TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
PHÂN HIỆU GIA LAI
ĐỀ TÀI: HỆ SINH THÁI NÔNG NGHIỆP
Nhóm 9
GVHD: TRẦN THỊ THẢO TRANG
THÀNH VIÊN: NGUYỄN THỊ THẢO HUYỀN
NGUYỄN THỊ HỒNG TRÂM
ĐẶNG THỊ TRANG
CHÂU VĂN CHÍ TÀI
NGÔ MINH THỨC
1
Mở đầu ............................................................................................. 4
I/ Mục tiêu tìm hiểu về hệ sinh thái học: .................................... 5
II/ Tìm hiểu các nội dung chính ..................................................... 5
1, Khái niệm hệ sinh thái nông nghiệp là gì? ............................ 5
2. Đặc điểm của hệ sinh thái nông nghiệp: ................................. 5
3/ Tổ chức của hệ sinh thái:. ........................................................ 7
3.1: Tổ chức thứ bâc.................................................................. 7
3.2/ Các hệ thống phụ: .............................................................. 8
4/ Hoạt động của hệ sinh thái nông nghiệp:.............................. 13
4.1/ Sự trao đổi chất và năng lượng trong hệ sinh thái nông
nghiệp: ...................................................................................... 13
4.2/ Các mối quan hệ trong hệ sinh thái nông nghiệp: .......... 13
4.3/ Sự phát triển của hệ sinh thái .......................................... 15
5. Hoạt động công nghiệp hóa nông nghiệp của con người gây ả
nh hưởng lớn đến môi trường: ................................................... 15
6/ Nền nông nghiệp sinh thái học: ............................................ 17
hai hướng : Nông nghiệp năng lượng và nông nghiệp sinh thái. Nông nghiệp
thâm canh với các giống mới, năng suất cao, sử dụng nhiều năng lượng hóa
thạch( phân hóa, thuốc trừ sâu hóa học, các chất kích thích tăng trưởng,...) đã
làm cho con người phải đối đầu với nhiều tiêu cực về môi trường: ô nhiễm
đất và nước, suy thoái đất, độc canh, đầu tư lớn, sự suy giảm chất lượng
cuộc sống,....) Hệ sinh thái nhiệt đới vốn cân bằng một cách mỏng manh rất
dễ bị đảo lộn bởi các phương thức canh tác phản tự nhiên. Điều đó đã buộc
con người phải chuyển hướng sản xuất nông nghiệp theo hướng sử dụng hợp
lí tài nguyên bảo vệ môi trường, thỏa mãn các nhu cầu của con người hiện
tại nhưng không làm tổn hại đến nhu cầu của thế hệ tương lai, đó là mục tiêu
của việc xây dựng và phát triển nền nông nghiệp bền vững và đó cũng là lối
đi cho tương lai.
4
I. Mục tiêu tìm hiểu về hệ sinh thái học:
Nắm được khái niệm về sinh thái học
Hiểu được vai trò của sinh thái học đối với đời sống và
sản xuất nông nghiệp.
Phân biệt được nhân tố vô sinh hữu sinh và nhân tố con
người
Phân tích được cơ chế động của các nhân tố sinh thái lên
đời sống vật chất
II. Tìm hiểu các nội dung chính
nông
5
Mục đích
- Chủ yếu kéo dài sự
- Chủ yếu cung cấp cho
sống của các loài
con người các sản phẩm của
cây trồng, vật nuôi, sự sống
của sinh vật trong hệ sinh
thái nông nghiệp bị quy định
bởi con người
Vật chất và
-có sự trả lại hầu như
- Vật chất bị lấy đi khỏi
năng lượng
hoàn toàn khối lượng chất hệ sinh thái để cung cấp cho
hữu cơ và chất khoáng trong con người. Vì vậy chu trình
sinh khối của các vật sống vật chất hở.
cho đất, chu trình vật chất
khép kín.
