Sáng kiến kinh nghiệm SKKN định hướng khi dạy bài chất béo môn hóa học lớp 9 - Pdf 39

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
" ĐỊNH HƯỚNG KHI DẠY BÀI “ CHẤT BÉO” CỦA HÓA HỌC 9"

1


I. PHẦN MỞ ĐẦU.
1. Bối cảnh của đề tài.
Ở bất kì đất nước nào, những đổi mới ở giáo dục phổ thông mang tính cải cách
giáo dục đều bắt đầu từ việc xem xét điều chỉnh mục tiêu giáo dục với những kì vọng mới
về mẫu người học sinh có được trong quá trình giáo dục.
Việc dạy và học hóa học ở trường THCS cần được đổi mới nhằm góp phần thực
hiện tốt mục tiêu của nhà trường phổ thông trung học cơ sở. Một trong những nhiệm vụ
ưu tiên là cần coi trọng việc hình thành và phát triển tiềm lực trí tuệ cho học sinh. Cần bồi
dưỡng và tạo điều kiện cho học sinh được rèn luyện năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, có
ý thức và biết vận dụng tổng hợp kiến thức đã học vào cuộc sống thực tiễn. Một trong
những biện pháp quan trọng là người giáo viên coi trọng hơn việc chỉ dẫn cho học sinh
(HS) con đường tìm ra kiến thức mới mà không chỉ dừng lại ở việc cung cấp những kiến
thức có sẵn, chú ý rèn luyện kĩ năng cho học sinh, chú ý đánh giá kiểm tra năng lực vận
dụng tổng hợp kiến thức, đó cũng là một biện pháp dạy học cho học sinh cách học và
cách tự học.
2. Lý do chọn đề tài.
Hóa học là bộ môn khoa học tự nhiên được đưa vào chương trình giảng dạy ở phổ
thông cơ sở, được bắt đầu từ lớp 8 và là một bộ môn rất khó học đối với nhiều học sinh.
Thông qua bộ môn, học sinh được cung cấp những kiến thức lý thuyết cơ bản về hóa học
và đồng thời các em được làm quen với một số dạng bài tập đặc trưng của môn hóa học.
Trong môn Hóa học cần có sự kết hợp logic giữa lý thuyết và bài tập, học thuộc và hiểu
được lý thuyết mới làm được bài tập và ngược lại có làm bài tập được mới khắc sâu được
kiến thức.


Trong đề tài này tôi chỉ đề cập đến việc định hướng khi dạy dạng bài nghiên cứu về
cấu tạo, tính chất của một hợp chất hữu cơ cụ thể thông qua bài “ Chất béo” ở hóa học
lớp 9.
3.2. Đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu phương pháp dạy học tích cực trong các dạng bài về cấu tạo, tính chất
của một hợp chất hữu cơ cụ thể.
Học sinh lớp 9 Trường THPT Ngô Sĩ Liên.
4. Mục đích đề tài.
Nhằm trao dồi nâng cao trình độ, chất lượng chuyên môn cho bản thân.
Giúp học sinh phát huy cao độ tính tích cực, tự giác trong học tập bộ môn Hoá học
5. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu.
Một số kinh nghiệm khi giảng dạy bài chất béo nói riêng và các dạng bài nghiên
cứu cấu tạo, tính chất của hợp chất hữu cơ cụ thể nói chung đã giúp học sinh nắm bắt
kiến thức sâu hơn, từ đó hình thành và rèn luyện được kĩ năng viết phương trình hóa học,
làm tăng hứng thú học tập, giờ học sinh động không nhàm chán, góp phần nâng cao chất
lượng dạy học.
II. PHẦN NỘI DUNG.
1. Cơ sở lý luận.
Hóa học là một môn học có tầm quan trọng vô cùng to lớn bởi vì đây là nhiệm vụ
do Đảng - Nhà nước đề ra trong lĩnh vực phát triển ngành hóa học và vai trò của nó trong
nền kinh tế quốc dân. Chính vì vậy, nhiệm vụ của việc dạy học Hóa học ở trường trung
học cơ sở là không chỉ chú ý cung cấp kiến thức Hóa học mà còn phải chú ý tới nhiệm vụ
giáo dục thế giới quan, đạo đức cách mạng và nhiệm vụ phát triển tiềm lực trí tuệ cho học
sinh thông qua dạy học bộ môn Hóa học.

