nhân lực phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội
nhập kinh tế toàn cầu.
2. Tầm nhìn
Đến năm 2020, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh sẽ trở thành một trung
tâm đào tạo, nghiên cứu và tư vấn về khoa học kinh tế - quản trị kinh doanh có uy tín
ngang tầm với các cơ sở đào tạo đại học trong khu vực châu Á. Trường cung cấp cho
người học môi trường giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học tốt nhất, có tính chuyên
môn cao; đảm bảo cho người học khi tốt nghiệp có đủ năng lực cạnh tranh và thích ứng
nhanh với nền kinh tế toàn cầu.
3. Các giá trị
- Thấu hiểu nhu cầu của sinh viên và xã hội;
- Chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học cho các tổ chức và doanh nghiệp;

Nền kinh tế thế giới hiện đang trong đà tăng trưởng và ổn định với mức khoảng
5%/năm trong bốn năm qua. Những xu thế về kinh tế trong giai đoạn sắp đến là:
- Toàn cầu hóa về kinh tế với vai trò của WTO: Hội nhập về kinh tế là nội dung
quan trọng nhất của toàn cầu hóa. Nền sản xuất hiện nay mang tính toàn cầu do có sự tự do
về thương mại, đầu tư, tài chính dẫn đến sự phân bổ hợp lý hơn các nguồn lực sản xuất. Sự
bất hợp lý trong quản lý kinh tế bị loại trừ dần thông qua cạnh tranh và hợp tác. Đối với
các nước nghèo, điều này là cơ hội tranh thủ được các nguồn lực quốc tế về yếu tố sản xuất
(tư bản, khoa học kỹ thuật, quản lý), tuy nhiên cũng là thách thức lớn không kém khi mở
cửa thị trường.
- Xu thế chuyển đổi cơ cấu kinh tế ngày càng nhanh chóng. Đối với các nước phát
triển, cơ cấu kinh tế chuyển đổi dần từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức. Trong khi
đó, các nước nghèo đang dần chuyển từ kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang kinh tế công
nghiệp. Một số ngành công nghiệp thâm dụng lao động, gây ô nhiễm môi trường như dệt
may, giày da, đóng tàu, hóa chất, cơ khí, chế biến gỗ, chế biến thủy hải sản… đang được
chuyển dần sang các nước đang phát triển.
- Hiện trên thế giới có ba khối kinh tế phát triển mạnh có ảnh hưởng đến kinh tế
toàn cầu là Hoa Kỳ, EU, và các nước Đông và Nam Á. Dự báo kinh tế Hoa Kỳ vẫn tăng
trưởng dù chậm và sẽ còn duy trì vị trí hàng đầu trong dài hạn. EU đang nổi lên như là vị
trí kinh tế thương mại hàng đầu thế giới nhưng thiếu sức mạnh tổng hợp của một liên
minh. Các quốc gia Đông và Nam Á hiện đang là những biểu tượng về tăng trưởng kinh tế
(Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam…). Dự báo những quốc gia này sẽ giữ vững tốc độ
tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn. Với đà tăng trưởng như hiện nay, Trung Quốc được dự
báo sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới vào năm 2020 (sau Hoa Kỳ và Nhật
Bản).
- Một số yếu tố có thể tác động mạnh mẽ đến kinh tế thế giới trong thời gian tới là
giá dầu thô, tình trạng ô nhiễm môi trường và leo thang xung đột - không loại trừ khả năng
xung đột hạt nhân do mức độ phổ biến ngày càng cao.
Tóm lại, sự phát triển của các quốc gia, khu vực có vị trí chi phối nền kinh tế -
chính trị thế giới rõ ràng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và giáo dục của
nước ta trong thời gian tới. Sự ảnh hưởng về giáo dục từ những nước như Hoa Kỳ và EU là

một xu hướng tất yếu. Sự thay đổi về khoa học - công nghệ luôn nhanh chóng hơn sự thay
đổi chương trình giáo dục, đang đặt ra thách thức lớn cho ngành là phải luôn ở thế nắm bắt
và cập nhật kiến thức mới vào nội dung, chương trình giáo dục. Những xu thế sau đây của
phát triển khoa học - công nghệ tác động trực tiếp đến giáo dục và đào tạo:
- Hướng đến một xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức: Sự nắm bắt kịp thời về
thông tin và tri thức cũng như năng lực chuyển đổi nhanh chóng của tư duy đã trở thành
yếu tố then chốt cho sự thành công của cá nhân. Một chiến lược giáo dục hiệu quả là tạo ra
được những cá nhân có năng lực như vậy.
