SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"CÁCH THỨC DẠY TÁC PHẨM TỰ SỰ Ở TRƯỜNG THPT"
1
A. ĐẶT VẤN ĐÊ
1. Lí do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết, tác phẩm tự sự chiếm một số lượng lớn trong chương trình Ngư
văn ở trường phổ thông. Việc khai thác, tìm hiểu, khám phá và hiểu tác phẩm tự sự một
cách có hiệu quả cao vẫn đang là một thử thách lớn với giáo viên và học sinh.
Trong nhưng năm gần đây, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học được đặt ra như
một yêu cầu cấp thiết được toàn Đảng, toàn dân đặc biệt quan tâm. Nghị quyết TW2 khoá
VIII và kết luận của hội nghị TW6 khoá IX nêu rõ : “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp
giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói quen nề nếp, tư duy
sáng tạo của người học”.
Từ yêu cầu đó, trong nhưng năm qua Bộ GD –ĐT đã từng bước có nhưng cải tiến
tích cực như việc cải cách chương trình, thay sách giáo khoa, tổ chức các lớp bồi dưỡng
đổi mới phương pháp giảng dạy cho giáo viên, đổi mới cách thức ra đề thi…Đặc biệt, gần
đây nhất là tập huấn về cách thức dạy học theo chuẩn kiến thức, kĩ năng và cách ra đề
theo ma trận. Nhờ đó, trong công tác giảng dạy, kiểm tra đánh giá nói riêng và giáo dục
nói chung đã đạt được nhưng kết quả nhất định.
Tuy nhiên, nhận thức về đổi mới phương pháp dạy học trong phần lớn giáo viên
còn chuyển biến chậm do thói quen vận dụng các phương pháp dạy học truyền thống, do
ngại thay đổi, do chưa thực sự tâm huyết với nghề hoặc nên chưa có sự vận dụng, đổi
mới phương pháp dạy học. Bên cạnh đó, còn có sự chi phối của yếu tố khách quan là:
ngành Giáo dục - Đào tạo chưa thực sự có nhiều lớp bồi dưỡng đổi mới phương pháp dạy
học thật căn bản, cụ thể cho giáo viên, cho nên nhiều giáo viên còn gặp nhiều khó khăn,
lúng túng trong phương pháp giảng dạy. Vì thế, ở đề tài này người viết xin đề cập đến
Theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong: “Từ điển thuật ngữ văn
học" (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội-1997) thì tự sự được hiểu là: “Phương thức tái
hiện đời sống bên cạnh hai phương diện khác là trữ tình và kịch, được dùng làm cơ sở để
phân loại tác phẩm văn học”.
Theo “Từ điển tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng-2007): “Tự sự
là thể loại văn học phản ánh hiện thực bằng cách kể lại sự việc, miêu tả tính cách thông
qua cốt truyện, tương đối hoàn chỉnh”.
Trong lý luận văn học thì: “Tác phẩm tự sự là loại tác phẩm phản ánh đời sống
trong quá trình khách quan của nó, qua con người, hành vi, sự kiện được kể lại bởi một
người kể chuyện nào đó”.
Theo Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh, Tiến sĩ Huỳnh Như Phương: "Tự sự là kể
chuyện, trình bày sự việc, sự vật một cách cụ thể, chi tiết, có đầu có đuôi, tự sự tập trung
chủ yếu vào việc miêu tả thế giới bên ngoài".
3
Từ nhưng cơ sở trên, chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất về thể loại tự sự
như sau: “Tự sự là thể loại văn học phản ánh cụ thể hiện thực đời sống một cách khách
quan bằng cách kể lại sự việc, sự kiện, miêu tả tính cách nhân vật, chi tiết ... có đầu có
đuôi thông qua cốt truyện tương đối hoàn chỉnh và được kể lại bởi một người kể chuyện
nào đó”.
