Luận văn đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty CP xi măng bỉm sơn - Pdf 39

Chuyên đề tốt nghiệp

-1-

Khoa Kế Hoạch và Phát triển

PHẦN MỞ ĐẦU
I - TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước trong thời kỳ Công nghiệp
hóa – Hiện đại hóa đã kéo theo sự phát triển rất nhanh chóng của ngành xây
dựng và do đó sản xuất và kinh doanh xi măng là ngành đang thu hút được rất
nhiều sự quan tâm. Điều đó đã và đang đẩy ngành kinh doanh xi măng vào sự
cạnh tranh rất mạnh mẽ.
Đã tồn tại, trưởng thành và phát triển gần 30 năm, Xi măng Bỉm Sơn đã
đóng góp rất đáng kể nào sự phát triển của Tổng công ty xi măng Việt Nam cũng
như vào ngân sách của Quốc gia. Tuy vậy, khả năng cạnh tranh của Công ty nói
chung vẫn còn yếu so với không chỉ các Công ty thành viên trực thuộc Tổng mà
còn với các Công ty tư nhân khác. Công ty xi măng Bỉm Sơn về cơ bản còn thiếu
chiến lược cạnh tranh, thiếu kinh nghiệm tiếp cận thị trường, thiếu đội ngũ cán
bộ có kinh nghiệm cũng như trình độ trong công tác thị trường, marketing.
Nguồn tài chính dành cho hoạt động marketing, quảng cáo của Công ty còn rất
hạn chế.
Trong điều kiện phát triển và bối cảnh nền kinh tế hội nhập như hiện nay
thì việc nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty là một đòi hỏi cấp thiết. Nếu
không có đủ năng lực tiếp cận thị trường, thiếu một chiến lược cạnh tranh linh
hoạt thì Công ty sẽ khó có khả năng cạnh tranh được với các đối thủ cạnh tranh
trong ngành, sẽ bị loại khỏi cuộc chơi trong việc tiếp cận thị trường và thu hút
khách hàng.
GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung
-KH47B


phương pháp điều tra, thu thập thông tin, phương pháp phân tích tổng hợp,
phương pháp thống kê và phương pháp dự báo.

GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung
-KH47B

SVTH: Mai Thị Bích Ngọc


Chuyên đề tốt nghiệp

-3-

Khoa Kế Hoạch và Phát triển

5. Nội dung nghiên cứu:
Ngoài phần Mở đầu, kiến nghị và phần Kết luận thì đề tài này gồm 3
chương:
Chương I: Năng lực cạnh tranh và sự cần thiết nâng cao năng lực của
Doanh nghiệp.
Chương II: Đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần xi măng
Bỉm Sơn trong giai đoạn 2003 – 2008.
Chương III: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần
xi măng Bỉm Sơn sau cổ phần hóa.

GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung
-KH47B

SVTH: Mai Thị Bích Ngọc


SVTH: Mai Thị Bích Ngọc


Chuyên đề tốt nghiệp

-5-

Khoa Kế Hoạch và Phát triển

Với những quan niệm trên, phạm trù cạnh tranh được hiểu là quan hệ kinh
tế, ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn
thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị
trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi
nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là
tối đa hoá lợi ích. Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người
tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.
1.2. Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường:
Trong nền kinh tế thị trường, sản xuất kinh doanh luôn gắn liền với lợi
nhuận và cạnh tranh. Cạnh tranh tác động đến mọi thành phần trong nền kinh tế.
Đối với toàn bộ nền kinh tế
Cạnh tranh là động lực phát triển kinh tế và nâng cao năng suất lao động xã
hội. Như chúng ta đã biết, kết quả của cạnh tranh là loại bỏ các doanh nghiệp có chi
phí sản xuất kinh doanh cao, kinh doanh không hiệu quả. Một nền kinh tế mạnh là
khi có các công ty, doanh nghiệp vững mạnh và có khả năng cạnh tranh cao.
Cạnh tranh sẽ đảm bảo việc điều chỉnh quan hệ cung cầu. Cạnh tranh sẽ là
tiền đề thuận lợi làm cho sản xuất thích ứng linh hoạt dưới sự biến động của cầu
và công nghệ sản xuất. Cạnh tranh tác động một cách tích cực đến việc phân
phối thu nhập tạo sự cân bằng trên thị trường.
Bên cạnh đó, cạnh tranh còn là nguyên nhân thúc đẩy sự đổi mới về mọi
mặt của nền kinh tế.

