BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
XÂY DỰNG KẾ HOẠCH CHIẾN LƯỢC
PHÁT TRIỂN TRƯỜNG CAO ĐẲNG VĨNH PHÚC
GIAI ĐOẠN 2011-2020
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. NGUYỄN LỘC
HÀ NỘI - 2012
LỜI CẢM ƠN
=========
Với tình cảm chân thành, tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo trong Ban
giám hiệu, khoa quản lý giáo dục, phòng sau đại học, các thầy cô giáo giảng
dạy các chuyên đề lớp Cao học quản lý giáo dục khóa 20 Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội, cảm ơn các thầy cô trong Hội đồng Khoa học đã giúp đỡ và tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn
thành đề tài.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Lộc
người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu, thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu và tập thể cán bộ, giáo
viên, nhân viên ,trường Cao Đẳng Vĩnh Phúc, cảm ơn bạn bè đồng nghiệp
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong học tập, nghiên cứu khoa học,
sưu tầm số liệu, đã tham gia ý kiến giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn.
Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng do năng lực có hạn nên không thể
tránh khỏi những thiếu sót trong luận văn này. Tôi rất mong nhận được sự chỉ
dẫn, góp ý của các nhà khoa học, quý thầy cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp
để luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Xin trân trọng cảm ơn.
1
của trường, gắn liền với nhu cầu chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của địa
phương và cả nước. Hơn nữa, quá trình hội nhập khu vực và quốc tế ngày
càng phát triển và sâu rộng, nhân lực xã hội đòi hỏi phải có nguồn lực có trình
độ, chất lượng cao, hiểu biết về các vấn đề quốc tế, để tiếp cận và khai thác
những lợi thế của quá trình toàn cầu hóa.Từ thực tế này, mỗi giai đoạn, mỗi
sứ mệnh cũng như mục tiêu đào tạo của nhà trường được rà soát, bổ sung,
hoàn thiện để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ mới, đồng thời để phù hợp với
các nguồn nhân lực của nhà trường, gắn liền với sự phát triển kinh tế- xã hội
của địa phương và đất nước. Do đó, nhà trường đã và đang xây dựng để trình
cấp trên phê duyệt đề án phát triển nâng cấp trường Cao đẳng Vĩnh Phúc lên
thành trường Đại học vào năm 2015 và định hướng phát triển trường giai
đoạn 2020. Để thực hiện mục tiêu và chiến lược đã đề ra nhà trường phải
thường xuyên tổ chức lấy ý kiến cán bộ, viên chức và sinh viên về phương
hướng của trường. Đồng thời, xây dựng bản kế hoạch phát triển tổng thể từ
việc đầu tư cho cơ sử vật chất- trang thiết bị; phát triển đội ngũ giảng viên sao
cho đúng, đủ cơ cấu và thành phần, cho đến việc xây dựng kế hoạch và quy
mô đào tạo đáp ứng được đào tạo Đại học và Sau đại học. Do đó, để có được
bản kế hoạch tổng thể nêu trên, các đơn vị phòng ban và các cán bộ viên chức
của nhà trường cần tập trung lập và xây dựng kế hoạch các nhiệm vụ mà đơn
vị, cá nhân được trường phân công phụ trách. Là một trong những cán bộ
quản lý của nhà trường, qua học tập và nghiên cứu, bản thân tôi nhận thức
được vai trò, tầm quan trọng của công tác lập kế hoạch chiến lược và xác định
trách nhiệm của mình trong việc xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển
chung của nhà trường.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu:
“Xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển trường Cao đẳng Vĩnh Phúc
giai đoạn 2011-2020”.
2
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý ở trường Cao đẳng đa ngành địa phương
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Lập và xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển trường Cao đẳng Vĩnh
Phúc từ năm 2011- 2020.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu xác định cơ sở lí luận và một số phương pháp xây dựng kế
hoạch chiến lược phát triển trường của các trường nói chung và trường cao
đẳng Vĩnh Phúc nói riêng
5.2. Đánh giá thực trạng việc xây dựng kế hoạch phát triển trường Cao đẳng
Vĩnh Phúc trong giai đoạn những năm vừa qua.