1.2. Đặc điểm của tác phẩm tự sự
1.2.1. Tác phẩm tự sự phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó thông qua
các sự kiện, hệ thống sự kiện
Các nhà lí luận từ Aristot đến Lessing, Bêlinxki đều cho rằng tác phẩm tự sự đưa ra
một bức tranh khách quan về thế giới. Trong Nghệ thuật thơ ca, Aristot cho rằng thế giới
của tác phẩm tự sự là thế giới tồn tại bên ngoài người trần thuật, không phụ thuộc vào ý
muốn và tình cảm của họ. Ở đây, nhà văn dường như đứng bên ngoài để kể lại. Tất cả
nhưng sự việc của đời sống được nhà văn kể lại như một đối tượng khách quan ở bên
khác nhau. so với các loại nhân vật khác, nhân vật trong tác phẩm tự sự được khắc họa tỉ
mỉ từ ngoại hình đến nội tâm, cả quá khứ, hiện tại và trong xu thế phát triển...Tóm lại,
nhân vật tự sự được miêu tả nhiều mặt, toàn diện và sinh động, nhiều màu sắc thẩm mĩ.
Do tính chất phản ánh rộng lớn và bao quát, hệ thống chi tiết trong tác phẩm tự sự
cũng phong phú và đa dạng, mang chất "văn xuôi". Ở đây, có thể bắt gặp nhưng chi tiết
về chân dung, ngoại hình, tâm sinh lí, phong tục, tập quán, đồ vật, đời sống lao động sản
xuất, tôn giáo, chính trị...bao gồm nhưng chi tiết có thực, tưởng tượng, hoang đường...
hơn tất cả mọi loại tác phẩm khác.
1.2.3. Tác phẩm tự sự luôn luôn có hình tượng người trần thuật.
Hình tượng người trần thuật có thể là tác giả nhưng không nên đồng nhất người
trần thuật với tác giả. Người trần thuật có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức: khi thì tác
giả ẩn mình sau nhưng nhân vật tưởng tượng, khi thì nhân danh chính bản thân mình mà
kể chuyện với ngôi thứ nhất. Nhưng dù dưới hình thức nào, người trần thuật cũng làm
nhiệm vụ tường thuật, kể chuyện để phân tích, nghiên cứu, khêu gợi, bình luận, cắt nghĩa
nhưng quan hệ phức tạp giưa nhân vật và nhân vật, giưa nhân vật và hoàn cảnh...Trong
tác phẩm tự sự, hình tượng người trần thuật giư một vai trò hết sức quan trọng và luôn
luôn muốn hướng dẫn, gợi ý cho người đọc nên hiểu nhân vật, hoàn cảnh...thế này hoặc
thế khác.
1.2.4. Lời văn trong tác phẩm tự sự
Lời văn trong tác phẩm tự sự chủ yếu là lời văn kể chuyện, miêu tả. Nó có thể được
viết bằng văn vần hoặc văn xuôi nhưng bao giờ cũng hướng người đọc đến đối tượng mà
nó miêu tả.
Lời nói của nhân vật trong tác phẩm tự sự là một bộ phận của văn tự sự, do đó nó
thường được giải thích, cắt nghĩa trước khi nhân vật phát biểu. Ðiều này khác với tác
phẩm kịch và tác phẩm trư tình.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN( THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐÊ)
Việc phân tích tác phẩm tự sự đóng vai trò rất quan trọng trong nội dung chương
trình của bộ môn văn học cấp phổ thông trung học. Nhưng tác phẩm tự sự được đem vào
giảng dạy là nhưng kiệt tác văn chương thế giới và nhưng tác phẩm đặc sắc trong nền văn
học nước nhà. Trong văn chương cái hay nó thường đi liền với cái sâu sắc thâm thúy, đa
Trước tình hình đó, bản thân tôi mạnh dạn nêu lên một số giải pháp, một số kinh
nghiệm mà bản thân đã áp dụng trong thời gian qua để cùng với đồng nghiệp trao đổi với
mong muốn mang lại hiệu quả hơn trong nhưng giờ giảng văn thuộc thể loại tác phẩm tự
sự.
CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐÊ
3.1. Biện pháp giải quyết
Trước thực trạng trên, qua quá trình giảng dạy môn văn ở trường THPT Bá
Thước ,bản thân tôi đã áp dụng một số biện pháp như sau:
6
Bằng mọi cách buộc học sinh phải đọc trước tác phẩm hoặc đoạn trích, tóm tắt
được nhưng nội dung cơ bản của tác phẩm hoặc đoạn trích ở nhà và soạn bài theo nhưng
định hướng của giáo viên và phần hướng dẫn học bài.
Cải tiến, đổi mới phương pháp trong việc giảng dạy nhưng tác phẩm tự sự, thu hút
học sinh vào bài giảng.
Đổi mới cách thức kiểm tra bao gồm cả kiểm tra vấn đáp; kiểm tra 15’ và bài viết
Đổi mới cách đánh giá, phân loại năng lực cảm thụ tác phẩm tự sự của học sinh
3.2. Nội dung và phương pháp thực hiện
3.2.1. Khâu chuẩn bị bài ở nhà
Giáo viên cần dành thời gian của tiết học trước (sau phần củng cố, luyện tập) để
hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài mới, đặt ra nhưng yêu cầu cụ thể và bắt buộc học sinh
phải hoàn thành. Đặc biệt, bằng mọi cách phải cho học sinh đọc kĩ và tóm tắt được nội
dung tác phẩm hoặc đoạn trích ở nhà. Giáo viên kiểm tra việc đọc và tóm tắt nội dung tác
phẩm hoặc đoạn trích của học sinh trong quá trình học bài mới hoặc kiểm tra thường
xuyên vào đầu tiết học. Việc làm này sẽ giúp học sinh có ý thức tự học và tự giác hoàn
thành yêu cầu của giáo viên.
Ngoài việc bắt buộc phải đọc tác phẩm, chuẩn bị bài theo một số câu hỏi trong sách
giáo khoa, giáo viên cần đưa ra nhưng câu hỏi nhỏ hơn, cụ thể hơn. Tuỳ theo trình độ,
Chẳng hạn, Khi giới thiệu về hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm Chí Phèo (Nam
Cao) chúng ta không thể không đề cập đến hai vấn đề:
Dựa vào nhưng cảnh thật, việc thật, người thật mà Nam Cao chứng kiến và nghe kể
về làng quê mình, bức xúc trước hiện thực tàn khốc, xót xa cho số phận nhưng người
nông dân nghèo, căm tức giới địa chủ đè nén người dân nghèo mà Nam Cao viết thành
truyện vào năm 1941.
Bá Kiến thật ngoài đời không chết giống như trong tác phẩm, mà vẫn sống đến đầu
cách mạng. Sau khi tác phẩm ra đời hắn rất căm tức nhưng không làm gì được.
* Tóm tắt tác phẩm
Ở phần này, giáo viên nên tận dụng tối đa nhưng dụng cụ trực quan hoặc trình
chiếu tranh ảnh, sơ đồ (trong giờ dạy bằng giáo án điện tử) và kiểm tra mức độ tóm tắt tác
phẩm hoặc đoạn trích của học sinh ở nhà… nhằm giúp các em dễ nắm bắt nội dung và
nhớ lâu cốt truyện hơn.
Trong quá trình tóm tắt tác phẩm cần chú trọng đến nhưng nét chủ yếu về cuộc đời
và số phận của nhân vật chính. Tái hiện cho học sinh nắm được nhưng dẫn chứng, chi tiết
quan trọng. Đồng thời, qua các dụng cụ trực quan tôi thường gọi một học sinh lên tóm tắt
tác phẩm hoặc đoạn trích. Cho một vài học sinh bổ sung và cuối cùng giáo viên đúc kết
lại nhưng nội dung trọng tâm.