4


Ngoài ra, giáo viên phải biết được các kiến thức tâm lí học, giáo dục học, lí luận

Liên đã được trang bị khá tốt về cơ sở vật chất (sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, mô
hình, dụng cụ, hóa chất), điều kiện đi lại của giáo viên đã được cải thiện.
Bên cạnh đó đội ngũ giáo viên trẻ và rất nhiệt tình trong công tác giảng dạy. Trong
hoạt động chuyên môn tôi luôn nhận được sự hướng dẫn chỉ đạo tận tình từ phía Ban
giám hiệu, tổ chuyên môn cùng các bạn bè đồng nghiệp.
Giáo viên được tập huấn đầy đủ về chương trình chuẩn kiến thức kĩ năng môn Hóa
học 8 - 9 nên phần nào cũng hiểu được nội dung kiến thức cần truyền đạt cho học sinh .
Đối với học sinh thì một số em học rất tích cực, biết phát huy khả năng hiểu biết
của mình, biết tham gia đóng góp ý kiến để cùng giáo viên giải quyết những khó khăn để
tìm ra những kết quả tốt nhất trong các bài luyện tập cũng như bài học lý thuyết.
Một số phụ huynh cũng quan tâm đến việc học của con em mình qua việc góp ý
kiến với giáo viên và rèn luyện cách học thêm ở nhà. Từ đó giáo viên có phương pháp và
định hướng dạy một cách tốt hơn. Ðó cũng là một phần thuận lợi mang lại hiệu quả rất
cao .
Bản thân tôi là giáo viên (GV) nhiều năm liền giảng dạy Hóa học 9 nên tôi hiểu và
có kế hoạch chuẩn bị đồ dùng dạy học chu đáo, chủ động đề ra cách sử dụng các phương
tiện dạy học như thế nào để phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh nhằm giúp tiết
học đạt kết quả tốt hơn.
Các mẫu vật chứa chất béo gắn liền với thực tiễn đời sống con người nên các em
sưu tầm mẫu vật dễ hơn, có thể dự đoán được một số tính chất vật lí của chất béo thông
qua thực tế.

6


Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc vẽ biểu đồ so sánh năng lượng tỏa ra khi
oxi hóa chất béo, chất đạm và chất bột nên học sinh dễ rút ra một số kiến thức ứng dụng
của chất béo.
2.2. Khó khăn
- Do cơ sở vật chất còn thiếu thốn nên trường chưa có phòng thực hành thí nghiệm

nhóm có kết quả báo cáo hiện tượng quan sát được như sau:
+ Có 2 nhóm nêu kết luận đúng là: chất béo tan được trong benzen, xăng.
+ Có 2 nhóm nêu kết luận ngược lại là: chất béo không tan trong benzen, xăng.
Tôi tìm hiểu nhanh nguyên nhân thí nghiệm không thành công, thì được biết thao tác
thí nghiệm chưa chính xác và các em cho quá nhiều dầu ăn vào ống nghiệm trên dẫn đến
dầu ăn tan không hoàn toàn trong benzen, trong xăng cho nên có 2 nhóm HS đã ngộ nhận
và rút ra kết luận sai.
Thứ ba: Do các năm học trước khi dạy phần: “Cấu tạo và thành phần phân tử của
chất béo” tôi chỉ đơn thuần thông báo cho HS biết được công thức của glixerol, các axít
béo, chất béo như SGK Hóa học 9 trang 145 đã nêu.
● Với phương pháp giảng dạy trên, tôi đã khảo sát thực tế ngẫu nhiên của 02 lớp
(91, 92) bằng cách kiểm tra 15 phút vào đầu giờ học của tiết sau với nội dung: Trình bày
tính chất hóa học của chất béo, viết phương trình hóa học minh họa?
Kết quả khảo sát cho thấy tỉ lệ điểm kiểm tra 15 phút của tổng HS lớp 9 1, 92 (năm
học 2010 -2011) như sau:

8


ĐIỂM KIỂM TRA 15 PHÚT
TSHS Giỏi

70

Khá

Tb

Yếu


27

38,6

20

28,6

6

8,5

Qua kết quả trên, tôi thật sự lo lắng đến chất lượng của HS và chợt hiểu ra rằng: do
phương pháp mà tôi vừa truyền đạt cho HS còn mang tính áp đặt nên HS tiếp nhận những
tri thức trên một cách thụ động, máy móc. Đây cũng là một trong những nguyên nhân mà
HS bị điểm thấp vì đa số HS còn nhầm lẫn giữa công thức của chất béo với các axit béo,
ghi công thức của glixerol, công thức của sản phẩm chưa chính xác, dẫn đến lập phương
trình hóa học còn sai nhiều.
Thứ tư: Vì các thí nghiệm thủy phân chất béo trong môi trường kiềm hoặc axit đều
đòi hỏi nhiều thời gian nên không tiến hành các thí nghiệm này trên lớp được, đồng thời
ở phản ứng thủy phân chất béo, nhìn trên phương trình phản ứng ta chỉ thấy có một muối
(hoặc một axit) được tạo thành nhưng thực tế đó là một hỗn hợp muối (hoặc một hỗn hợp
axit).
III. NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ.
1. Giải pháp thực hiện.
Từ những thuận lợi và khó khăn của bài dạy trên tôi đã hiểu ra rằng:

Việc thực

hiện đổi mới phương pháp dạy học kết hợp với công nghệ thông tin là một vấn đề cần


10


+ Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy GV phải biết phối hợp các phương pháp
trên một cách linh hoạt thì tiết dạy mới đạt hiệu quả cao.
Tùy điều kiện từng trường, từng địa phương mà GV thực hiện đổi mới phương pháp dạy
học Hóa học một cách linh hoạt. Chẳng hạn như để tiến hành bài giảng này thành công,
bản thân tôi và HS có sự chuẩn bị như sau:
Thứ nhất: GV phải xác định đúng mục tiêu cụ thể của bài:
* Kiến thức:
- Khái niệm chất béo, trạng thái thiên nhiên, công thức tổng quát của chất béo đơn giản là
(RCOO)3C3H5, đặc điểm cấu tạo.
- Tính chất vật lí: trạng thái, tính tan.
- Tính chất hóa học: phản ứng thủy phân trong môi trường axit và trong môi trường kiềm
( phản ứng xà phòng hóa)
- Ứng dụng : Là thức ăn của người và động vật, là nguyên liệu trong công nghiệp
* Kĩ năng:
Quan sát thí nghiệm, hình ảnh … rút ra được nhận xét về công thức đơn giản, thành
phần cấu tạo và tính chất của chất béo.
Viết được PTHH phản ứng thủy phân của chất béo trong môi trường axit, môi
trường kiềm.
Phân biệt chất béo (dầu ăn, mỡ ăn) với hidrocacbon ( dầu, mỡ công nghiệp)
Tính khối lượng xà phòng theo hiệu suất.
* Thái độ:

11


Học sinh có ý thức tích cực làm việc cá nhân, hoạt động nhóm, giáo dục HS tính cẩn


Nhỏ 2-3 giọt dầu ăn vào
ống nghiệm đựng 4 ml

12

Kết luận


xăng, lắc nhẹ, quan sát.