để. Vì vậy, doanh nghiệp phải luôn nhìn nhận cạnh tranh, điều kiện cạnh tranh là
các căn cứ quan trọng để xây dựng chiến lược phát triển cho doanh nghiệp.
Đối với khách hàng
Cạnh tranh làm cho người tiêu dùng được tiêu dùng hàng hóa cũng như
dịch vụ có chất lượng cao hơn với giá thành hợp lý hơn và nhu cầu của người tiêu
dùng cũng được đáp ứng tốt hơn. Có được như vậy là vì có cạnh tranh nên hàng
hóa trong nước và trao đổi quốc tế trở nên phong phú và đa dạng về chủng loại,
bao bì, mẫu mã và hơn hết là chất lượng ngày càng tốt hơn mà giá lại rẻ hơn.
2. Phân loại cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường:
GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung
-KH47B

SVTH: Mai Thị Bích Ngọc


Chuyên đề tốt nghiệp

-7-

Khoa Kế Hoạch và Phát triển

2.1. Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường:
- Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Trong thị trường sẽ xuất hiện
hai đối tượng là người bán và người mua. Người bán đại diện cho bên cung còn
người mua đại diện cho bên cầu. Người bán thì muốn bán giá cao, người mua mong
mua được giá thấp, họ cạnh tranh với nhau nhằm thu được lợi ích cao nhất về mình.
- Cạnh tranh giữa người mua với nhau: Người mua là những người tiêu
dùng hàng hóa. Họ không chỉ cạnh tranh với nhau về tiêu dùng những loại hàng
hóa giống nhau mà còn về những loại hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng khác nhau.
Họ cạnh tranh để mua được nhiều loại hàng hóa, dịch vụ với một mức chi phí

lớn của thị trường có ảnh hưởng cá nhân đến giá cả của thị trường.
Đặc điểm của thị trường này:
+ Có vô số người bán và người mua độc lập trên thị trường.
+ Hàng hóa có tính đồng nhất cao, chúng dễ thay thế cho nhau trên thị
trường.
+ Người bán và người mua đều không ảnh hưởng đến giá cả, thị trường
của sản phẩm, tức là phải chấp nhận giá của thị trường.
+ Trong thị trường của cạnh tranh hoàn hảo thì người bán và người mua
đều có thể tự do tham gia hay rút khỏi thị trường mà không bị ràng buộc.
- Cạnh tranh không hoàn hảo: Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo
(gồm cạnh tranh độc quyền và cạnh tranh tập đoàn) là thị trường mà trong đó chỉ
có một số hãng cung ứng mức cung ứng của toàn bộ thị trường về mọi loại hàng
hóa và dịch vụ nào đó.
+ Cạnh tranh độc quyền: được hiểu là thị trường trong đó có nhiều hãng
sản xuất và bán những sản phẩm tương tự như nhau, các sản phẩm này có thể
thay thế cho nhau nhưng không hoàn hảo. Các hãng cạnh tranh với nhau bằng
việc bán những sản phẩm “dị biệt hóa”.
+ Cạnh tranh tập đoàn: trong thị trường, hàng hóa và dịch vụ có thể giống
nhau một ít, có thể khác nhau một ít, các hàng hóa mới thì khó gia nhập thị
trường và giá cả thì luôn cứng nhắc.
II – NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN
NĂNG LỰC CẠNH TRANH:
GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung
-KH47B