Để hiểu được nội dung phản ánh, để phân tích được các giá trị về mặt tư tưởng lẫn nghệ
thuật của một tác phẩm tự sự, cần tóm tắt chính xác cốt truyện của nó. Cách tóm tắt cốt
8
truyện thể hiện mức độ thâm nhập tác phẩm, năng lực bao quát và khả năng diễn đạt cô
đúc, gãy gọn của người tóm tắt.
Điều quan trọng là phải hiểu được cốt truyện chính là hệ thống sự kiện cụ thể được
tổ chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định của nhà văn. Nhờ cốt truyện, nhà
văn thể hiện sự hình thành, đặc điểm của mỗi tính cách cũng như sự tác động qua lại giưa
các tính cách. Cũng nhờ cốt truyện, nhà văn tái hiện các xung đột xã hội, chứng tỏ năng
lực, cách thức chiếm lĩnh thực tại khách quan của mình. Dù đa dạng, mọi cốt truyện đều
của tính cách, số phận các nhân vật chủ yếu.
Khi tóm tắt cốt truyện, cần chú ý vị trí của các nhân vật và mối quan hệ tương tác giưa
chúng. Nhân vật chính thường xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm, có vai trò chi phối đối
với các nhân vật khác và góp phần chủ yếu thể hiện nội dung, bộc lộ chủ đề của tác
phẩm. Bởi thế, cần quan tâm đến nhưng bước ngoặt trên đường đời nhân vật chính.
Chẳng hạn, cốt truyện của truyện ngắn Chí Phèo (Nam Cao) xoay quanh trục hai nhân
vật điển hình Chí Phèo – Bá Kiến và diễn biến mối quan hệ giưa hai nhân vật này. Tóm
tắt cốt truyện của Chí Phèo, phải dựa vào lai lịch, thân phận của Chí từ một đứa bé bị bỏ
rơi đến đi ở, làm thuê rồi vô cớ bị cụ Bá đẩy đi ở tù, dựa vào nhưng lần Chí Phèo đến nhà
Bá Kiến sau khi ở tù về để thấy được quá trình tha hóa tất yếu của Chí khi gặp phải kẻ
thống trị xảo quyệt, gian ngoan như Bá Kiến, thấy được số phận bi thảm của kẻ trượt quá
xa khỏi xã hội loài người. Mặt khác, khi tóm tắt truyện ngắn này, cần đặc biệt chú ý đến
thời điểm Chí Phèo tình cờ gặp Thị Nở, được người đàn bà ấy thương yêu, chăm sóc.
Người cố nông lương thiện với nhưng ước muốn bình dị bấy lâu nay bị vùi lấp trong con
qủy dư Chí Phèo sống dậỵ, Chí được làm người… nhưng rồi, Thị Nở đột ngột cự tuyệt
chung sống. Sự kiện này khiến Chí Phèo vỡ lẽ, tự ý thức ra tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền
làm người của mình, để từ đó đi đến hành động trả thù quyết liệt cuối tác phẩm.
* Chủ đề tác phẩm
Như chúng ta đều biết, chủ đề của tác phẩm tự sự chính là nội dung cuộc sống được phản
ánh trong tác phẩm. Vì vậy, để tìm hiểu chủ đề của tác phẩm hay đoạn trích giáo viên cần
nêu ra nhiều câu hỏi nhỏ mang tính chất gợi mở để học sinh trả lời. Chẳng hạn có thể nêu
một số câu hỏi như:
Tác phẩm (hoặc đoạn trích) kể về ai ? Về việc gì ?
Thông qua câu chuyện đó tác giả nhằm đề cập đến vấn đề gì?
Thái độ, tình cảm của tác giả đối với con người và cuộc sống ra sao?
Sau đó, thông qua việc trả lời được nhưng câu hỏi trên, giáo viên gọi một đến
hai học sinh khái quát thành chủ đề của tác phẩm (hoặc đoạn trích) và giáo viên nhận xét,
bổ sung, chốt kiến thức.