Khả năng phục
- Các hệ sinh thái tự
- Các hệ sinh thái thứ
hồi
nhiên có sự tự phục hồi lớn, cấp do con người phục hồi,
3.1. Tổ chức thứ bâc
Hệ thống sống là hệ thống có thứ bậc, bắt đầu từ những đơn vị nhỏ nhất
của nhiễm sắc thể đến các mức độ tổ chức cao hơn nh tế bào, mô, cá thể v.v .
và cuối cùng là hệ sinh thái ở đỉnh cao của hệ. Trong HSTNN, mối liên hệ
thứ bậc có thể kéo dài từ cây trồng ở mức quần thể, qua hệ canh tác ở mức
quần xã đến HSTNN ở mức cao nhất. Sau đây là sơ đồ tổ chức thứ bậc của
hệ sinh thái nông nghiệp và hệ sinh thái tự nhiên:
Hệ sinh thái
hệ sinh thái nông nghiệp
Quần xã
Hệ cây trồng
Quần thể
Cây trồng
Cơ thể
Cơ quan
Mô
Tế bào
Gen
Nhiễm sắc thể
7
*Sơ đồ mô tả cụ thể tổ chức thứ bậc của hệ sinh thái nông nghiệp bao
Trong sinh quyển phân ra loại hệ sinh thái chủ yếu
HST tự nhiên như : rừng, đồng cỏ, sông hồ, biển ... .
HST đô thị bao gồm các thành phố lớn và các khu
công nghiệp
HST nông nghiệp
- HSTNN cũng có tổ chức bên trong của nó, có thể chia ra các HST phụ
sau :
Ðồng ruộng cây hàng năm (lúa, cây công nghiệp
ngắn ngày : mía, đay, bố ...) .
Vườn cây lâu năm .
Ðồng cỏ chăn nuôi .
Ao nuôi thủy sản .
Khu vực dân cư .
Trong các HST phụ, HST đồng ruộng cây hàng năm chiếm diện tích rất
8
lớn . HST cây lâu năm về thực chất không khác mấy so với HST rừng . HST
đồng cỏ về tính chất gần giống các HST tự nhiên . HST ao hồ là nội dung
nghiên cứu chủ yếu của nghề nuôi cá, dính đến HST nước ngọt.
Hệ sinh thái đồng ruộng theo quan điểm của điều khiển học là những hệ
thống phức tạp. Hệ thống ấy gồm những hệ thống phụ nhỏ hơn và các yếu tố
của hệ thống, theo Dào Thế Tuấn các hệ thống phụ bao gồm:
Hệ phụ khí tượng: Bao gồm các yếu tố như bức xạ mặt
trời, nhiệt độ, mưa, độ ẩm không khí, lượng CO2, lượng O2, gió, các yếu
tố này tác động lẫn nhau và tác động vào đất, cây trồng, quần thể sinh
bình thế giới là 0,38 ha/năm (1970) xuống còn 0,28 ha/năm (1990) mà chủ
yếu là do tăng trưởng dân số và mất đất nông nghiệp .(Khoa, 1999) .
*Tìm hiểu về hệ sinh thái nông nghiệp ở Tây Nguyên:
9
1/ Về trồng trọt
Tuy không phải là vựa lúa của cả nước nhưng là nơi tập trung phần
lớn diện tích cây công nghiệp – cây kinh tế thế mạnh và là nguồn
lực phát triển của vùng.
- Cây lương thực: Tuy Tây Nguyên không phải là vùng có thế
mạnh về sản xuất lương thực nhưng Tây Nguyên đã sản xuất đạt
bình quân lương thực đầu người trên 300kg/năm, về cơ bản đã chủ
động được lương thực cho toàn bộ dân số trong vùng.
Cây lương thực có hạt của vùng chiếm 5,25% tổng diện tích cây có
hạt của cả nước với sản lượng chiếm khoảng 4,7% tổng sản lượng
cây có hạt của cả nước.
+ Cây lúa: Diện tích lúa của vùng năm 2008 là 211,7 nghìn ha
chiếm 2,86% tổng diện tích lúa cả nước, với sản lượng 938,4 nghìn
tấn chiếm 2,42% tổng sản lượng lúa của cả nước, năng suất bình
quân của cả nước 52,2 tạ/ha. Ruộng bậc thang là một hình thức
canh tác chủ yếu.
+ Cây lương thực khác:
Diện tích cây ngô của vùng năm 2008 là 236,9 nghìn ha chiếm
21% diện tích ngô cả nước và sản lượng là 1093,9 nghìn tấn chiếm
24,1% sản lượng ngô của cả nước với năng suất bình quân là 46,2
tạ/ha.
