Báo cáo Phân tích ảnh hưởng của hoạt động khai thác khoáng sản đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

BÁO CÁO
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC
KHOÁNG SẢN ĐẾN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
VÀ MÔI TRƯỜNG

1


MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 3
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu tác động của khai thác khoáng sản ảnh hưởng đến
tài nguyên và môi trường ................................................................................................ 3
2.Mục tiêu, quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu ........................................ 5
II. PHẦN 2: NỘI DUNG .................................................................................................... 6
NHỮNG TÁC ĐỘNG, ẢNH HƯỞNG CỦA KHAI THÁC KHOÁNG SẢN ĐẾN MÔI
TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI............................................................................................... 7
1. Hiện trạng khai thác tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam........................................... 7
1.1 Quặng sắt: .............................................................................................................. 7
1.2 Quặng Bô xít ....................................................................................................... 7
1.3 Quặng titan ............................................................................................................ 8
1.4 Than.......................................................................................................................8
2.Đánh giá và nhận xét chung về tình hình khai thác khoáng sản ở Việt Nam............ 10
3. Tác động của hoạt động khai thác khoáng sản đến tài nguyên và môi trường. ....... 12
3.1 Ô nhiễm nguồn nước ........................................................................................... 12
3.2 Ô nhiễm không khí .............................................................................................. 14
3.3 Hoạt động khai thác khoáng sản là nguyên nhân dẫn đến phá rừng, giảm độ che
phủ của rừng .............................................................................................................. 15
3.4 Tác động đến nông nghiệp- nông thôn ................................................................ 17

ngành có đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng GDP. ( Báo tn&mt vn-2015)

Tuy nhiên, hoạt động khai thác khoáng sản đã và đang tác động xấu đến môi
trường xung quanh như: tác động đến cảnh quan và hình thái môi trường, tích tụ và
phát tán chất thải, làm ảnh hưởng đến việc sử dụng nguồn nước, ô nhiễm nước, tiềm
ẩn nguy cơ về dòng thải axit mỏ… Những hoạt động khai thác khoáng sản, đặc biệt
3


khai thác than, titan, bauxite đang phá vỡ cân bằng hệ sinh thái, gây ô nhiễm nặng
nề với môi trường, trở thành vấn đề cấp bách mang tính chất xã hội và chính trị của
cộng đồng

Công tác khai thác khoáng sản gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (Ảnh: deec.vn)

Hạn chế ô nhiễm môi trường, hướng tới phát triển bền vững trong khai thác
khoáng sản đang là vấn đề cấp bách, nhận được sự quan tâm rất lớn của cộng đồng.
Giải quyết vấn đề này cần sự chung tay của tất cả các ngành liên quan, sự đồng lòng
của Nhà nước, Nhân dân và phụ thuộc rất lớn vào ý thức doanh nghiệp khai khoáng.

Hội thảo về chính sách khai thác khoáng sản và phát triển bền vững

Cần giáo dục, tuyên truyền và nâng cao nhận thức của mọi người trong khai
thác khoáng sản: về hiện trạng khai thác khoáng sản, những tác động của khai thác
khoáng sản đến tài nguyên thiên nhiên, môi trường và cuộc sống của con người. Để
từ đó có thể đưa ra biện pháp khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản hợp lý, tiết
4


kiệm, tìm ra những phương pháp tiên tiến để khai thác hiệu quả hơn, và các biện



tin liên quan đến tài nguyên và môi trường : khai thác, sử dụng, những bấp cập trong
khai thác tài nguyên và những vấn đề môi trường trên các báo đời sống, báo tài
nguyên môi trường
- nghiên cứu từ các thông tin trên Internet: các diễn đàn tài nguyên và môi trường,
cổng thông tin của các cơ quan tài nguyên môi trường: các số liệu thống kê về tài
nguyên Việt Nam và các tỉnh, thành trên cả nước, các phân tích, nhận định chuyên
sâu về vấn đề tài nguyên- môi trường- con người của các chuyên gia đầu ngành.