* Phân tích tác phẩm
Ở phần này, giáo viên nên sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nhằm giúp học
và giai đoạn hai là phân tích sâu tình huống cơ đồ đắm biển sâu, bài học về tinh thần mất
cảnh giác của An Dương Vương. Tuy vậy, khi phân tích truyền thuyết này giáo viên cũng
cần làm rõ hình tượng Mị Châu, vì nhân vật này quyết định tới kết cục cuối cùng của An
Dương Vương.
Còn trong chương trình Ngư văn lớp 11, 12 cốt truyện phức tạp hơn, nhân vật có
nhiều mối quan hệ hơn, nhiều mâu thuẫn xung đột hơn, nhiều cung bậc tình cảm hơn. Vì
vậy, giáo viên cần hướng dẫn học sinh nhận ra được nội tâm của nhân vật, tính cách của
nhân vật. Từ đó, giúp học sinh thấy được cần phải tư duy, cần phải liên tưởng, cần phải
xâu chuỗi nhiều tình tiết để rút ra nhận xét cuối cùng về toàn bộ câu chuyện.
11
Trước khi đi sâu vào phân tích chi tiết, một sự phân tích đại cương như vậy về các chi tiết
của bài văn sẽ củng cố ấn tượng hoàn chỉnh đầu tiên của học sinh đối với hình tượng tự
sự của tác phẩm.
- Làm cho học sinh cảm thụ sâu sắc, đánh giá được đúng đắn nhân
vật trong tác phẩm
Trong tác phẩm tự sự, nhà văn thể hiện tư tưởng, tình cảm, phát biểu quan điểm
thông qua nhân vật. Nhân vật trong tác phẩm hoặc đoạn trích chứa đựng nội dung phản
ánh, tư tưởng, chủ đề của tác phẩm, là nơi ký thác quan niệm về con người, về nhân sinh
của nhà văn. Do đó, phân tích nhân vật trở thành con đường quan trọng nhất để đi đến giá
trị hiện thực, giá trị nhân đạo của tác phẩm để nhận ra lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn. Một
nhân vật văn học lớn bao giờ cũng thể hiện một số phận, một quan niệm nhân sinh độc
đáo và thường điển hình cho một tầng lớp xã hội, một giai cấp, thậm chí một thời đại nào
đó.
Nhân vật trong tác phẩm tự sự rất đa dạng, phong phú. Dựa trên phương diện kết
cấu và ý thức hệ có thể chia nhân vật ra thành các loại sau: Nhân vật chính, nhân vật phụ,
nhân vật trung tâm, nhân vật chính diện, nhân vật phản diện...các nhân vật sẽ góp phần
thể hiện tư tưởng chủ đề và nội dung của tác phẩm.
ẩn trong lời văn đọc qua thường ít gây chú ý.
Phát hiện và lựa chọn các chi tiết tiêu biểu, sắp xếp phân loại chúng theo trình tự
hợp lí nhằm làm sáng tỏ tính cách của nhân vật.
Thông thường khi phân tích hình tượng nhân vật thường chú ý các phương diện
sau:
+ Lai lịch:
Đây là phương tiện đầu tiên góp phần chi phối đặc điểm tính cách cũng như cuộc đời
nhân vật. Lai lịch có quan hệ khá trực tiếp và quan trong với đường đờì của một người,
một số phận nào dó trong văn học.
Chẳng hạn, trong tiểu thuyết Số đỏ hoàn cảnh mồ côi từ nhỏ, hành vi vô giáo dục khi ở
với người bác họ (để rồi bị đuổi ra khỏi nhà) bằng nhưng thành tích bất hảo của Xuân
Tóc đỏ trong cuộc sống lang thang hè đường, xó chợ đã góp phần tạo nên tính cách lưu
manh, láu lỉnh của y sau này.
Hoặc Chí phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao, ngay từ khi được sinh ra đã bị
ném khỏi cuộc sống, đã là đứa trẻ hoang không biết bố mẹ, chẳng có cửa nhà. Hoàn cảnh
xuất thân ấy tạo nên sự cô độc, thê thảm của Chí Phèo.