- Sự phát triển liên tục của khoa học - công nghệ đòi hỏi cá nhân phải học tập suốt
đời, hình thành các tổ chức học tập và xã hội học tập thường xuyên. Nền giáo dục phải đáp
ứng được nhu cầu đó và trường đại học phải là môi trường học tập, nghiên cứu mở cho
người học suốt đời.
- Định hướng nhân văn cho sự phát triển khoa học - công nghệ: Khoa học - công
nghệ có thể bị lạm dụng để phục vụ các mục tiêu cá nhân phi đạo đức, do đó giáo dục phải
định hướng người học tới những mục tiêu nhân văn.
2. Bối cảnh trong nước
2.1. Bối cảnh chính trị
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam (4/2006) thành
công là một sự kiện chính trị có ý nghĩa trọng đại trong đời sống tinh thần xã hội ta. Với
chủ đề “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn
dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém
phát triển”, đại hội đã thể hiện ý chí sắt đá của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, triệu
người như một, nêu cao năng lực sáng tạo, nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, quyết tâm
đổi mới toàn diện đất nước. Đại hội đã nêu rõ mục tiêu phát triển giáo dục trong phương
hướng phát triển đất nước 5 năm 2006-2010 đó là:
- Phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao.
- Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo.
- Chấn hưng giáo dục Việt Nam, làm cho giáo dục cùng khoa học và công nghệ thực
sự là quốc sách hàng đầu.
Với những mục tiêu đó, đại hội đã đề ra những nhiệm vụ và giải pháp lớn:

dịch bệnh nguy hiểm. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng từ 67,8 (năm 2000) lên
71,5 (năm 2005). Hoạt động văn hóa thông tin, báo chí, xuất bản, thể dục thể thao… có
tiến bộ trên một số mặt. Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”
và các phong trào đền ơn đáp nghĩa, hoạt động nhân đạo, từ thiện thu hút sự tham gia rộng
rãi của các tầng lớp nhân dân. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra
thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp. Vị thế nước ta trên
trường quốc tế không ngừng được nâng cao.
Lĩnh vực giáo dục tiếp tục được sự quan tâm của mọi người dân, đặc biệt là những
thay đổi trong giáo dục. Luật Giáo dục sửa đổi có hiệu lực từ tháng 7/2005 đang phát huy
tác dụng trong đời sống xã hội. Đề án đổi mới giáo dục đại học (GDĐH) Việt Nam đã
được Thủ tướng phê duyệt. GDĐH đang đứng trước những thách thức gay gắt đó là
khoảng cách ngày càng xa so với nền GDĐH của các nước tiên tiến; là sự thiếu nhạy bén,
thiếu năng động của GDĐH để đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. GDĐH Việt Nam trong bối cảnh này cũng đang thay đổi mạnh mẽ theo xu thế chung
của GDĐH thế giới, cùng với những cuộc cải cách đổi mới GDĐH ở các nước trên quy mô
toàn cầu. Đó là cơ hội tốt để GDĐH Việt Nam có thể tiếp cận nhanh chóng với những xu
thế mới, ý tưởng và tri thức mới, kinh nghiệm tốt của GDĐH thế giới, vận dụng sáng tạo
vào thực tiễn GDĐH nước ta. Đồng thời GDĐH nước ta cũng phải vượt qua nhiều thách
thức trong đó có những thách thức chung cho GDĐH thế giới mà chúng ta có thể học tập
kinh nghiệm giải quyết, đồng thời có những thách thức riêng của GDĐH Việt Nam mà
chúng ta cần tập trung tìm ra giải pháp phù hợp.
