SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN ĐỊA
LÝ KHỐI 9 THEO HƯỚNG BỀN VỮNG"
1
A/- PHẦN MỞ ĐẦU:
I. BỐI CẢNH CỦA ĐỀ TÀI:
Trong những năm qua, chất lượng dạy và học của huyện An Phú nói chung và
trường trung học cơ sở Đa Phước nói riêng ngày càng được nâng cao. Các phong trào thi
đua dạy tốt – học tốt do ngành phát động được đông đảo cán bộ - giáo viên - công nhân
viên và học sinh nhiệt tình tham gia hưởng ứng và từng bước đạt được nhiều thành tích
khá nổi bật như: phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm, làm đồ dùng dạy học, hội thi
giáo viên dạy giỏi, hội thi ca múa nhạc, hội khỏe phù đổng, thi chọn học sinh giỏi … Qua
các phong trào đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, đồng
thời tạo được niềm tin đối với các bậc phụ huynh học sinh, các cấp chính quyền và đó
cũng là động lực để những người làm công tác giáo dục có những định hướng mới cho sự
nghiệp đào tạo thế hệ tương lai của đất nước.
Trong các phong trào thi đua đó, có thể khẳng định rằng trường trung học cơ sở
Đa Phước – huyện An Phú là ngôi trường đạt được kết quả khá toàn diện và mang tính ổn
định ; phát triển trong đó có phong trào bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và học sinh
giỏi môn Địa lý nói riêng.
II. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Năm học 2005 – 2006 là năm học đầu tiên học sinh lớp 9 trên địa bàn toàn tỉnh
được học theo chương trình sách giáo khoa mới và cũng là năm học đầu tiên bản thân
được Ban giám hiệu nhà trường phân công giảng dạy môn Địa lý khối 9. Với vai trò là
người giáo viên giảng dạy lớp 9, bản thân nhận thức được rằng nhiệm vụ khá nặng nề và
quan trọng – quan trọng vì phải đảm nhận công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, công việc mà
tiễn, đồng thời phần nào đã giải quyết được những đòi hỏi do thực tiễn đặt ra.
B/- PHẦN NỘI DUNG:
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI:
Qua thực tế bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý khối 9 trong những năm học qua tôi
nhận thấy rằng vấn đề quan trọng là người giáo viên bồi dưỡng cần có một quan niệm
đúng về học sinh giỏi nói chung và học sinh giỏi môn Địa lý nói riêng. Bên cạnh đó, cần
trả lời cho câu hỏi: “việc bồi dưỡng học sinh giỏi nhằm mục tiêu gì ?” để từ đó người
giáo viên bồi dưỡng lựa chọn nội dung, chương trình và phương pháp bồi dưỡng sao cho
thích hợp và đạt hiệu quả cao nhất.
Theo Giáo sư – Tiến sỹ Nguyễn Viết Thịnh, giảng viên khoa Địa lý Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội, người được ví như “một trong những cánh chim đầu đàn” của
ngành khoa học Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam và cũng là người có nhiều năm tham gia
ra đề thi Cao đẳng, Đại học, thi học sinh giỏi quốc gia môn đia lý cho rằng: “Học sinh
giỏi môn Địa lý chỉ cần học thuộc là chưa đủ, chưa chính xác vì Địa lý là môn khoa học
có đối tượng nghiên cứu phong phú, phức tạp. Các hiện tượng địa lý không chỉ phân bố
trên bề mặt đất mà cả trong không gian và trong lòng đất. Hơn nữa, các hiện tượng ấy ở
đâu và bao giờ cũng phát sinh, tồn tại và phát triển một cách độc lập nhưng lại luôn có
3
quan hệ hữu cơ với nhau. Chính vì vậy, người dạy và học Địa lý cần có phương pháp tư
duy, phân tích, xét đoán các hiện tượng địa lý theo quan điểm hệ thống”.