Tính cách, số phận được lí giải một phần bởi thành phần xuất thân, hoàn cảnh gia đình và
điều kiện sinh hoạt trước đó.
+ Ngoại hình:
Tục ngư Việt Nam có câu: “Xem mặt mà bắt hình rong” trong văn học, miêu tả ngoại
hình chính là một biện pháp của nhà văn nhằm hé mở tính cách nhân vật. Một nhà văn có
tài thường chỉ qua một số nét phác hoạ chấm phá có thể giúp người đọc hình dung ra diện
13
mạo, tư thế cùng bản chất của nhân vật nào đó. Trong truyện ngắn Chí Phèo nhưng vết
sẹo ngang dọc trên khuôn mặt của Chí cùng với nhưng nét chạm trỗ ở ngực tự có đã nói
lên rất nhiều…Phải chăng cái ngoại hình biến dạng, kỳ dị gớm ghiếc kia như đã muốn
trưng ra quá khứ dư dằn, và nội tâm tha hoá biến chất của Chí Phèo.
Hay trong truyện ngắn Vi hành, mượn lời người con trai (đôi nam nư thanh niên người
được? Hắn đã già rồi hay sao? Ngoài bốn mươi tuổi đầu… Dẫu sao đó không phải là tuổi
mà người ta mới bắt đầu sửa soạn. Hắn đã tới cái dốc bên kia của đời. Ở nhưng người
như hắn chịu đựng biết bao nhiêu là chất độc, đầy đoạ cực nhọc, mà chưa bao giờ ốm,
một trận ốm có thể là dấu hiệu báo rằng cơ thể hắn đã hư hỏng nhiều. Nó là một cơn mưa
gió cuối thu cho biết trời trở rét nay mùa đông đã đến. Chí Phèo hình như đã trông thấy
trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn sợ hơn đói rét và ốm
đau. Cũng may Thị Nở vào nếu không vào cứ để hắn vẩn vơ nghĩ mãi thì đến khóc được
mất”. Qua suy nghĩ của Chí Phèo ta có thể nhận ra một Chí Phèo thứ hai – “Chí không
còn là một con Quỷ dư của làng Vũ Đại nưa mà là một con người bình thường như bao
con người khác: Buồn lo trước tuổi già ập đến, cảm thấy cô đơn và sợ cô đơn.
+ Cử chỉ, hành động
Đây là chi tiết quan trong nhất trong việc tìm hiểu phân tích tính cách nhân vật. Con
người trong cuộc đời cũng như nhân vật trong tác phẩm, trước hết là con người hoạt
động, hành động. Trong môi trường tự nhiên và xã hội, trong quan hệ với người khác, với
công việc, con người phải hành động. Hành động của con người được thể hiện qua việc
làm, hành vi. Nhân vật trong tác phẩm cũng vậy, con người thế nào sẽ có hành vi thế ấy.
Chẳng hạn, qua hành động “rỗ gông” bất chấp lời doạ nạt của bọn lính, người đọc nhận ra
ở Huấn Cao trong Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) có một khí phách hiên ngang, coi
thường cường quyền, bạo lực…
Hay qua hành động Chí Phèo định vác dao đến nhà Thị Nở nhưng lại đi thẳng đến nhà Bá
Kiến, người đọc nhận ra rằng người cự tuyệt Chí không phải Thị Nở, không phải Bà cô
Thị Nở mà chính là Bá Kiến. Vì thế, vác dao đến nhà Bá Kiến, giết Bá Kiến và kết liễu
đời mình là điều tất yếu đối với Chí.