SVTH: Mai Thị Bích Ngọc


Chuyên đề tốt nghiệp


-KH47B

SVTH: Mai Thị Bích Ngọc


Chuyên đề tốt nghiệp

- 10 -

Khoa Kế Hoạch và Phát triển

Năng lực cạnh tranh dựa trên tài sản là xu hướng nghiên cứu nguồn hình
thành năng lực cạnh tranh trên cơ sở sử dụng các nguồn lực như nhân lực, công
nghệ, lao động. Theo đó, các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là những
doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực hiệu quả như nguồn nhân lực, lao động,
công nghệ, đồng thời có lợi thế hơn trong việc tiếp cận các nguồn lực này.
Năng lực cạnh tranh theo quá trình là xu hướng nghiên cứu năng lực
cạnh tranh như các quá trình duy trì và phát triển năng lực năng lực cạnh tranh.
Các quá trình bao gồm: quản lý chiếc lược, sử dụng nguồn nhân lực, các quá
trình tác nghiệp (sản xuất, chất lượng…).
3. Các cấp độ năng lực cạnh tranh:
3.1. Năng lực cạnh tranh của Quốc gia:
3.1.1.Khái niệm:
Năng lực cạnh tranh của Quốc gia hay của một nền kinh tế được hiểu là
thực lực là lợi thế mà nền kinh tế hay quốc gia đó huy động được để duy trì và
cải thiện vị trí của nó so với các đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường thế giới
một cách lâu dài và có ý chí nhằm thu được lợi ích ngày càng cao cho nền kinh
tế hay cho quốc gia mình.
3.1.2. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của nền kinh tế:
- Tiềm lực tài chính, kết cấu hạ tầng và trình độ công nghệ của nền kinh tế.

cả, dịch vụ sau bán hàng so với các đối thủ cạnh tranh.
- Doanh nghiệp có sự thuận tiện hơn về hệ thống phân phối so với các đối
thủ cạnh tranh.
- Số mặt hàng có năng lực cạnh tranh cao hơn trên thị trường so với đối
thủ cạnh tranh.
- Số tiêu chí đo lường năng lực cạnh tranh mà doanh nghiệp đáp ứng so
với các đối thủ cạnh tranh.
Một doanh nghiệp kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực thường kinh doanh
nhiều mặt hàng trong một lĩnh vực và nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì vậy, không
phải tất cả các mặt hàng do doanh nghiệp sản xuất ra đều có năng lực cạnh tranh
hoặc có năng lực cạnh tranh bằng nhau. Do đó, ta chỉ nên đánh giá năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp theo một hoặc một số mặt hàng nhất định.
GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung
-KH47B

SVTH: Mai Thị Bích Ngọc


Chuyên đề tốt nghiệp

- 12 -

Khoa Kế Hoạch và Phát triển

3.3. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm:
3.3.1. Khái niệm:
Năng lực cạnh tranh sản phẩm là khả năng sản phẩm đó tiêu thụ được
nhanh chóng trong khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên cùng một
thị trường. Hay nói cách khác, năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng
thị phần của sản phẩm đó.

công ty cũng rất ít, họ có thể chịu việc tăng giá đầu vào ở một mức độ nào đó do
mục tiêu hàng đầu của họ cần tạo ra sự khác biệt hóa. Cuối cùng là lòng trung
thành của khách hàng là rào cản lớn để ngăn chặn sự đe dọa từ các đối thủ tiềm
ẩn và các sản phẩm thay thế.
Nhược điểm: Khả năng duy trì sự khác biệt của công ty là không lâu dài
và không ổn định, dễ bị các đối thủ cạnh tranh bắt chước sản phẩm giống như
của công ty. Mối nguy hiểm nữa là sự khác biệt hóa và mức giá cao hơn mức
trung bình của công ty không được thị trường chấp nhận. Điều này sẽ là nguy cơ
dẫn đến chiến lược khác biệt hóa không thành công. Bên cạnh đó phải đầu tư tạo
ra sự khác biệt cho sản phẩm là rất lớn, chi phí quảng cáo lại rất cao nên chiến
lược rất dễ dẫn đến nguy cơ khác biệt hóa quá mức, khác biệt hóa khó biết hoặc
khác biệt hóa quá đắt.
4.2. Chiến lược chi phí thấp:
Chiến lược chi phí thấp trong các doanh nghiệp là chiến lược theo đó
doanh nghiệp tập trung mọi nỗ lực của mình cho một mục tiêu ưu tiên là giảm
thiểu giá thành nhằm kiểm soát lợi thế cạnh tranh về chi phí trên thị trường toàn
ngành.

GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung
-KH47B

SVTH: Mai Thị Bích Ngọc


Chuyên đề tốt nghiệp

- 14 -

Khoa Kế Hoạch và Phát triển


- 15 -

Khoa Kế Hoạch và Phát triển

Ưu điểm: Lợi thế cạnh tranh của công ty theo chiến lược này bắt nguồn từ
năng lực khác biệt của nó – hiệu quả, chất lượng, đổi mới hoặc đáp ứng yêu cầu
của khách hàng. Công ty có thể cạnh tranh với các đối thủ vì nó cung cấp sản
phẩm và dịch vụ mà các đối thủ không thể có. Khả năng này giúp cho công ty có
quyền lực với khách hàng vì khách hàng không thể mua hàng hóa như vậy ở chỗ
khác. Chiến lược này cho phép công ty gần gũi với khách hàng và phản ứng
nhanh với những nhu cầu thay đổi.
Nhược điểm: Các doanh nghiệp theo đuổi chiến lược này chỉ tập trung vào
một phân đoạn thị trường nên sản xuất với số lượng nhỏ. Do vậy, chi phí sản
xuất thường cao hơn công ty theo đuổi chiến lược chi phí thấp và chiến khác biệt
hóa sản phẩm. Các doanh nghiệp theo chiến lược này rất dễ gặp rủi ro mất thị
trường khi nhu cầu của khách hàng thay đổi, rủi ro bị đối thủ lớn cạnh tranh khi
thị trường trở nên hấp dẫn, mang lại nhiều lợi nhuận lớn hơn.
III – CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI NĂNG LỰC CẠNH TRANH
Đối thủ cạnh
tranh tiềm ẩn
CỦA DOANH NGHIỆP:
Kinh tế
Chính trị

Người cung cấp

Các công ty
trong ngành

Khách hàng

ảnh hưởng mạnh nhất đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thường
là: tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ lãi suất.
Tỷ giá hối đoái
GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung
-KH47B

SVTH: Mai Thị Bích Ngọc


Chuyên đề tốt nghiệp

- 17 -

Khoa Kế Hoạch và Phát triển

Tỷ giá hối đoái là sự so sánh về giá trị của đồng tiền trong nước với đồng
tiền của các quốc gia khác. Thay đổi về tỷ giá hối đoái có tác động trực tiếp đến
tính cạnh tranh của sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất trên thị trường quốc tế.
Khi giá trị của đồng tiền trong nước thấp hơn so với giá trị của các đồng tiền
khác, hàng hóa sản xuất trong nước sẽ tương đối rẻ hơn , còn hàng hóa sản xuất
ngoài nước sẽ tương đối đắt hơn. Một đồng tiền thấp hay đang giảm giá sẽ làm
giảm sức ép từ các công ty nước ngoài, tạo ra nhiều cơ hội để tăng sản phẩm
xuất khẩu và ngược lại.
Tỷ lệ lạm phát
Lạm phát có thể gây xáo trộn nền kinh tế làm cho sự tăng trưởng kinh tế
chậm lại, tỷ lệ lãi suất tăng và sự biến động của đồng tiền trở nên không lường
trước được. Nếu lạm phát tăng liên tục, các hoạt động đầu tư trở thành công việc
hoàn toàn mới. Thực trạng của lạm phát là làm cho tương lai kinh doanh trở nên
khó dự đoán được, khi đó nó sẽ hạn chế sự hoạt động của nền kinh tế, gây nên
tình trạng thất nghiệp, và cuối cùng thì đẩy nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng

1.1.3. Các yếu tố chính trị - pháp luật:
Các yếu tố chính trị - pháp luật cũng có tác động lớn đến mức độ thuận lợi
và khó khăn của môi trường kinh doanh trong doanh nghiệp. Các doanh nghiệp
hoạt động phải tuân theo các quy định của chính phủ về thuê mướn nhân công,
thuế, quảng cáo, nơi đặt nhà máy và bảo vệ môi trường,… Những quy định này
cũng có thể là cơ hội hoặc mối đe dọa với doanh nghiệp. Việc tạo ra môi trường
kinh doanh lành mạnh thông qua luật pháp và quản lý nhà nước sẽ đảm bảo cho
sự phát triển, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là bình đẳng và lành mạnh.
1.1.4. Các yếu tố văn hóa, tự nhiên và xã hội:
Cùng với sự phát triển kinh tế, các yếu tố xã hội ngày càng có tác động
nhiều hơn đến họat động kinh doanh của các doanh nghiệp. Yếu tố xã hội bao
gồm các vấn đề nhân khẩu như quy mô và tốc độ dân số, cơ cấu dân số, tình
trạng hôn nhân và gia đình, sự đô thị hóa,…; vấn đề văn hóa như bản sắc, truyền
thống, phong tục tập quán, lối sống, trào lưu, xu hướng,…
1.2. Các yếu tố thuộc môi trường vi mô (môi trường ngành):
GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung
-KH47B