Với quan niệm trên, chúng ta hiểu rằng học sinh giỏi môn Địa lý là những học
sinh phải nắm được những kiến thức cơ bản của bộ môn và phải vận dụng được những
hiểu biết; những kỹ năng địa lý để giải quyết những nội dung cơ bản theo yêu cầu của đề
bài, của thực tiễn cuộc sống và học sinh giỏi môn Địa lý là những học sinh có năng lực
độc lập suy nghĩ, vận dụng tốt nhất những kiến thức, kỹ năng chắc chắn về địa lý.
Về mục tiêu bồi dưỡng học sinh giỏi, có nhiều mục tiêu khác nhau tùy theo quan niệm
của mỗi giáo viên và tùy theo môn học nhưng dù quan niệm như thế nào chung quy lại có
những điểm tương đồng:
học đạt từ loại khá trở lên, hạnh kiểm đạt loại tốt và trung bình môn thi học sinh giỏi đạt
từ 8,0 trở lên.
Những năm qua việc chọn đối tượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý ở
trường về cơ bản được nhiều thuận lợi do:
- Đa số học sinh khối 9 đều có hứng thú và đam mê môn Địa lý. Vì vậy, học sinh
đăng ký dự thi khá tương đối, bình quân mỗi năm có trên 05 học sinh.
- Số học sinh khối 9 của trường khá đông. Hàng năm, bình quân trường có trên
150 học sinh khối 9 được bố trí từ 05 đến 06 lớp. Do đó, sức ép về vấn đề chọn số lượng
học sinh tham gia bồi dưỡng là không đáng kể so với các trường khác.
- Môn Địa lý ở trường là môn có truyền thống đạt giải trong các kỳ thi chọn học
sinh giỏi cấp huyện, tỉnh nên cũng thu hút học sinh đăng ký tham gia bồi dưỡng.
Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi bước đầu đó, trong quá trình bồi dưỡng bản
thân cũng gặp một số khó khăn từ học sinh (và cũng có thể bắt gặp đối với những giáo
viên đang bồi dưỡng học sinh giỏi), đó là:
- Do nhiều nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan nên một số học sinh có sự mâu thuẫn,
chưa thông suốt giữa học sinh giỏi ở lớp với học sinh giỏi cấp huyện, tỉnh bộ môn: học
sinh nghĩ rằng tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi sẽ ảnh hưởng đến thành tích học ở lớp và
ngược lại, vì vậy một số em vẫn tham gia bồi dưỡng nhưng mang tính hình thức, thiếu
tập trung.
- Do nhận thức của phụ huynh còn hạn chế: bồi dưỡng học sinh giỏi không còn thời
gian phụ tiếp chuyện gia đình.
- Phải đi học bù, học thể dục, học thêm, tham gia các phong trào khác của lớp,
trường .v.v.
Xuất phát từ những khó khăn trên, bản thân đã thường xuyên động viên, khuyến
khích và kiên trì phân tích cho học sinh thấy được phải làm như thế nào để đạt hiệu quả
cao nhất trong công việc mà vẫn sử dụng hợp lý quỹ thời gian. Vì nếu suy cho cùng việc
bồi dưỡng học sinh giỏi muốn thành công hay thất bại nhờ vào vai trò của người giáo
viên – người giáo viên mới gặp những “lực cản” mà buông xuôi thì khó có thể thành
5
- Hướng dẫn học và khai thác Atlat Địa lý Việt Nam (Tác giả: GS-TS Lê Thông,
PGS-TS Nguyễn Minh Tuệ, Vũ Đình Hòa do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh xuất bản năm 2008).
- Ôn tập Địa lý theo chủ điểm (Tác giả: GS-TS Nguyễn Viết Thịnh, PGS-TS Đỗ
Thị Minh Đức do Nhà xuất bản Đại học Sư phạm xuất bản năm 2005).
6
- Chuyên đề Địa lý 12: Phần Địa lý tự nhiên - dân cư và phần Địa lý kinh tế - xã
hội Việt Nam (Tác giả: PGS-TS Nguyễn Đức Vũ do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
xuất bản năm 2009).