5.3. Xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển trường Cao đẳng Vĩnh phúc đến
năm 2020.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu như các văn kiện của Đảng. Các văn bản pháp
luật và các tài liệu hướng dẫn về lĩnh vực xây dựng kế hoạch chiến lược cùng
các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu.
6.2 Phương pháp điều tra, khảo sát
Bằng phiếu hỏi, phỏng vấn, nghiên cứu điển hình, hội thảo, thu thập và
phân tích các dữ liệu thực tế tìm hiểu các đặc trưng, tính chất các quy luật vận
động và phát triển của các hoạt động thuộc vấn đề nghiên cứu.
6.3 Phương pháp xử lí dữ liệu
4
Áp dụng để xử lí các kết quả thu nhập thông tin như điều tra, khảo sát,
lấy số liệu thống kê. Qua đó, xử lí để xây dựng các luận cứ khoa học, khái
quát hóa để bộ lộ các quy luật, phục vụ cho nghiên cứu.
6.4 Phương pháp phân tích tổng hợp
Phân tích nhằm phát hiện và khai thác các khía cạnh khác nhau của
hẹp tài chính sang dự đoán tương lai và cuối cùng là kiến tạo tương lai.
Các giai đoạn phát triển của lập kế hoạch:
- Lập kế hoạch tài chính sơ đẳng (phụ thuộc vào ngân sách)
- Lập kế hoạch hướng về bên ngoài (phụ thuộc hoàn cảnh)
- Lập kế hoạch trên cơ sở dự đoán (dự đoán tương lai)
- Lập kế hoạch chiến lược (chủ động kiến tạo tương lai)
(Phỏng theo Frederich W. Gluck, Stephen P,Kaufman and A,Steven
Walleck,(1980). Strategic Mangement for Competetive Advantage, Havard
loại kế hoạch như sau:
- Kế hoạch ngắn hạn (để thực hiện một vài nhiệm vụ cụ thể, trong một
thời gian ngắn trước mắt)
- Kế hoạch dài hạn (trong vòng 2 đến 5 năm)
- Kế hoạch chiến lược (từ 5 đến 20 năm)
6
1.1.2 Lập kế hoạch chiến lược
Kế hoạch là một thành phần cơ bản trong chu trình quản lý. Một tổ
chức nói chung và một cơ sở đào tạo nói riêng muốn tồn tại, hoạt động và
phát triển phải tính được định hướng mục tiêu, đường đi nước bước, trình tự
thực hiện các hoạt động, phối hợp các hoạt động của các đơn vị, thành phần
trong tổ chức để đạt được các mục tiêu đã định trong môi trường, các điều
kiện và nguồn lực nhất định. Có nhiều loại kế hoạch khác nhau như kế hoạch
dài hạn - trung hạn và dài hạn; kế hoạch thông thường và kế hoạch chiến
lược.
Kế hoạch chiến lược (Strategic Plan) là một công cụ quản lý nói chung
và quản lý chất lượng nói riêng trong một giai đoạn hoạt động xác định của
một tổ chức, một cơ sở đào tạo. Giống như bất kì một công cụ quản lý nào, kế
hoạch chiến lược chỉ được sử dụng cho một mục đích là giúp tổ chức hay cơ
sở đào tạo thực hiện một công việc tốt hơn - tập trung nguồn lực, đảm bảo các
thành viên của tổ chức đang làm việc cùng hướng tới các mục tiêu chung
trong đó có yêu cầu đảm bảo chất lượng, đánh giá và điều chỉnh định hướng
- Đưa ra và thực hiện cách tiếp cận tiên phong trong quản lý
- Là định hướng hành động và tập trung vào các kết quả đạt được.
- Tập trung chú ý và các nguồn lực vào các vấn đề cơ bản mà tổ chức,
nhà trường đang đương đầu hơn là việc cố đặt ra nhiều vấn đề cùng một lúc.