2.4. Bối cảnh khoa học - công nghệ
9
Với sự phát triển nhanh như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trên
thế giới, đào tạo nguồn nhân lực như thế nào để vừa thích ứng với kinh tế thị trường vừa
đáp ứng nhu cầu phát triển của khoa học - công nghệ không chỉ là đòi hỏi bức xúc mà còn
mang tính chiến lược của giáo dục đại học Việt Nam trong quá trình hội nhập. Nhà nước ta
luôn đặt giáo dục cùng với khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu. Bước vào thế kỷ
XXI, thế kỷ mà trí tuệ con người giữ vai trò có tính quyết định sự phát triển với những xu
thế toàn cầu hóa, phát triển kinh tế tri thức, công nghệ cao nhất là công nghệ thông tin, xã

khu công nghiệp, khu chế xuất ... đòi hỏi phải có một lực lượng lao động được đào tạo kỹ
càng, đặc biệt là chất lượng chuyên môn, để dễ dàng tiếp cận với những công nghệ mới.
Mặt khác, thích ứng với sự linh hoạt của cơ chế thị trường, sản phẩm đào tạo của trường
phải hết sức năng động, sáng tạo. Điều đó đòi hỏi trường phải nhanh chóng áp dụng và
nhân rộng các phương pháp giảng dạy tích cực. Việc nhân rộng phương pháp giảng dạy
tích cực đã đặt ra yêu cầu phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy về số lượng và chất lượng,
yêu cầu đầu tư về môi trường học tập: giáo trình, tài liệu tham khảo, internet, e-learning,
phòng học đa phương tiện... là không thể thiếu được. Song song với thay đổi phương pháp
là nhu cầu tăng nguồn tài chính để cho việc áp dụng được khả thi.
Công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ là một hoạt động không
thể thiếu trong trường đại học. Tuy nhiên, nguồn lực tài chính cho công tác này từ Nhà
10
nước còn ít, không đáp ứng được nhu cầu mở rộng nghiên cứu. Ngoài ra, một thực trạng
cần quan tâm là mức độ triển khai ứng dụng các kết quả nghiên cứu và chuyển giao công
nghệ chưa cao. Nhiều công trình khoa học có giá trị thực tiễn cao nhưng chưa được ứng
dụng, do đó chưa khai thác hết hiệu quả nghiên cứu khoa học của trường.
Những vấn đề nêu trên chỉ là những khía cạnh tiêu biểu, tác động khá trực tiếp đến
mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học của Trường Đại học Kinh tế
TP. Hồ Chí Minh. Đi sâu vào từng vấn đề, trường còn phải đối mặt với rất nhiều thách
thức và cạnh tranh từ các trường khối ngành kinh tế tại thành phố Hồ Chí Minh và trên cả
nước, cũng như khu vực châu Á và thế giới.
3.2. Phân tích cạnh tranh/tác động chéo
Đến năm 2020 sẽ có thêm nhiều trường đại học và cao đẳng tư thục ra đời theo chủ
trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước. Do đó, chắc chắn thị phần và nguồn
đầu tư của Nhà nước bị chia sẻ. Khi đó sự cạnh tranh về chương trình, nội dung và phương
pháp đào tạo để đáp ứng nhu cầu của cộng đồng; sự hấp dẫn đối với đội ngũ giảng viên
(điều kiện sống và làm việc, thu nhập, cơ hội bồi dưỡng nâng cao trình độ....); sự cạnh
tranh trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, tư vấn và chuyển giao công nghệ... sẽ ngày càng
trở nên khốc liệt. Mặc dù các trường liên tục được mở ra ở khắp các tỉnh thành, nhưng nhìn
chung trong giai đoạn tới chỉ một số trường công có truyền thống lâu đời mới có khả năng

công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trường có nhiều chính sách ưu tiên để thu hút sinh viên vào
học những chuyên ngành này, như Kinh tế chính trị, Kinh tế nông nghiệp và phát triển
nông thôn… Đối với hệ đại học không chính quy, ngành và chuyên ngành đào tạo do
người học tự chọn từ khi bắt đầu chuẩn bị chiêu sinh do địa phương đề nghị (Bảng 5, 6 và
7).