- Tuyển chọn những bài ôn luyện thực hành kỹ năng môn Địa lý (Tác giả: Đỗ
Ngọc Tiến, Phí Công Việt do Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 2002).
- Một số đề thi học sinh giỏi môn Địa lý cấp THCS, THPT và tốt nghiệp CĐ, ĐH
(sưu tầm).
Khi đã biên soạn được tài liệu giáo viên rất thuận lợi trong việc bồi dưỡng cho
học sinh vì lượng kiến thức đã được định trước, đồng thời hạn chế việc mất thời gian và
có thể bồi dưỡng theo sở thích của mình.
4. Về nội dung và phương pháp bồi dưỡng:
Giáo viên nên bồi dưỡng những chuyên đề cơ bản, trọng tâm trước và ưu tiên thời
lượng cho những chuyên đề này, hoặc trên cơ sở “phán đoán” sở trường hay sở thích của
người ra đề mà có thể bồi đưỡng trước những chuyên đề đó (đương nhiên điều này chỉ
mang ý nghĩa tương đối và thực tiễn những năm qua cho thấy đề thi học sinh giỏi thường
tập trung vào phần đặc điểm và ảnh hưởng của khí hậu Việt Nam đến phát triển kinh tế),
hay bản thân thích nhất chuyên đề nào thì bồi dưỡng trước, nhưng không nên bồi dưỡng
theo phương pháp từ thấp lên cao theo hướng: khối 6 → khối 8 → khối 9 → biểu đồ vì dễ
mất thời gian nhưng hiệu quả không cao do các chuyên đề có mối liên hệ với nhau không
nhiều (ví dụ: chuyên đề về Trái đất với chuyên đề về Địa lý tự nhiên Việt Nam) . Theo
kinh nghiệm của bản thân, tôi áp dụng theo quy trình sau:
Trước tiên, tôi phát tài liệu biên soạn của cá nhân phần Địa lý kinh tế - xã hội
- Grap tổng hợp: dùng để tổng hợp, ôn tập, tổng kết hay hệ thống một chương,
một phần kiến thức các bài học.
- Grap kiểm tra, đánh giá: dùng để phản ánh năng lực tiếp thu sự hiểu biết của
học sinh, đồng thời giúp giáo viên kịp thời điều chỉnh nội dung truyền đạt.
* Cách sử dụng sơ đồ Grap:
- Giáo viên vừa giảng bài, tổ chức cho học sinh tìm ra kiến thức và các mối liên
hệ chủ yếu vừa xây dựng sơ đồ Grap. Kết thúc buổi bồi dưỡng thì việc xây dựng sơ đồ
cũng hoàn thành và nội dung bồi dưỡng (nội dung bài học) được thể hiện một cách trực
quan bằng sơ đồ.
- Giáo viên có thể xây dựng sẵn sơ đồ câm và đặt câu hỏi hướng học sinh phân
tích các mối quan hệ trên sơ đồ để giải thích nội dung học tập đồng thời có các ví dụ cụ
thể để chứng minh.
- Giáo viên cũng có thể xây dựng sơ đồ câm kết hợp với các phiếu học tập đã
chuẩn bị trước rồi yêu cầu học sinh thảo luận nhóm tìm ra kiến thức. Cuối cùng, giáo viên
khẳng định lại vấn đề đúng sai và học sinh tự hoàn thiện sơ đồ trên cơ sở kiến thức tìm
được.
* Ưu điểm của phương pháp sử dụng sơ đồ Grap:
8
Việc sử dụng sơ đồ Grap đã được thực hiện khá lâu trong dạy học địa lý do có
nhiều ưu điểm nổi bật và thật sự nổi bật hơn trong giai đoạn hiện nay – giai đoạn toàn
ngành đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin thông qua vẽ bản đồ tư duy trong dạy học
và thực chất của việc vẽ bản đồ tư duy chính là phương pháp sử dụng sơ đồ Grap trong
dạy học địa lý. Phương pháp này có những ưu điểm:
- Hạn chế việc mất thời gian của giáo viên so với phương pháp dạy từng tiểu
mục, từng phần.