- Đặt trọng tâm lớn hơn vào việc hình thành, duy trì và liên kết dựa
vào sự liên minh rộng rãi của các cá nhân và tổ chức - thường là qua các
ranh giới quyền hạn, để phục vụ cho các mục tiêu chung và các mục tiêu
chất lượng nói riêng.
Sự khác biệt của lập kế hoạch chiến lược với kế hoạch hành động ở
chỗ, lập kế hoạch chiến lược thường hướng tới mục tiêu dài hạn, còn lập kế
hoạch hành động giải quyết các vấn đề cho tổ chức trong thời gian trước mắt.
8
Lập kế hoạch chiến lược bao hàm hai yếu tố quan trọng nhất là xác định sứ
mạng, mục tiêu và xác định chiến lược đạt các mục tiêu đã định. Lập kế
hoạch chiến lược cũng thể hiện kết quả của một bản thiết kế khoa học cho
tương lai của tổ chức trong thời gian 10 năm hay dài hơn nữa. “Lợi ích của
việc lập kế hoạch chiến lược là giúp cho một tổ chức ý thức được những thay
đổi ở môi trường bên ngoài và tạo điều kiện cho nó đương đầu một cách có
hiệu quả với những thay đổi đó; có ý thức về mục tiêu chung, tạo điều kiện
cho tổ chức đánh giá khả năng của chính mình và phối hợp hoạt động để đạt
được mục tiêu đó, tạo điều kiện để tổ chức đánh giá ý nghĩa của đường lối
hành động đã cam kết, tạo cơ hội lôi kéo mọi người trong tổ chức tham gia
vào xây dựng và triển khai những quyết định quan trọng, làm rõ phương
hướng hoạt động của tổ chức, đưa ra quyết định trên cơ sở tương lai của tổ
chức, xây dựng những nền tảng cho việc ra quyết định. Ngoài ra lập kế hoạch
chiến lược nâng cao kết quả hoạt động của tổ chức, xây dựng hoạt động cung
của các tổ chức và nhóm chuyên gia, cung cấp cho tổ chức một khung để
đánh giá kết quả hoạt động của mình, lôi cuốn tất cả các cấp quản lý tham
gia vào các giai đoạn xây dựng và thực thi kế hoạch”[12.T19].
1.2. Những định hướng chỉ đạo về phát triển giáo dục Cao đẳng
thực hiện dưới một năm đối với đào tạo nghề có trình độ sơ cấp, từ một đến
ba năm đối với đào tạo nghề có trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng”.
Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là: “đào tạo người lao động có kiến
thức kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm
nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo
điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, tự tìm việc làm hoặc
tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp úng yêu cầu
phát triển kinh tế- xã hội, củng cố quốc phòng an ninh”.
Đào tạo cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn cơ bản và có
kỹ năng ứng dụng vào thực hành cơ bản của một nghề, có khả năng làm việc
10
độc lập vào có tính sáng tạo, ứng dụng công nghệ vào công việc.
1.2.2 Những chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước trong phát
triển giáo dục Cao đẳng
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “đổi mới và
phát triển toàn diện, mạnh mẽ giáo dục, đào tạo. Phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ
cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn; đội ngũ doanh nhân và lao
động lành nghề. Đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội”.
Định hướng phát triển của chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-
2020 chỉ rõ: “Phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu. Tập
trung nâng cao chất lượng giáo dục, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống năng
lực sáng tạo kỹ thuật thực hành, khả năng lập nghiệp. Đổi mới căn bản, toàn
diện nền giáo dục, theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa và hội nhập
quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý, phát triển đội ngũ giáo viên và cán
bộ quản lý là khâu then chốt. Đổi mới cơ chế tài chính, thực hiện kiểm định
chất lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học. Xây dựng môi trường giáo
dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội”.