SVTH: Mai Thị Bích Ngọc


Chuyên đề tốt nghiệp

- 19 -

Khoa Kế Hoạch và Phát triển

Sử dụng mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Micheal Porter, theo mô hình
này thì ảnh hưởng đến cầu trúc cạnh tranh trong một ngành có các yếu tố sau:
1.2.1. Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn:

ngành khác nhau nhưng thỏa mãn những nhu cầu của người tiêu dùng giống như
các công ty trong ngành. Những doanh nghiệp này thường cạnh tranh gián tiếp
với nhau. Càng nhiều loại sản phẩm thay thế xuất hiện bao nhiêu sẽ càng tạo ra
sức ép lớn đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp bấy nhiêu. Đặc
điểm của sản phẩm thay thế như: sản phẩm sẽ được tiếp tục đưa vào sản xuất hay
sẽ được sử dụng trong tiêu dùng cũng như tính chất của sản phẩm thay thế đều
tác động trực tiếp, tạo ra sức ép đối với doanh nghiệp.
Như vậy, sự tồn tại những sản phẩm thay thế hình thành, một sức ép cạnh
tranh rất lớn, nó giới hạn mức giá mà một doanh nghiệp có thể định ra và do đó
giới hạn mức lợi nhuận của doanh nghiệp. Ngược lại, nếu sản phẩm của một
doanh nghiệp có rất ít các sản phẩm thay thế, doanh nghiệp có cơ hội để tăng giá
và kiếm được lợi nhuận tăng thêm.
1.2.3. Sức ép từ khách hàng:
Khách hàng của doanh nghiệp là những người có cầu về sản phẩm hay
dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp. Đối với mọi doanh nghiệp, khách hàng
không chỉ là các khách hàng hiện tại mà phải tính đến cả khách hàng tiềm ẩn.
Khách hàng là người tạo ra lợi nhuận, tạo ra sự thắng lợi của doanh nghiệp. Họ
được xem như là sự đe dọa mang tính cạnh tranh khi đẩy giá cả xuống hoặc khi
họ yêu cầu chất lượng sản phẩm và dịch vụ tốt hơn làm cho chi phí hoạt động
của doanh nghiệp tăng lên. Ngược lại, nếu người mua có những yếu thế sẽ tạo
cho doanh nghiệp cơ hội để tăng giá và kiếm nhiều lợi nhuận hơn. Người mua có
thể gây áp lực với doanh nghiệp đến mức nào phụ thuộc vào thế mạnh của họ
trong mối quan hệ với doanh nghiệp.
Theo M. Porter, những yếu tố tạo áp lực cho người mua đó là:
GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung
-KH47B