- Học sinh có thể mở rộng, đào sâu kiến thức, nhất là các kiến thức mang tính
tổng quan, khái quát.
………….
………….
Hướng
………….
………….
………….
Vận tốc
………….
………….
………….
Chuyển động quanh mặt trời
Thời gian
………….
………….
………….
Hệ quả
Ngày đêm
kế tiếp
nhau
………….
-
Giờ khác
………….
Các vành
đai nhiệt
trên trái đất
- Câu 2:
Khí hậu Việt Nam
Nhiệt đới ẩm gió mùa
Nhiệt
đới
……
……
……
……
……
Ẩm
……
……
……
……
……
…….
Gió
mùa
……
Tây
Đông
……
……
……
……
……
Thuận lợi:
…………………………
Khó khăn:
…………………………
…………………………
Tài nguyên du lịch
11
Thất thường
Nhiệt
độ
……
……
……
……
……
……
Hang
động
……
……
……
……
……
Bãi
biển
……
……
……
……
……
Thắng
cảnh
……
……
……
……
……
Tài nguyên du lịch nhân văn
Di
sản
Ẩm
thực
……
……
……
……
……
Như vậy, sau khi có được nội dung của đề bài vấn đề đặt ra là học sinh phải tạo
được sơ đồ cho từng câu hỏi và dựa vào sơ đồ đó học sinh thuyết trình sơ đồ bằng ngôn
ngữ viết vào bài làm kết hợp với quá trình khai thác kiến thức từ Atlat Địa lý Việt Nam.
b). Sử dụng Atlat Địa lý Việt Nam trong bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý:
Đa số giáo viên giảng dạy địa lý nói chung và giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi
nói riêng đều cố gắng rèn luyện cho học sinh những kỹ năng cần thiết để khai thác kiến
thức từ bản đồ và Atlat địa lý và thông thường chúng ta tiến hành theo các bước sau:
- Bước 1: Nắm vững các ký hiệu chung ở trang bìa của Atlat.
- Bước 2: Tùy theo yêu cầu của câu hỏi mà người sử dụng Atlat lựa chọn một
trang hay nhiều trang atlat khác nhau, đồng thời các trang atlat này có mối liên hệ chặt
chẽ với nhau nên phải nắm vững các ký hiệu riêng ở từng trang atlat.
- Bước 3: Thông qua các thao tác tư duy người giáo viên hướng dẫn học sinh tìm
vị trí của đối tượng trên bản đồ và tiến hành mô tả đối tượng (hình dáng, kích thước, quy
mô, màu sắc), cuối cùng xác định các mối liên hệ giữa các đối tượng trên bản đồ để giải
thích, làm sáng tỏ vấn đề.
12
Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của bản thân thì đây là các bước khai thác atlat theo
phương pháp chung nhất mà người giáo viên dạy địa lý nào cũng phải thực hiện, nhưng
đối với giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi môn địa lý ngoài các bước khai thác chung cần
có các bước khai thác riêng. Nói cách khác để học sinh khai thác có hiệu quả kiến thức từ
Khi bồi dưỡng cho học sinh về địa lý của một ngành kinh tế hay một vùng kinh tế
nào đó, học sinh không thể học thuộc lòng một cách “máy móc” các số liệu hay đọc “thao
thao” về sự phân bố, mà bắt buộc học sinh phải khai thác kiến thức từ atlat kết hợp với
các thao tác tư duy đồng thời phải nắm được mối liên hệ lôgic của chúng.