II. PHẦN 2: NỘI DUNG
6


NHỮNG TÁC ĐỘNG, ẢNH HƯỞNG CỦA KHAI THÁC
KHOÁNG SẢN ĐẾN MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI.
1. Hiện trạng khai thác tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam
Trong những năm qua, ngành CN khai khoáng đã đóng vai trò quan trọng và
tích cực trong sự nghiệp phát triển công nghiệp Việt Nam và nền kinh tế đất nước.
Đã cơ bản đáp ứng đủ và kịp thời nguyên liêụ cho nền kinh tế quốc dân như ngành
than đã cung ứng đầy đủ và kịp thời nguyên liệu cho ngành điện, xi măng, hoá chất,
giấy; khoáng sản thiếc, chì kẽm, sắt đã cung ứng đủ cho ngành luyện kim; khoáng
sản apatit đã cúng cấp đủ cho ngành Hoá chất, phân bón. Đồng thời khoáng sản và
sản phẩm chế biến của khoáng sản đã có một phần xuất khẩu, tăng giá trị GDP. 2
loại khoáng sản có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất là dầu khí và than (năm 2012
khoảng 10 tỷ USD).
1.1 Quặng sắt:
Ở Việt Nam hiện nay đã phát hiện và khoanh định được trên 216 vị trí có
quặng sắt, có 13 mỏ trữ lượng trên 2 triệu tấn, phân bố không đều, tập trung chủ yếu
ở vùng núi phía Bắc.

cóc” gây lãng phí tài nguyên, gây tác động xấu đến môi trường, gây tình trạng tranh
chấp trong sản xuất và thị trường.
Ngành Titan phát triển thiếu quy hoạch, mất cân đối, chưa có công nghệ chế
biến sâu, hiện nay đang phải xuất quặng tinh, nhưng đang phải nhập khẩu các chế
phẩm từ quặng titan cho nhu cầu trong nước với mức độ tăng.
1.4 Than
Việt Nam là nước có tiềm năng về than khoáng các loại. Than biến chất thấp
(lignit - á bitum) ở phần lục địa trong bể than sông Hồng tính đến chiều sâu 1700m
có tài nguyên trữ lượng đạt 36,960 tỷ tấn. Nếu tính đến độ sâu 3500m thì dự báo
8


tổng tài nguyên than đạt đến 210 tỷ tấn.

Khai thác và vận chuyển than

Than biến chất trung bình (bitum) đã được phát hiện ở Thái Nguyên, vùng
sông Đà và vùng Nghệ Tĩnh với trữ lượng không lớn, chỉ đạt tổng tài nguyên gần 80
triệu tấn.
Than biến chất cao (anthracit) phân bố chủ yếu ở các bể than Quảng Ninh,
Thái Nguyên, sông Đà, Nông Sơn với tổng tài nguyên đạt trên 18 tỷ tấn. Bể than
Quảng Ninh là lớn nhất với trữ lượng đạt trên 3 tỷ tấn. Bể than Quảng Ninh đã được
khai thác từ hơn 100 năm nay phục vụ tốt cho các nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Khai thác, chế biến than quy mô công nghiệp đang từng bước được nâng cao
về năng lực công nghệ, thiết bị, quản lý. Hoạt động sản xuất, kinh doanh đã có sự
gắn kết chặt chẽ giữa mục tiêu lợi nhuận, kinh tế với trách nhiệm bảo vệ môi trường,
bảo vệ tài nguyên khoáng sản. Tuy nhiên còn hạn chế quy mô công nghiệp ở nước ta
hiện chưa đồng đều về hiệu quả kinh tế, về việc chấp hành các quy định của pháp
luật về khoáng sản, về bảo vệ môi trường


môi trường.tai nạn lao động trong khai thác khoáng sản, đặc biệt trong khai thác
hầm lò và khai thác đá, xảy ra thường xuyên với tỷ lệ thương vong khá cao. Điều
này thể hiện trình độ phát triển thấp và công tác quản lý rất lỏng lẻo trong lĩnh vực
này

10


Hoạt động khai thác còn lạc hậu, kém hiệu quả

Công tác quản lý, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác vẫn còn gặp khó khăn về
xác định và bố trí kinh phí cho công tác bảo vệ khoáng sản chưa được quy định rõ;
chính quyền quản lý trực tiếp ở địa phương vẫn chưa thực sự thực hiện hết trách
nhiệm trong quản lý, bảo vệ khoáng sản chưa khai thác.

Quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản còn nhiều bất cập, lỏng lẻo. Tuy đã
có nhiều văn bản hướng dẫn thi hành về khai thác khoáng sản, tuy nhiên ở rất nhiều
các địa phương công tác quản lý và khai thác khoáng sản còn buông lỏng, thiếu
trách nhiệm, vẫn để các tình trạng vi phạm pháp luật, chống đối lại cơ quan Nhà
nước.
PGS.TS Lưu Đức Hải, Khoa Môi trường, ĐH Khoa học Tự nhiên –
ĐHQGHN cho rằng, vấn đề bất cập hiện nay trong chế biến khoáng sản ở Việt Nam
là có rất ít doanh nghiệp quan tâm đến các sản phẩm phụ và chất thải có thể tận thu
11


trong quá trình chế biến khoáng sản, gây lãng phí tài nguyên của đất nước. Một số
trường hợp, giá trị của chất thải rắn, lỏng bị loại bỏ khỏi dây truyền chế biến quặng
có giá trị kinh tế, chưa được tận dụng.


ô nhiễm nguồn nước trầm trọng ở khu vực mỏ than
- Trong

các mỏ thiếc sa khoáng, biểu hiện chính của ô nhiễm hoá học là làm
đục nước bởi bùn – sét lơ lửng, tăng hàm lượng các ion sắt và một số khoáng vật
nặng. Các chất thải này không được xử lý, thải trực tiếp và môi trường, làm đọc hại
nguồn nước khu vực cũng như vùng xung quanh, không chỉ làm ô nhiễm nguồn
nước mặt mà còn ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước trong không khí khi bốc hơi.
- Việc khai thác và tuyển quặng vàng phải dùng đến thuốc tuyển chứa Hg,
ngoài ra, các nguyên tố kim loại nặng như asen, antimoan, các loại quặng sunfua, có
thể rửa lũa hoà tan vào nước. Vì vậy, ô nhiễm hoá học do khai thác và tuyển quặng
vàng là nguy cơ đáng lo ngại. Tại những khu vực này, nước thường bị nhiễm bẩn
bởi bùn sét, một số kim loại nặng và hợp chất độc như Hg, As, Pb v.v… mà nguyên
nhân chính là do nước thải, chất thải rắn không được xử lý đổ bừa bãi ra khai trường
và khu vực tuyển quặng.

\

ô nhiễm nguồn nước do khai thác khoáng sản ở Tuyên Quang

13


3.2 Ô nhiễm không khí
- Những hoạt động làm đường chuyên chở than, tổn trữ đất mặt, di chuyển
chất thải và chuyên chở đất và than làm tăng lượng bụi xung quanh vùng khai mỏ.
Bụi làm giảm chất lượng không khí tại ngay khu khai mỏ, tổn hại thực vật, và sức
khỏe của công nhân mỏ cũng như vùng lân cận

bụi do vận chuyển than

hiếm có thể bị tuyệt chủng. Tác động lâu dài và sâu rộng đến động, thực vật hoang
dã là mất hoặc giảm chất lượng sinh cảnh.

15


Bảng 1. Diện tích rừng tự nhiên bị mất do khai thác khoáng sản

Một ví dụ điển hình là hiện nay trong khu vực Hòn Gai – Cẩm Phả có khoảng
30 mỏ than lớn nhỏ đang hoạt động, bình quân khoảng 2.000ha, có 1 mỏ với tổng
diện tích là 175km2, chiếm 28,7% tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố Hạ
Long và thị xã Cẩm Phả. Trong giai đoạn 1970 – 1997, các hoạt động khai thác than
ở Hòn Gai, Cẩm Phả đã làm mất khoảng 2.900ha đất rừng các loại (trung bình mỗi
năm mất 100 – 110ha) , trong đó khoảng 2.000ha bị mất do mở vỉa, đổ đất đá thải.
Độ che phủ rừng tự nhiên từ 33,7% năm 1970 giảm xuống 6,7% (1985) và 4,7%
(1997)
Đơn vị: %

Bảng 3. Biến động độ che phủ rừng khu vực Hòn Gai – Cẩm Phả

16


3.4 Tác động đến nông nghiệp- nông thôn
- Trong khai thác mỏ,diện tích đất xung quanh các bãi thải quặng có thể bị bồi
lấp do sạt lở, xói mòn của đất đá từ các bãi thải, gây thoái hoá lớp đất mặt. Việc đổ
bỏ đất đá thải tạo tiền đề cho mưa lũ bồi lấp các sông suối, các thung lũng và đồng
ruộng phía chân bãi thải và các khu vực lân cận. Khi có mưa lớn thường gây ra các
dòng bùn di chuyển xuống vùng thấp, vùng đất canh tác, gây tác hại tới ruộng vườn,
nhà cửa, vào mùa mưa lũ thường gây ra lũ bùn đá, gây thiệt hại lớn