SVTH: Mai Thị Bích Ngọc



SVTH: Mai Thị Bích Ngọc


Chuyên đề tốt nghiệp

- 22 -

Khoa Kế Hoạch và Phát triển

Cạnh tranh nội bộ là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện đang có mặt
trong ngành. Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành là yếu tố quan
trọng tạo ra cơ hội hoặc mối đe dọa cho các doanh nghiệp. Nếu sự cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp trong ngành yếu, các doanh nghiệp có cơ hội nâng giá
nhằm thu được lợi nhuận cao hơn. Nếu sự cạnh tranh này là gay gắt thì sẽ dẫn
đến cạnh tranh quyết liệt về giá, nguy cơ làm giảm lợi nhuận của các doanh
nghiệp. Áp lực cạnh tranh nội bộ ngành chịu tác động tổng hợp của 3 yếu tố cấu
thành: cơ cấu ngành, mức độ cầu và những trở ngại ra khỏi ngành.
- Cơ cấu ngành: đó là sự phân bố về số lượng và quy mô của các công ty
trong ngành. Có thể phân biệt hai loại cơ cấu chính: Thứ nhất, ngành phân tán,
bao gồm số lượng lớn các công ty có quy mô vừa và nhỏ, không có công ty nào
có vai trò chi phối toàn bộ ngành như ngành sản xuất lương thực trong nông
nghiệp, ngành dệt, ngành kinh doanh khách sạn, du lịch, nên không có sức mạnh
chi phối thị trường và thường phải chấp nhận mức giá của thị trường. Thứ hai,
ngành hợp nhất, bao gồm số lượng ít các công ty có quy mô lớn hoặc chỉ có một
công ty độc quyền như ngành sản xuất ôtô, sản xuất điện. Các công ty trong
nhóm ngành hợp nhất hoạt động phụ thuộc vào nhau và do đó hoạt động cạnh
tranh của một công ty sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mức lợi nhuận của các công ty
khác trong ngành.

GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung

khi ra khỏi ngành như trả lương cho công nhân khi chưa hết hợp đồng. Thứ ba,
đó là sự gắn bó về tình cảm đối với ngành như những công ty thuộc gia đình,
dòng họ.
2. Các yếu tố thuộc nội bộ doanh nghiệp:

GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung
-KH47B

SVTH: Mai Thị Bích Ngọc


Chuyên đề tốt nghiệp

- 24 -

Khoa Kế Hoạch và Phát triển

Phân tích nội bộ doanh nghiệp nhằm làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu
của chính doanh nghiệp trong từng lĩnh vực kinh doanh để cuối cùng chỉ ra
doanh nghiệp có những năng lực riêng biệt nào đó và những năng lực riêng biệt
này tạo ra lợi thế cạnh tranh.
2.1. Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp:
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị là tổng hợp các bộ phận khác nhau có mối
liên hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hóa, được giao những
trách nhiệm và quyền hạn nhất định và được bố trí theo từng cấp nhằm thực hiện
các chức năng quản trị doanh nghiệp. Trình độ tổ chức và quản lý là yếu tố quan
trọng hàng đầu. Có tổ chức tốt doanh nghiệp sẽ làm tốt mọi việc. Để tổ chức
quản lý tốt cần phải có phương pháp quản lý tốt, có hệ thống tổ chức gọn nhẹ,
linh hoạt, có văn hóa doanh nghiệp tốt. Cần phải có một cơ cấu tổ chức hợp lý,
phân công trách nhiệm và quyền hạn rõ ràng giữa các bộ phận, các phòng ban

các doanh nghiệp phải hiểu biết và vận dụng marketing một cách linh hoạt vào
kinh doanh, tạo dựng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngày một cao hơn.
2.3. Nghiên cứu và phát triển:
Trong hoạt động đầu tư, đầu tư vào nghiên cứu và phát triển thường đưa
lại kết quả rất lớn. Nghiên cứu và phát triển bao gồm việc nghiên cứu tiến bộ
khoa học – kỹ thuật của thế giới để ứng dụng những tiến bộ đó vào hoạt động
của tổ chức mình. Nghiên cứu sáng tạo cái mới, đó là nhân tố cực kỳ quan trọng,
quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của quốc gia. Ở đây bao gồm
sáng tạo công nghệ mới, sản phẩm mới, tạo ra kết cấu, tổ chức mới, phương
pháp quản lý mới và khai thác thị trường mới.
Để hoạt động nghiên cứu – triển khai tiến hành tốt thì doanh nghiệp không
thể thiếu công tác đào tạo. Đào tạo trước hết để nâng cao nhận thức cho mọi
người về hội nhập và toàn cầu hóa, về cạnh tranh, về vị trí vai trò của doanh
nghiệp trong ngành… Sau nữa là để nâng cao hiểu biết về công nghệ, kỹ thuật
sản xuất, nâng cao tay nghề làm ra sản phẩm có chất lượng và năng suất ngày
càng cao.
2.4. Năng lực tài chính của doanh nghiệp:
GVHD: TS. Nguyễn Thị Kim Dung
-KH47B

SVTH: Mai Thị Bích Ngọc



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status