- .Cây hoa màu: Đây là vùng có điền kiện thuận lợi để gieo trồng
và sản xuất các loại rau, củ quả ôn đới.
.- Cây công nghiệp hàng năm: Đây là vùng có nhiều điều kiện tự
+ Cây cao su:
Điều kiện khí hậu Tây Nguyên tạo điều kiện thuận lợi cho việc
phát triển diện tích cao su. Mức độ độc canh vùng cao su tập
trung tại Gia Lai với 49,8% và Kon Tum 21,5% % diện tích.
Từ 1995 đến 2008, diện tích canh tác của cao su tăng 3,2 lần
(45335tấn lên 147025tấn).
Cao su – Một loại rừng mới ở Tây Nguyên
+ Cây chè:
Chè là một trong những cây chiếm diện tích lớn ở Tây Nguyên với
11
vùng chè tập trung chủ yếu tại Lâm Đồng với gần 95% diện tích.
Sản lượng chè xuất khẩu chiếm tỉ trọng 24,24% đứng thứ hai sau
Miền núi và Trung du Bắc Bộ.
2/ Đồng cỏ và chăn nuôi
Phát huy thế mạnh của khu vực có lợi thế về điều kiện tự nhiên,
đồng cỏ, nguồn nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc phong phú.
Hiện nay, các tỉnh Tây Nguyên đã có tổng đàn bò trên 747.900 con,
tăng 21,21% so cùng kỳ này năm ngoái và cao hơn so với tăng
trưởng trong toàn quốc là 17,5% đàn trâu 79.025 con tăng gần 10%,
tổng đàn dê, cừu 116.100con, tăng 81,8% so củng kỳ năm ngoái.
Các tỉnh Tây Nguyên hiện có tổng đàn lợn gần 1,4 triệu con, 7,8
triệu con gia cầm và 272.194 đàn ong (chiếm 40,08% tổng đàn, và
64,5% sản lượng mật của cả nước), Tây Nguyên đã phát triển hàng
ngàn trang trại chăn nuôi bò, trâu, lợn, dê với quy mô mỗi trang
trại từ 100con trở lên, trong đó riêng bò có 919 trang trại.
Công tác phát triển chăn nuôi mang lại những quả nhất định góp
phần thúc đẩy nền kinh tế của các tỉnh Tây Nguyên.
Đồng cỏ chăn bò trên cao nguyên Mộc Châu
nông thôn với thành thị, giữa nông nghiệp với công nghiệp .
HSTNN trao đổi chất và năng lượng với HST tự nhiên như : lúa gạo bị
côn trùng, chuột bọ phá hại hay sự xâm nhập của vật lạ, khai thác nông
nghiệp, săn bắt thú hoang hoặc vật nuôi thoát ra ngoài thành thú hoang .
Như vậy năng suất của HSTNN phụ thuộc vài 2 nguồn năng lượng
chính :
Năng lượng do bức xạ của mặt trời cung cấp .
Năng lượng do công nghiệp cung cấp .
4.2. Các mối quan hệ trong hệ sinh thái nông nghiệp:
HSTNN do con người tổ chức theo ý muốn của mình, do đấy một số
thuộc tính của quần thể sinh vật được con người điều chỉnh . Quần thể cây
trồng là quần thể chủ đạo của HST đồng ruộng, có những đặc điểm chủ yếu
sau :
- Mật độ của quần thể (QT) do con người quy định trước, từ lúc gieo
13
trồng
- Sự sinh sản, tử vong và phát tán không xảy ra một cách tự phát mà
chịu sự điều khiển của con người .
- Ðộ tuổi của quần thể cũng đồng đều vì có sự tác động của con người .
Ngoài ra trong các QT của HSTNN cũng có một số loài
QT gần giống với các QT tự nhiên như cỏ dại, côn trùng trong các ruộng cây
trồng ... . Những QT này cũng chịu tác động thay đổi của con người nhưng ít
hơn QT cây trồng .
QT một loài là dạng phổ biến nhất trong ruộng cây
trồng .