Cùng với đào tạo đại học chính quy và không chính quy, hoạt động đào tạo sau đại
học (Thạc sĩ, Tiến sĩ) của trường ngày càng giữ một vị trí quan trọng trong việc thực hiện
nhiệm vụ chính trị trường. Tác động của đào tạo sau đại học đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội ngày càng trở nên mạnh mẽ và có thể thấy dấu ấn này ở khắp mọi nơi. Đào tạo sau
đại học đã và đang đáp ứng sự phát triển của tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, khoa học -
công nghệ, chính trị, an ninh quốc phòng... đồng thời tạo ra sức mạnh bên trong hệ thống
giáo dục, thúc đẩy hệ thống giáo dục phát triển. Chính vì lý do đó, trong những năm gần
đây, lãnh đạo trường đã luôn chú trọng đến việc phát triển công tác đào tạo sau đại học tại
trường. Bậc đào tạo Thạc sĩ trường đang đào tạo 6 chuyên ngành, bậc Tiến sĩ có 9 chuyên
ngành đào tạo (Bảng 9). Trong thời gian tới, trước nhu cầu của xã hội và thực trạng đào tạo
sau đại học của các viện, trường trong và ngoài nước, trường sẽ điều chỉnh mã ngành đào
tạo sau đại học, theo hướng mở rộng các chuyên ngành hẹp ở bậc sau đại học.
Về quy mô đào tạo (Bảng 17), từ năm học 2000-2001 đến năm học 2005-2006 quy
mô đào tạo hệ chính quy của trường tương đối ổn định, dao động trong khoảng 22.000 đến
23.000 sinh viên. Quy mô tuyển sinh tăng dần từ 3.800 sinh viên năm học 2000-2001 đến
5000 sinh viên năm học 2006-2007 và dự kiến tuyển sinh ổn định hàng năm đến năm 2020
với chỉ tiêu tuyển sinh khoảng 5.000 sinh viên/năm.
Quy mô đào tạo không chính quy của trường các năm qua có xu hướng giảm, năm
2004-2005 số sinh viên không chính quy giảm gần 10 ngàn sinh viên so với năm 2000-
2001. Tuy vậy, nhu cầu học tập của người học cũng như yêu cầu về việc đào tạo cán bộ
cho các ngành kinh tế có trình độ đại học thuộc các chuyên ngành Kế toán, Tài chính -
Ngân hàng, Quản trị kinh doanh, Thống kê còn rất lớn.
Quy mô đào tạo sau đại học của trường khoảng 750 học viên cao học và nghiên cứu
sinh, trên 100 học viên đang theo học các chương trình sau đại học hợp tác với nước ngoài
(chương trình cao học Việt Nam - Hà Lan, chương trình Pháp - Việt, chương trình giảng

Trường đã đạt được một số kết quả ban đầu rất khả quan trong nghiên cứu khoa học
(NCKH) và chuyển giao công nghệ (Bảng 18). Trường đã thực hiện một số đề tài thuộc
các chương trình khoa học công nghệ (KC) và khoa học xã hội (KX) cấp Nhà nước giai
đoạn 2001-2005, trong đó có 2 đề tài KC và 1 đề tài KX. Từ năm học 2001, trường đã
đăng ký 114 đề tài cấp Bộ, trọng điểm cấp Bộ, trọng điểm ưu tiên cấp Bộ. Trường đã
nghiệm thu được 78 đề tài (trong đó 11 đề tài là đề tài trọng điểm và trọng điểm ưu tiên
cấp Bộ). Các đề tài cấp cơ sở chủ yếu tập trung vào những chủ đề phục vụ cho hoạt động
giảng dạy, giải quyết các vấn đề cụ thể của thực tiễn trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và các
tỉnh lân cận. Trong năm 2006, trường đã phê duyệt 24 đề tài cấp cơ sở và nghiệm thu được
25 đề tài.
Sự chủ động, năng động của các khoa đào tạo đã phát huy rõ rệt công tác NCKH,
góp phần nâng cao năng lực nội sinh của giảng viên, gắn công tác NCKH với giảng dạy đại
học và sau đại học. Phong trào NCKH của sinh viên luôn đi đầu trong các trường đại học
cả nước (trung bình mỗi năm học có trên 220 đề tài đăng ký tham dự). Năm học nào
trường cũng có nhiều sinh viên đạt giải thưởng sinh viên NCKH cấp Bộ, Eureka, cấp
trường (Bảng 19).