Như vậy, ở đây người giáo viên bồi dưỡng phải hướng dẫn học sinh nắm được
mối liên hệ lôgic của địa lý ngành kinh tế hoặc vùng kinh tế. Qua thực tế, tôi thấy địa lý
một ngành kinh tế có mối liên hệ như sau:
- Vai trò của ngành kinh tế đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
- Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố của ngành kinh tế.
- Tình hình phát triển và phân bố của ngành. (thông thường được thể hiện đầy đủ
trong Atlat qua các biểu đồ và thang màu)
- Phương hướng, giải pháp phát triển của ngành trong thời gian tới.
Ví dụ: Đối với câu hỏi: Bằng những kiến thức đã học hãy trình bày tình hình phát
triển và phân bố ngành thủy sản ở nước ta. Vì sao nước ta có thế mạnh để phát triển
ngành thủy sản.
Với câu hỏi này người giáo viên bồi dưỡng phải hướng dẫn học sinh nắm được
mối liên hệ lôgic của địa lý ngành thủy sản và hướng dẫn học sinh khai thác từ Atlat Địa
lý Việt Nam:
* Tình hình phát triển và phân bố ngành thủy sản ở nước ta: sử dụng atlat trang
20
Toàn bộ trang Atlat (phần thủy sản) chỉ sử dụng hai phương pháp biểu hiện là:
phương pháp bản đồ – biểu đồ và phương pháp nền chất lượng, trong đó:
- Phương pháp bản đồ - biểu đồ có biểu đồ sản lượng thủy sản của cả nước qua
các năm từ năm 2000 đến năm 2007, biểu đồ sản lượng thủy sản của các tỉnh năm 2007
được đặt trong bản đồ 63 tỉnh, thành của Việt Nam.
- Phương pháp nền chất lượng: có 06 thang màu thể hiện 06 mức giá trị sản xuất
thủy sản trong tổng giá trị sản xuất nông-lâm-thủy sản ở 63 tỉnh, thành (từ dưới 5% đến
trên 50%)
Như vậy, trước tiên người giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh biết được có
những phương pháp biểu hiện địa lý nào trên Atlat, từ những phương pháp biểu hiện đó
1487,0
2007
4197,8
2074,5
2123,3
Tiếp theo, học sinh căn cứ vào bảng số liệu (cột dọc, cột ngang) rút ra những
nhận xét cần thiết nhất.
*Về phân bố thủy sản: giáo viên hướng dẫn học sinh xem chú giải riêng của trang
Atlat để trình bày. Kết quả có được là:
- Khai thác: tập trung nhiều ở các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Bà Rịa- Vũng Tàu,
Bình Thuận.
- Nuôi trồng: tập trung chủ yếu ở các tỉnh Cà Mau, An Giang, Bến Tre.
- Những tỉnh trọng điểm về ngành thủy sản tập trung ở hai vùng là: Đồng bằng
sông Cửu Long và Duyên hải Nam Trung Bộ (học sinh xem 06 thang màu)
* Vì sao nước ta có thế mạnh phát triển ngành thủy sản:
Giáo viên hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức đã học (các nhân tố ảnh hưởng
đến sự phát triển và phân bố ngành kinh tế) kết hợp với khai thác kiến thức ở Atlat trang
20 để giải thích.
Trên đây là một ví dụ tiêu biểu về khai thác kiến thức từ Atlat. Ngoài ra, đối với
câu hỏi trên, giáo viên bồi dưỡng có thể áp dụng với những ngành kinh tế khác như:
ngành chăn nuôi, cây công nghiệp, lúa (Atlat trang 19); lâm nghiệp – thủy sản (Atlat
trang 20); các ngành công nghiệp (trang 21); thương mại (trang 24); du lịch (trang 25); 07
vùng kinh tế (các trang còn lại của Atlat).
Bên cạnh phần Địa lý kinh tế - xã hội là phần Địa lý tự nhiên, qua kinh nghiệm
bồi dưỡng, tôi thấy các thành phần tự nhiên của thiên nhiên Việt Nam như: địa hình
nhóm đất chính ở nước ta năm 2000 và 2005 – với yêu cầu như trên thì không kích thích
được quá trình tư duy, đồng thời không phân hóa được học sinh, chưa thể hiện được năng
lực độc lập suy nghĩ và sáng tạo khi vẽ biểu đồ.