·
Sự cạnh tranh
Chuỗi thức ăn ở các HST trẻ thẳng và có kiểu của đồng cỏ : thực vật,
động vật ăn cỏ, động vật ăn thịt .
+ Về mặt cấu trúc : HST trẻ ít đa dạng về loài, ít có các tầng trong
không gian . Vật sống ở các HST trẻ thường không khép kín, tốc độ trao đổi
chất giữa sinh vật với môi trường cao . Tốc độ sinh trưởng và sinh sản của
các loài cỏ ở các HST trẻ thường nhanh, năng suất chủ yếu do năng số lượng
quyết định .
Sử dụng mối quan hệ sinh học trong QT để nâng cao năng suất và tăng
tính ổn định của các HST . HST tự nhiên có khuynh hướng kéo HSTNN về
HST tự nhiên : là trong canh tác thì sâu bệnh phát triển, sự đa dạng tăng Tuy
nhiên, trong HSTNN thường rất ít loài, khi bị sâu bệnh trở tay không kịp nạn
đói .
Phải có kiến thức sinh thái học trong khai thác nông
nghiệp . Vì giữa các loài có mối quan hệ chằng chịt, con người phải tập sống
với các loài vì con người cũng là một loài như những sinh vật khác
5. Hoạt động công nghiệp hóa nông nghiệp của con người gây ảnh hưởng
lớn đến môi trường:
Con người tác động vào các điều kiện môi trường của hệ sinh thái tự
nhiên bằng cách thay đổi hoặc cải tạo chúng như:
Chuyển đất rừng thành đất nông nghiệp làm mất đi nhiều
loại động, thực vật quý hiếm, tăng xói mòn đất, thay đổi khả năng
điều hoà nước và biến đổi khí hậu v.v...
Cải tạo đầm lầy thành đất canh tác làm mất đi các vùng
đất ngập nước có tầm quan trọng đối với môi trường sống của nhiều
loài sinh vật và con người.
Chuyển đất rừng, đất nông nghiệp thành các khu công
nghiệp, khu đô thị, tạo nên sự mất cân bằng sinh thái khu vực và ô
họ vào tình trạng nợ nần và phụ thuộc, nhất là khi mất mùa.
Oxfam cũng giới thiệu một số các mô hình nông nghiệp sinh thái hiệu
quả đã được áp dụng ở nhiều nước. Tại Việt Nam, trong những năm qua,
Oxfam đã cùng với đối tác thực hiện thí điểm hai mô hình tiêu biểu là khoai
tây trồng với phương pháp làm đất tối thiểu và hệ thống thâm canh lúa cải
tiến SRI. Ví dụ mô hình trồng lúa thâm canh cải tiến SRI có những điểm
mấu chốt bao gồm bắt đầu với việc gieo giống thưa, và cấy mạ non hơn, trên
đất ẩm, thay vì đất liên tục ngập nước. Kết quả là rễ lúa phát triển khỏe hơn,
năng suất tăng cao hơn, trong khi lại giảm lượng nước tưới từ 25-50%.
Phương pháp trồng lúa này có thể giúp nông dân tiết kiệm tới 90% lượng
hạt giống và thải ít khí mê-tan ra môi trường. Kết hợp giảm chi phí đầu
16
vào và tăng năng suất, nông dân có thể tăng thu nhập khoảng 4.2 – 6.3 triệu
đồng/ha/vụ. Theo ước tính của Bộ Nông nghiệp, tính đến cuối năm 2013
Viêt Nam có 1,8 triệu nông dân, trên 70% là phụ nữ, ứng dụng SRI trên
diện tích 366,951 ha lúa.
Việt Nam đã có những bước tiến đáng khích lệ về nông nghiệp trong
nhiều năm qua. Tuy nhiên, nông dân sản xuất nhỏ tại các vùng nông thôn, dù
đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển, vẫn gặp nhiều khó khăn
trong đời sống, cả về các chính sách hỗ trợ, lẫn phương pháp canh tác.
“Một điểm quan trọng cần nhấn mạnh là, chúng ta không nên dồn toàn
bộ đầu tư vào sản xuất nông nghiệp theo phương thức công nghiệp bởi
những hậu quả về môi trường, kinh tế và xã hội mà nó gây ra. Trong khi đó
đầu tư vào nông nghiệp sinh thái tại Việt Nam sẽ mang lại hiệu quả cao và
bền vững,” Bà Nguyễn Thị Lê Hoa, Trưởng Đại diện Oxfam nói.