Đề án đổi mới giáo dục Đại học ở Việt Nam giai đoạn 2006-2020 của
Bộ giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu: “mở rộng quy mô đào tạo, đạt tỷ lệ 200
đảm bảo tiêu chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất, trang thiết bị. Xây dựng đội
ngũ cán bộ quản lý có trình độ, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong
thời kỳ đổi mới Xây dựng được ít nhất 03 trường đào tạo trọng điểm chất
lượng cao, đạt trên 350 sinh viên/ 1 vạn dân vào năm 2015”.
Kế hoạch số 3179/UBND-VX3 ngày 06/8/2009 của UBND tỉnh
Vĩnh Phúc về việc xây dựng kế hoạch đào tạo năm 2010 và kế hoạch 5
năm 2011-2015, trong phần những định hưỡng cơ bản của công tác đào
tạo nguồn nhân lực trong 5 năm tới chỉ rõ: “nâng cấp trường Cao đẳng sư
12
phạm lên trường Đại học Vĩnh Phúc”.
Mục tiêu đề án phát triển trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc đến
năm 2010 được UBND tỉnh phê duyệt tại quyết định số: 1837/QĐ/CT-
UBND ngày 4/7/2005: “xây dựng và phát triển nhà trường đến năm 2008 trở
thành Cao đẳng đa ngành, thực hiện nhiệm vụ chính là đào tạo có chất lượng
đội ngũ giáo viên từ mầm non đến THCS, đồng thời đào tạo một số ngành
phù hợp, phục vụ cho sự phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh, tạo cơ sở vững
chắc để nâng cấp thành Đại học Vĩnh Phúc ở giai đoạn sau ”.
1.3 Mục tiêu, nội dung và phương pháp đào tạo Cao đẳng
1.3.1 Mục tiêu
Mục tiêu được coi là những kết quả cuối cùng của hoạt động định
trước. Mục tiêu thường được mô tả như những động từ hành động và nói cho
ta biết về những gì cần phải làm. Mục tiêu giúp để định hướng trong việc đưa
ra quyết định. Mục tiêu giúp để định hướng trong việc đánh giá kết quả.
Mục tiêu đào tạo Cao đẳng là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ
năng nghề nghiệp, có đạo đức lương tâm nghề nghiệp, có ý thức kỷ luật, có
tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người lao động
có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ, có khả năng làm việc độc lập, có tính sáng tạo,
ứng dụng công nghệ vào công việc, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội.
1.3.2 Nội dung và phương pháp
Mầm non, phổ thông,
Nghề nghiệp
14
Sơ đồ 1. Sơ đồ biểu thị tổng quan về các hệ thống
Với quan niệm đó, luận văn có thể khẳng định rằng trường Cao đẳng
Vĩnh Phúc là một tổ chức giáo dục nằm trong hệ thống giáo dục Quốc dân.
Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân đồng nghĩa với việc đặt
hệ thống giáo dục quốc dân vào hệ thống kinh tế - xã hội Việt Nam thì có thể
xác định được mối quan hệ giữa nhà trường với các hệ thống khác cùng trong
hệ thống lớn và mối quan hệ giữa nhà trường với các hệ thống khác nằm
trong hệ thống kinh tế xã hội của các nước.
Trong mối quan hệ đó có sự quan hệ tương hỗ với nhau: “chiến lược
thường được gắn vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể; chiến lược quân sự chiến
lược con người, chiến lược văn hóa Và có thể là một bộ phận của chiến lược
nào đó Chiến lược giáo dục là một bộ phận của chiến lược kinh tế - xã hội
nói chung, trong mối liên quan với những chiến lược khác”[6.T23].