- Người lao động khai thác mỏ luôn phải đối mặt với nhiều nguy cơ tai nạn
lao động do lở đất đá, sập hầm, bục nước, nhiễm độc khí mêtan và mắc các bệnh
nghề nghiệp phổ biến trong ngành khai thác mỏ như bệnh bụi phổi-silic, bệnh bụi
phổi-amiăng, bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn, bệnh rung cục bộ tần số cao, bệnh
nghề nghiệp do rung toàn thân, bệnh viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp, bệnh
phóng xạ nghề nghiệp, bệnh nhiễm độc cadimi nghề nghiệp, nhiễm độc mangan
nghề nghiệp, nhiễm độc cacbonmonoxit nghề nghiệp, nhiễm độc TNT
(trinitrotoluen) và bệnh da nghề nghiệp.

18


Công nhân khai thác than ở Quảng Ninh

-Bụi, sỉ than và rất nhiều phế thải khác cũng làm ô nhiễm nặng môi trường
sống, và ảnh hưởng tới sức khỏe người dân địa phương. Người dân địa phương khu
vực này thường xuyên gặp các bệnh về hô hấp, nhiễm độc. Khai thác Titan gây ô
nhiễm hóa chất và ô nhiễm phóng xạ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người
dân địa phương
Vì vậy, chăm sóc sức khỏe cho người lao động khai thác mỏ là vấn đề quan
trọng, cần được quan tâm.
Tóm lại: Các hoạt động khai thác khoáng sản đã gây ra nhiều tác động xấu
đến môi trường xung quanh, nhưng có thể nói gọn lại trong một số tác động chính
như sau: sử dụng chưa thực sự có hiệu quả các nguồn khoáng sản tự nhiên; tác
động đến cảnh quan và hình thái môi trường; tích tụ hoặc phát tán chất thải rắn;
làm ảnh hưởng đến nguồn nước, ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất; làm
ảnh hưởng đến đa dạng sinh học; gây tiếng ồn và chấn động; sự cố môi trường; tác
động đến công nghiệp nói chung; tác động đến kinh tế – xã hội; gây ảnh hưởng đến
sức khoẻ và an toàn của người lao động


thăm dò, khai thác, chế biến. Điều tra chi tiết, quy hoạch khai thác và chế biến

20


khoáng sản, không xuất thô các loại nguyên liệu khoáng, tăng cường tinh chế và
tuyển luyện khoáng sản.
cao nhận thức, ý thức của người dân, doanh nghiệp về vấn đề khai thác
khoáng sản và những tác động đến môi trường và con người .Tăng cường công
tác tuyên truyền, vận động, nâng cao và giáo dục ý thức bảo vệ cảnh quan, môi
trường trong khai thác, chế biến khoáng sản trên các phương tiện thông tin đại
chúng cho mọi người dân nói chung và các tổ chức tham gia hoạt động khoáng
sản nói riêng.
- Nâng

Phần 3 .KẾT LUẬN
Việt Nam là quốc gia giàu có về tài nguyên thiên nhiên với số lượng, trữ
lượng và chất lượng các tài nguyên khoáng sản là rất lớn. Tuy nhiên do hoạt động
khai thác còn thiếu hiệu quả, không hợp lý gây lên tác động, ảnh hưởng xấu đến môi
trường và con người: làm tổn thất tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường
và gây hại đến sức khỏe cộng đồng. Để giải quyết tốt vấn đề này cần sự quan tâm
của Nhà nước, các cơ quan, tổ chức có liên quan, và phụ thuộc rất lớn vào ý thức của
doanh nghiệp và người dân.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
-Văn Hữu Tập-Tác động từ hoạt động khai thác khoáng sản đến môi trường
( />-Hiện trạng khai thác khoáng sản tại Việt Nam
( />-Ngành công nghiệp khai thác khoáng sản ở Việt Nam còn nhiều bất cập
( />-Văn Hữu Tập- Đánh giá tác động môi trường, Khai thác than tác động đến môi trường
( />


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status