Báo cáo của Oxfam cũng khuyến nghị các chính phủ nên có những
chính sách để đẩy mạnh nông nghiệp sinh thái như: Đảm bảo quyền tham gia
của nông dân sản xuất nhỏ trong việc xác định các chính sách và các khoản
+ Các đai rừng phòng hộ cản sóng, chủ yếu là các dải rừng chắn sóng
bảo vệ đê, biển, bảo vệ sản xuất nông nghiệp.
+ Các đai rừng phòng hộ chắn gió như các dải rừng phi lao chắn gió và
cát bay.
+ Các đai rừng phòng hộ chống xói mòn đất và gió ở vùng núi và cao
nguyên.
*Ý nghĩa:
+ về mặt kinh tế:Làm giảm tác hại của các loài sâu hại tạo ra nhiều sản
phẩm trên cùng một đơn vị diện tích.
+ Là mô hình lấy ngắn nuôi dài, trong những năm đầu trồng cây lâm
18
nghiệp thì có thể bán sản phẩm nông nghiệp để bù đắp chi phí đầu tư cây
lâm nghiệp.
+ Về mặt sinh thái: Đây là mô hình sinh thái bền vững có sự tác động
qua lại của cây lâm nghiệp và nông nghiệp đem lại lợi ích thiết thự.
Cây nông nghiệp: Che phủ đất, hạn chế cỏ dại,giữ ẩm cho
đất,chống xói mòn tạo điều kiện cho cây lâm nghiệp phát triển.
Phòng hộ cho cây nông nghiệp( Chắn gió,bão,che bóng, giữ
nước ,cải tạo đất)
Mô hình VAC:
- Là một HST hoàn chỉnh một chu trình kín, ít phế thải nông nghiệp,
hiệu quả kinh tế cao.
+ V:Vườn bao gồm các hoạt động trồng trọt, sử dụng năng lượng mặt
19
thức ăn cho gia súc hay thức ăn cho cá.
* Ý nghĩa VACB:
+ Là mô hình khép kín, hiệu quả tái sinh tốt hơn VAC
+ Thay thế một phần nguồn năng lượng không tái tạo dùng cho việc
đun nấu, thắp sáng
+ Giaỉ quyết vấn đề ô nhiễm môi trường từ nguồn chất thải nông nghiệp,
biến chúng thành nguồn phân bón cũng như thức ăn cho cá
+ Hầm biogas có thể sử dụng như một hầm tự hoại
+ Phù hợp với mô hình sản xuất vừa và nhỏ.
21
III. KẾT LUẬN:
Như vậy, nền nông nghiệp sinh thái ở nước ta đang được phát triển theo
hướng tích cực với nhiều mô hình đa dạng, phù hợp với tình hình nông
nghiệp Việt Nam. Với những kết quả đã đạt được thì chúng ta có thể thấy
rằng nông nghiệp sinh thái chính là lối đi cho tương lai trong nền sản xuất
nông nghiệp ở nước ta. Bên cạnh đó,chúng ta nên tang cường học hỏi,trao
đổi và tiếp thu kinh nghiệm từ những mô hình nông nghiệp sinh thái của các
nước có nền nông nghiệp sinh thái phát triển . Chúng ta tin chắc rằng,với
những điều kiện mà thiên nhiên ưu ái và trình độ sản xuất nôngnghiệp đã và
đang được nâng cao sẽ giúp nước ta có nền nông nghiệp sinh thái phát triển
bền vững trong tương lai.
Hệ sinh thái nông nghiệp có nhiều lợi ích cũng như tiềm năng để phát
triển khá cao. Tuy nhiên nó cũng gây ảnh hưởng nhiều đến môi trường nếu
chúng ta không có phương pháp thực hiện nông nghiệp sinh thái. Là một nhà
quản lý môi trường, chúng ta cần nắm chắc về hệ sinh thái nông nghiệp cũng
như sinh thái học nông nghiệp để đề ra những giải pháp, nghiên cứu những
mô hình sinh thái phù hợp than thiện với môi trường.