Tóm lại, muốn phân tích nhân vật, ta phải chú ý đến nhưng chi tiết có liên quan đến nhân
vật từ lai lịch, ngoại hình, nội tâm đến ngôn ngư hành vi của nhân vật. Tuy nhiên, không
phải bất cứ nhân vật nào cũng được nhà văn thể hiện đầy đủ các phương diện này. Có chỗ
nhiều, có chỗ it, có chỗ đậm, chỗ nhạt, thậm chí có nhân vật còn không rõ đặc điểm ngoại
hình, lai lịch... Vì thế, không nhất thiết phải máy móc tìm đủ, phân tích đủ mà nên tập
thuộc vào sự đa dạng, biến hóa của nội dung. Ngôn ngư lời văn được coi là hay khi nó
diễn đạt được tốt nhất nội dung cuộc sống và nội dung tư tưởng, tình cảm của tác phẩm.
Cái hay của ngôn ngư nghệ thuật là ở chỗ sinh động và rung cảm, chất chứa, chất liệu đời
sống và tình ý con người. Văn chương hay thật sự không phải ở chỗ màu mè, hoa mĩ: Cái
hay của truyện lại càng thường ngưng đọng ở sự trong sáng, giản dị mà sinh động, rung
cảm. Vì vậy, giảng dạy tác phẩm hay đoạn trích thuộc thể loại tự sự thì phải phân tích lời
kể của truyện, phân tích phong cách ngôn ngư nghệ thuật của tác phẩm. Lời kể chuyện là
sợi tơ dệt nên tình tiết và nhân vật, dệt nên toàn bộ hình tượng trong tác phẩm.
- Thuyết trình và giảng bình.
Nói chung, bình giảng xoáy vào ấn tượng chủ quan và không nhất thiết phải xem xét toàn
diện đối tượng. Người viết chỉ cần lắng nghe mình, chắt lọc các cảm nhận của mình xem
yếu tố nào tạo ấn tượng đậm nhất, lay động mình sâu xa nhất, nắm lấy nó rồi viết ra. Ấn
tượng càng sâu đậm, ám ảnh bao nhiêu thì càng dễ truyền cảm bấy nhiêu. Nói chung,
ngọn nguồn của lời bình bao giờ cũng phải là sự đồng cảm. Tiếng nói của lời bình là
tiếng nói tri âm, dù lời bình rất cần đến sự hoa mĩ của ngôn từ. Còn giảng là giảng giải, là
16
cắt nghĩa, lí giải. Nếu bình nghiêng về cảm thì giảng nghiêng về hiểu. Bình nghiêng về
nhưng rung động tâm hồn thì giảng nghiêng về nhận thức trí tuệ. Bình là sự thăng hoa, sự
cất cánh còn giảng là sự đào sâu làm cơ sở, làm điểm tựa, làm đòn bẩy cho việc cất cánh.
Ví dụ : Về mối tình Chí Phèo – Thị Nở trong truyện ngắn Chí Phèo của nhà văn Nam
Cao, giáo viên có thể bình giảng để học sinh cảm nhận đươc đây là mối tình đẹp nhất trần
gian. Nó được ví như một chiếc cầu vồng lung linh sau cơn mưa, như một chiếc bản lề
khẽ xoay cánh cửa cuộc đời Chí Phèo sang một trang mới , từ cuộc đời của một con quỷ
dư sang cuộc đời khát khao sự hoàn lương , được trở về để làm hòa với xã hội của loài
người bằng phẳng và thân thiện.
Lâu nay, trong một số giờ dạy của giáo viên mải chạy theo phương pháp phát vấn mà
không chú ý đến bình văn thơ nên giờ đọc hiểu văn bản trở thành giờ trò chuyện, trả lời
vụn vặt các câu hỏi giưa thầy và trò, chỉ biết hướng dẫn học sinh chia nhóm, thực hành,
như thế nào?
Thái độ của Huấn Cao xuất hiện tại trại giam ra sao? Khi nhận rượu thịt mà lính ngục
mang vào Huấn Cao có thái độ thế nào? Thái độ khi trả lời viên quản ngục? Từ đó rút ra
nhân cách của Huấn Cao?
Thái độ của viên quản ngục trong lần nhận sáu tử tù?