16
Tuy vậy, giáo viên và học sinh cũng cần lưu ý: nếu đề bài yêu cầu vẽ dạng biểu đồ
cụ thể thì bắt buộc phải đáp ứng theo yêu cầu của đề bài.
Ví dụ: Qua bảng số liệu trên hãy vẽ biểu đồ tròn thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu khách
du lịch ở nước ta qua các năm 2001, 2003, 2005, 2007, 2009: như vậy rõ ràng rằng đề
bài yêu cầu vẽ biểu đồ tròn ( ta hiểu ngầm là 05 biểu đồ), thế nhưng trong một số trường
hợp học sinh lại vẽ biểu đồ miền, và điều đó đồng nghĩa với việc học sinh không đọc kỹ
yêu cầu của câu hỏi và làm trái yêu cầu của đề.
Như trên đã trình bày, đối với học sinh giỏi thì yêu cầu về mức độ tư duy có cao hơn
học sinh bình thường, do đó trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp huyện, tỉnh đề bài
thường yêu cầu: “hãy vẽ biểu đồ thích hợp thể hiện…” hay “hãy vẽ biểu đồ thích hợp
nhất thể hiện…”. Ở đây, đề bài không nói rõ dạng biểu đồ cần vẽ, vì vậy giáo viên hướng
dẫn học sinh phân tích kỹ câu hỏi và bước tiếp theo yêu cầu học sinh xác định được chức
năng của các dạng biểu đồ.
Mỗi dạng biểu đồ có chức năng không giống nhau. Căn cứ vào chức năng của
biểu đồ kết hợp với yêu cầu của câu hỏi trong đề bài phần nào học sinh sẽ lựa chọn được
dạng biểu đồ thích hợp hay thích hợp nhất. Từng dạng biểu đồ có các chức năng cơ bản
sau:
- Biểu đồ cột (đứng, ghép, thanh ngang): thể hiện quy mô, độ lớn, khối lượng,
tình hình phát triển.
- Biểu đồ cột chồng: thể hiện tương quan về quy mô, độ lớn, khối lượng, tình
hình phát triển, cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu.
- Biểu đồ đường: thể hiện tình hình phát triển của đối tượng địa lý theo thời gian.
- Biểu đồ tròn: thể hiện cơ cấu và quy mô của đối tượng, chuyển dịch cơ cấu ( từ
từ 3 năm trở lên) thì vẽ biểu đồ cột chồng.
- Đối với bảng số liệu yêu cầu vẽ biểu đồ kết hợp, cần xác định đúng loại biểu đồ
phù hợp với từng loại chỉ tiêu trong bảng. Ví dụ: bảng số liệu yêu cầu vẽ biểu đồ kết hợp
cột với đường thì cần xác định chỉ tiêu nào cần thể hiện theo đường, chỉ tiêu nào cần thể
hiện theo cột (Biểu đồ thể hiện nhiệt độ và lượng mưa: đường biểu diễn thể hiện nhiệt độ,
hình cột thể hiện lượng mưa), hay bảng số liệu yêu cầu vẽ biểu đồ kết hợp cột chồng và
đường thì cũng cần xác định chỉ tiêu nào được thể hiện bằng cột chồng, chỉ tiêu nào được
thể hiện bằng đường (Biểu đồ khách du lịch và doanh thu từ du lịch ở atlat trang 25.
- Trong bảng số liệu có cụm từ “chia ra”, “phân ra”, “trong đó”,… thì liên hệ đến
các biểu đồ thể hiện cơ cấu (tròn, cột chồng, miền).
- Trong bảng số liệu có hai hoặc ba đối tượng với hai đại lượng khác nhau, có
mối quan hệ hữu cơ với nhau thì vẽ biểu đồ kết hợp.