Trong năm học 2005-2006, thông qua hệ thống các trung tâm nghiên cứu và tư vấn,
giảng viên và cán bộ nghiên cứu của trường đã thực hiện nhiều đề tài với các địa phương
như TP. Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bình Định, Vĩnh Long, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng
Tàu, Bình Dương... Các đề tài này tập trung vào những vấn đề đặc thù của địa phương như
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn, tăng cường khả năng
cạnh tranh cho các hàng hóa chủ lực của các tỉnh (nông sản, thủy hải sản...), nghiên cứu
tâm lý khách du lịch để đề xuất chính sách thu hút khách du lịch...
Để trao đổi và tăng cường thông tin khoa học, trường có tạp chí Phát triển kinh tế
phát hành bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh, là một trong những tạp chí khoa học có uy tín
hàng đầu trong cả nước về khoa học kinh tế. Số bài báo khoa học của giảng viên trong
trường đăng tải trên các tạp chí khoa học trong nước trung bình mỗi năm là 220 bài, ngoài
ra, trường có nhiều giảng viên thường xuyên đăng tải bài viết của mình trên các tạp chí
quốc tế. Nhiều bài báo đã được giới học thuật đánh giá cao. Hoạt động xuất bản giáo trình
của trường được quan tâm nhằm nâng cao chất lượng giáo đào tạo, đáp ứng nhu cầu của xã

phát triển Việt Nam- Hà Lan, chương trình Curtin, chương trình Fulbright, chương trình
đào tạo công nghệ thông tin Việt-Hàn… Ký kết các chương trình trao đổi sinh viên, giảng
viên với các đại học: Georgetown (Mỹ), Woosong (Hàn Quốc), Osaka Sangyo (Nhật),
Hogesschool University (Hà Lan). Ký một số thỏa thuận ghi nhớ về hợp tác trong liên kết
đào tạo với các đại học khác của Mỹ, Nga, Pháp, Trung Quốc, Hungari, Hàn Quốc, Hà
Lan, Anh và Czech (Bảng 21).
Tuy nhiên nhìn ở góc độ tổng quan, thì các dự án hợp tác chỉ ở quy mô vừa và nhỏ,
đồng thời phân bố không đồng đều giữa các đơn vị trong trường. Theo đó, một số khoa có
đội ngũ cán bộ mạnh, có trình độ chuyên môn cao, thì có cơ hội tranh thủ được nhiều dự
án mới hơn các đơn vị khác.
4.4. Về tổ chức và quản lý trường
Việc tổ chức quản lý và điều hành các mặt hoạt động của trường được thực hiện
theo tinh thần “dân chủ - công khai - công bằng”. Quan hệ giữa các tổ chức Đảng Cộng sản
Việt Nam, chính quyền, Công đoàn, Đoàn TNCSHCM, Hội Sinh viên trong trường đã thể
hiện sự phân công và hợp tác; phát huy được động lực phát triển. Trên tinh thần đó trường
đã phân cấp nhằm tăng cường tính chủ động cho các đơn vị trong hoạt động, từ đó thực
hiện tốt “Quy chế dân chủ trong hoạt động của trường”. Trường luôn chủ động đáp ứng sự
thay đổi đang diễn ra để bổ sung, sửa đổi quy trình phân bổ nguồn lực, cấu trúc tổ chức
quản lý, các chương trình giảng dạy một cách toàn diện nhất (Bảng 22).
Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh là trường đại học đầu tiên ở khu vực phía
Nam được trao quyền tự chủ về tài chính. Điều này cho phép trường thích ứng tốt hơn với
thay đổi của môi trường bên ngoài và năng động hơn trong việc nâng cao chất lượng đào
tạo, đẩy mạnh công tác tổ chức và quản lý. Công tác tổ chức bộ máy được tổ chức thực
hiện tốt, đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động của bộ máy. Sự hợp tác và hoạt động tích
cực là một đặc trưng nổi bật của trường. Một trong những nhiệm vụ quan trọng là hợp lý
hóa thế mạnh của trường hiện có để mở ra những cơ hội mới cho việc hợp tác đào tạo,
14

Trích đoạn Chương trình phát triển các nguồn lực 1 Chương trình phát triển nguồn nhân lực Chương trình truyền thông thể hiện trường là địa chỉ tư vấn tin cậy cho các doanh nghiệp và các nhà đầu tư, quảng bá và phát triển thương hiệu Hệ thống chỉ số thực hiện để đo và đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch chiến lược (số tuyệt đối hoặc các tỷ lệ so sánh)
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status