* Phương pháp lựa chọn ưu tiên
Chúng ta có thể sử dụng phương pháp lựa chọn ưu tiên trong việc xác
định mục tiêu ưu tiên và phương án chiến lược. Muốn bảo đảm tính chính
xác, cần phải xác định hệ thống tiêu chuẩn trước. Hệ thống tiêu chuẩn dùng
trong lựa chọn mục tiêu như:
- Khả năng của hệ thống trong thực hiện mục tiêu
- Tính cấp bách của việc thực hiện mục tiêu
- Lợi ích của việc thực hiện mục tiêu
Tiêu chuẩn để lựa chọn các giải pháp chiến lược có thể gồm: Tính khả
thi của giải pháp về các mặt kỹ thuật và chính trị. Chỉ số chi phí- lợi tức của
giải pháp. Thời gian cần thiết để thực thi giải pháp. Sau khi đã thống nhất các
tiêu chuẩn, chúng được ghép cho những chỉ số về tầm quan trọng. Sử dụng ma
trận ưu tiên, chúng ta có thể xác định được danh sách các mục tiêu hay phương
án có mức độ ưu điểm khác nhau đựa trên điểm số của các phương án đó.
khẳng định vị trí và vai trò của mình như là khâu tiền kế hoạch và không thể
thiếu trong công tác kế hoạch hóa. Khoa học dự báo đã phát triển và ngày
càng được ứng dụng rỗng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có lĩnh
vực giáo dục. Phương pháp dự báo giáo dục đã được ứng dụng rộng rãi ở trên
thế giới trong đó có Việt Nam, đã được khẳng định là một công cụ hiệu quả
trong kế hoạch hóa trung hạn và đặc biệt là dài hạn. Phương pháp dự báo giáo
dục cũng được sử dụng trong quá trình xây dựng kế hoạch chiến lược đào tạo,
vì nó sẽ giúp ta có một bức tranh khái quát về cơ sở giáo dục trong tương lai,
được kết hợp với các phương pháp khác để cho ta có một tầm nhìn tương đối
xác thực về sự phát triển của đối tượng nghiên cứu. Cũng chính từ bức tranh
khái quát về tương lai này để có thể bắt tay xây dựng kế hoạch chiến lược.
Các mục tiêu định lượng này sẽ được dùng làm cơ sở để tính toán và xây
dựng các kế hoạch chi tiết như: kế hoạch tài chính, kế hoạch phát triển đội
ngũ giáo viên, cơ sở vật chất hoặc đề xuất các giải pháp chiến lược. Có rất
nhiều phương pháp dự báo giáo dục được ứng dụng trong thực tiễn trong đó
có một số nhóm phương pháp dự báo giáo dục được ứng dụng rộng rãi như:
- Phương pháp toán xác suất thống kê (hay còn gọi là toán thống kê)
- Phương pháp mô hình hóa
- Phương pháp cảm tính (phương pháp chuyên gia)
Phương pháp toán thống kê chủ yếu người ta tìm kiếm và phát hiện các
quy luật phát triển trong quá khứ hay quá trình giáo dục dựa trên các số liệu
thống kê (dãy số liệu). Trong quá khứ và dựa trên một số tiêu chuẩn nhất định
(ví dụ tiêu chuẩn bình phương nhỏ nhất) mà có thể tìm ra quy luật phát triển
của hiện tượng này. Giả thiết rằng các hiện tượng (hay quá trình giáo dục) này
tiếp tục phát triển trong tương lai theo các quy luật đã được tìm kiếm và phát
hiện mà chúng ta có thể tính toán dự đoán về một số đặc tính định lượng về
đối tượng trong đó một tầm ca dự báo. Đó chính là bản chất và cơ sở của
17
phương pháp ngoại suy xu thế.
Trong quá trình thu nhập để có một tập hợp dữ liệu nhiều khi dãy số
học sinh - sinh viên tốt nghiệp.
Tuy nhiên trong thực tế dự báo giáo dục người ta hay sử dụng không
phải một phương pháp duy nhất mà là một vài phương pháp khác nhau để so
sánh nhằm tìm ra sự bất hợp lý hay hợp lý của các phương án dự báo. Vì thế
có một số người nêu hẳn ra thành nhóm các phương pháp hỗn hợp, nhưng
thực chất chỉ là sự kết hợp của các nhóm phương pháp nêu trên mà thôi.