- Đối với bảng số liệu mà thời gian cho một năm, hay nhiều năm thì: trường hợp
cho 1 năm không vẽ được biểu đồ đường, 2 năm vẽ được biểu đồ tròn hay cột chồng, 4
năm trở lên vẽ biểu đồ miền.
Nhìn chung, qua các căn cứ để lựa chọn dạng biểu đồ thích hợp vừa nêu trên
phần lớn học sinh do bản thân bồi dưỡng đã vận dụng thành thạo các căn cứ để có thể
18
lựa chọn được biểu đồ thích hợp. Tuy vậy, khi vẽ bất kỳ dạng biểu đồ nào người giáo
viên cũng phải đảm bảo được 3 yêu cầu:
- Khoa học (chính xác, không được sai số).
- Trực quan (rõ ràng, dễ đọc).
- Thẩm mỹ (đẹp).
III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
Từ năm học 2005 – 2006 đến năm học vừa qua 2010 – 2011 bản thân đã thực hiện
các biện pháp đã nêu trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý khối 9 và kết quả đạt
được là khả quan: hàng năm trường đều có học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh môn Địa lý.
Cụ thể theo bảng số liệu sau:
10
08
/
2009 - 2010
03
01
/
2010 - 2011
03
03
02
C/- PHẦN KẾT LUẬN:
I. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
19
Từ những kết quả đã đạt được trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi những năm qua,
trường nói riêng và phong trào bồi dưỡng học sinh giỏi của huyện nói chung.
20
- Đối với bản thân: thông qua việc bồi dưỡng học sinh giỏi có điều kiện thuận lợi
để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; trau dồi, học hỏi mở rộng thêm kiến thức,
đồng thời với thành tích trên đã tạo nền tảng vững chắc để bản thân tiếp tục bồi dưỡng
học sinh giỏi trong những năm tiếp theo mà trước mắt là năm học 2011 – 2012 .
- Đối với học sinh: học sinh hứng thú học tập môn Địa lý và ngày càng tích cực
hơn trong quá trình giảng dạy chính khóa trên lớp. Ngoài ra, các em còn thực hiện thành
thạo những kỹ năng địa lý khi được học lên bậc trung học phổ thông, và nhiều học sinh
giỏi môn Địa lý ở lớp 9 tiếp tục được bồi dưỡng trong đội tuyển học sinh giỏi môn Địa lý
lớp 12.
III. PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA ĐỀ TÀI:
Qua một số kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý khối 9 của bản thân
tin tưởng rằng quý thầy; cô đã, đang và sẽ bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và môn Địa
lý nói riêng, đặc biệt là quý thầy cô đang công tác ở vùng sâu, vùng xa, biên giới như
huyện An Phú có thể xem đây là một tài liệu tham khảo, một kênh thông tin hữu ích để
phục vụ cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi để tô thắm thêm kết quả bồi dưỡng học sinh
giỏi, góp phần làm rạng rỡ thêm thành tích dạy và học của ngành giáo dục huyện nhà An
Phú thân yêu nói riêng và quê hương An Giang nói chung.
IV. NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT:
- Hàng năm, ngành cần mở các lớp tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ môn Địa
lý cho tất cả giáo viên đang dạy Địa lý vì thông qua các lớp tập huấn, đặc biệt là tập huấn
về chuyên môn mỗi giáo viên có cơ hội học tập, tiếp thu được nguồn kiến thức mới, bổ
ích phục vụ cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi mà năm học 2010 – 2011 vừa qua là
một điển hình. (tháng 10/2010 Sở mời PGS – TS Nguyễn Đức Vũ thuộc Đại học Huế về
tập huấn chuyên môn cho giáo viên dạy Địa lý cấp THCS).
- Cần tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh đạt thành tích trong các kỳ thi chọn
học sinh giỏi được đi tham quan để nâng cao kiến thức thực tế.