Tại sao viên quản ngục lại quyết định “biệt đãi” Huấn Cao, theo em, điều đó có ý nghĩa
gì?
Việc viên quản ngục gặp Huấn Cao trong nhà ngục có ý nghĩa như thế nào ?
Theo em, vì sao Nguyễn Tuân lại gọi cảnh cho chư là “cảnh tượng xưa nay chưa từng có”
?
Em hãy nhận xét về thời gian, không gian diễn ra cảnh cho chư ?
Tư thế, thái độ của người cho chư và kẻ nhận chư như thế nào ?
Nguyễn Tuân đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì để miêu tả cảnh cho chư ?
Qua cảnh cho chư Nguyễn Tuân muốn khẳng định điều gì ?
Có thể nói với hệ thống câu hỏi này giáo viên sẽ từng bước dẫn dắt học sinh đi tìm hiểu
nội dung của tác phẩm, từ phân tích hình tượng các nhân vật cho đến rút ra được nội
dung tư tưởng nhà văn muốn gửi tới.
3.3. Đánh giá kết quả và rút ra bài học kinh nghiệm
3.3.1. Kết quả kiểm nghiệm
3.3.1.1. Kết quả khảo sát trong quá trình giảng dạy
18
Lớp 11A6
Trường THPT Bá Thước
Số
học Số học sinh
sinh được đọc tác phẩm
10, 11, 12.
Với
phương pháp này, giáo viên luôn đặt học sinh trong tình thế động, buộc các em phải làm
việc một cách nghiêm túc với tác phẩm và tiếp thu bài học một cách chủ động tích cực.
3.3.2. Nguyên nhân thành công và tồn tại:
3.3.2.1. Nguyên nhân thành công:
Có sự đầu tư lớn trong việc thiết kế bài dạy để phù hợp với đối tượng học sinh ở
từng lớp.
Với phương pháp này, người giáo viên đã phát huy có hiệu quả nhất nhưng giáo cụ trực
quan.
Với phương pháp này, giáo viên đã kích thích, khơi dậy được phần nào tấm lòng yêu
thích và say mê đối với văn học của học sinh.
3.3.2.2. Tồn tại:
Vẫn còn một số em chưa đọc tác phẩm hoặc đoạn trích ở nhà hoặc soạn bài đối phó.
Một số em làm bài văn vẫn sa vào dạng kể tác phẩm.
Một số học sinh chưa có sự cảm thụ tốt hoặc chưa đam mê với tác phẩm văn học, đặc biệt
là nhưng tác phẩm tự sự
3.3.3. Bài học kinh nghiệm:
- Đối với bản thân:
+ Phải có sự đầu tư trong công tác soạn giảng.
19
+ Tìm mọi biện pháp để thực hiện được phương pháp dạy học “lấy học sinh làm trung
tâm”.
- Đối với tổ chuyên môn:
Trong tổ chuyên môn phải thường xuyên trao đổi, học hỏi lẫn nhau để nâng cao tay nghề,
kinh nghiệm giảng dạy. Đặc biệt là về phương pháp dạy học mới, hưu ích.
C. KẾT LUẬN VÀ ĐÊ XUẤT
2. Đề xuất:
Thông qua đề tài này tôi cũng xin có môt số đề xuất cụ thể như sau:
Đối với sách giáo khoa: Hằng năm trong quá trình tái bản sách người biên soạn nên
bổ sung thêm một số câu hỏi cụ thể hơn nưa trong phần hướng dẫn học bài để học sinh dễ
dàng hơn trong việc soạn bài và chuẩn bị bài trước khi đến lớp.
Đối với giáo viên: Mỗi giáo viên phải không ngừng tự học hỏi nâng cao trình độ
chuyên môn, cần luôn suy nghĩ tìm tòi các cách thức dạy học mới và linh hoạt áp dụng
cho phù hợp với đối tượng học sinh mình trực tiêp giang dạy để có được kết quả học tập
tốt nhất.
21