Chính vì tính khoa học của các dự báo nên công tác lập kế hoạch chiến lược
giáo dục cũng không thể thiếu vắng dự báo giáo dục. Không thể xây dựng kế
hoạch chiến lược tốt nếu không dự báo tốt. Theo Trần Kiều thì “giáo dục
không phải chỉ phục vụ hiện tại mà là tương lai. Bản thân quá trình giáo dục
cũng cần nhìn thấy viễn cảnh để xác định các thành tố của quá trình đó một
cách phù hợp. Dự báo khoa học giáo dục hay dự báo sư phạm có ý nghĩa lớn
trong xây dựng chiến lược giáo dục, giúp con người thoát khỏi tư duy kinh
nghiệm chủ nghĩa, trực giác hoặc mơ huyền”[11.T51].
* Phương pháp chuyên gia
Trong giáo dục, những ý kiến, kiến thưc, kinh nghiệm của các nhà giáo
dục có trình độ và kinh nghiệm có một ý nghĩa rất quan trọng. Họ có cái nhìn
rất chuyên nghiệp về viễn cảnh phát triển của các đối tương giáo dục. Có
nhiều phương pháp khác nhau xung quanh vấn đề lấy các ý kiến của các
chuyên ra về viễn cảnh tương lai và xử lý các ý kiến này như thế nào và phản
ánh ngược lại kết quả xử lý sơ bộ cho các chuyên gia tạo nên sự khác nhau
của các phương pháp chuyên gia. Một ví dụ về phương pháp chuyên gia là
phương pháp Delphi
19
Đánh giá bên trong của tổ chức
Điểm mạnh?
-Nguồn tài chính?
-Nguồn nhân lực tốt?
-Uy tín cao?
-Quán lý tốt?
thuận lợi cho tổ chức đó khai thác các hướng hoạt động mới để đạt được mục
tiêu của mình.
T- Threats; nguy cơ bao gồm bất kì những tình huống không thuận lợi
như rào cản, một sức ép hay bất cứ cái gì có thể gây ra khó khăn có thể phá
hoại hay đe dọa đến khả năng tồn tại và thành công trong tương lai của tổ chức.
Khi ta phân tích môi trường bên trong của hệ thống được tập trung vào
đánh giá các mặt, chủ trương, chiến lược lược hiện có, mục tiêu chương trình,
quy trình giáo dục- đào tạo, tuyển sinh, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí,
chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng giáo viên, tổ chức quản lý cơ sở
giáo dục; nguồn lực, cơ sở vật chất. Việc phân tihcs này sẽ giúp cho việc tìm
ra các điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống. Phương án chiến lược sẽ được xây
dựng trên cơ sở phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu của hệ thống, tận
dụng cơ hội, hạn chế tác động của những đe dạo bên ngoài. Có thể thực hiện
quá trình phân tích bằng cách sử dụng ma trận SWOT để xem xét dự kiến các
phương án chiến lược; phối hợp giữa các mặt S/O, S/T, W/O, W/T, nhằm thu
được nhiều kiểu phối hợp để qua đó hình thành các phương án chiến lược.
1.4.2 Quy trình lập kế hoạch phát triển
Quá trình lập kế hoạch phát triển nói chung và kế hoạch chiến lược về
chất lượng nói riêng được miêu tả như một bản đồ hướng dẫn để hiểu “tổ
chức là cái gì, nó làm gì, và tại sao làm vậy?”. Có thể khẳng định rằng, không
có cách tốt nhất để tiếp cận việc lập kế hoạch phát triển có thể được thực hiện
gần như tại bất kỳ cấp độ nào của một đơn vị, tổ chức, một ngành Dù cho
21
bằng cách tiếp cận nào và cấp độ nào thì để việc lập kế hoạch phát triển thành
công sẽ phải đặt ra bốn câu hỏi:
1. Chúng ta đang ở đâu?
2. Chúng ta muốn đi đến đâu trong tương lai?
3. Làm thế nào để đi đến đó?
4. Làm thế nào để chúng ta đo được sự tiến bộ của chúng ta?
* Lập kế hoạch xây dựng kế hoạch
- Sử dụng cách tiếp cận tích cực trong quá trình quản lý như dự đoán và
có thể thay đổi khi cần thiết.
22