● Học sinh: Chuẩn bị dầu máy may, các mẫu vật có chứa chất béo, chất đường bột như: lạc, vừng, dầu thực vật, dầu gấc, hạt đào, gạo, tinh bột, muối ăn, đường, mẫu
dừa khô, dầu cá, mỡ lợn,…
Thứ ba: giáo viên phải xác định phương pháp, kĩ thuật dạy học chủ yếu.
Đây là dạng bài: nghiên cứu hợp chất hữu cơ cụ thể cho nên trong quá trình giảng
dạy, tôi có thể phối hợp một số phương pháp: nêu vấn đề cần nghiên cứu, trực quan, thí
nghiệm nghiên cứu, thí nghiệm kiểm chứng, thảo luận nhóm, đàm thoại, thông báo,…
Thứ tư: Giáo viên biết thiết kế các hoạt động dạy học theo hướng tích cực ở trên lớp
* Trước khi vào bài tôi tiến hành kiểm tra bài cũ: (5 phút)
- Giáo viên treo bảng phụ:
1. Viết công thức cấu tạo thu gọn của rượu etylic ………..
2. Viết công thức cấu tạo thu gọn của axitaxetic ………….
3. Hoàn thành sơ đồ phản ứng sau:
CH3COOH + C2H5OH -----------> ……?……. + ….……?…….
+ Gọi tên sản phẩm chính
+ Etyl axetat thuộc loại hợp chất gì?
+ Phản ứng trên thuộc loại phản ứng gì?
Kết quả của đáp án tôi lưu lại bên góc phải của bảng (mục đích là dựa vào kiến thức bài
cũ để khai thác kiến thức khi dạy bài mới)


Bước 5: Giáo viên nêu vấn đề: Dầu, mỡ bôi trơn các ổ bi, xe máy có phải là chất béo
không? (HS: Dầu, mỡ bôi trơn các ổ bi, xe máy…không phải là chất béo).
- Vì sao dầu mỡ bôi trơn các ổ bi, xe máy… không phải là chất béo? (HS: Vì
chúng là sản phẩm của dầu mỏ).
● Giáo viên áp dụng phương pháp trên kết hợp việc sử dụng mẫu vật thật sẽ giúp HS
dễ quan sát, thảo luận tốt, không khí lớp học sôi nổi. Kết quả: 100% HS tự rút ra kết luận
rất nhanh, dẫn đến HS hứng thú học tập hơn so với dùng tranh vẽ.
Hoạt động 2: II. Chất béo có những tính chất vật lí quan trọng nào? (5 phút)
Phương pháp: nêu vấn đề cần nghiên cứu, trực quan, thí nghiệm kiểm tra dự đoán, thí
nghiệm nghiên cứu, quan sát, thảo luận nhóm,…
Bước 1: Từ những mẫu vật chứa chất béo, yêu cầu HS nêu trạng thái của chất béo?
Bước 2: Học sinh khác nhận xét và rút ra kết luận.
Bước 3: Ngoài tính chất vật lí trên, hãy dự đoán 1 số tính chất vật lí khác của chất
béo mà các em đã biết?(HS: nhẹ hơn nước, không tan trong nước)
Bước 4 (GV nêu vấn đề): Để chứng minh những điều trên các em hãy thực hiện thí
nghiệm sau đây, đồng thời giáo viên phát phiếu học tập cho các nhóm (4 nhóm). Yêu cầu
HS đọc nội dung thí nghiệm. Sau đó, GV lưu ý HS: Để thí nghiệm thành công, dễ quan
sát chỉ được nhỏ 2-3 giọt dầu ăn, không được nhỏ quá nhiều, khi nhỏ phải nhỏ men theo
thành ống nghiệm và lắc nhẹ.
Bước 5: Các nhóm thực hiện thí nghiệm và ghi kết quả hiện tượng quan sát được
theo yêu cầu vào phiếu học tập.

15


Bước 6: Các nhóm báo cáo kết quả thí nghiệm.
Qua quan sát thí nghiệm HS tự rút ra kết luận về tính chất vật lí quan trọng của chất
béo: nhẹ hơn nước, không tan trong nước nhưng tan được trong benzen, xăng, dầu hỏa...
● Rõ ràng GV sử dụng phương pháp trên kết hợp với phương tiện dạy học chu đáo,
nhấn mạnh thao tác thí nghiệm một cách tỉ mỉ đã giúp GV tiết kiệm được thời gian cho

Đồng thời giúp HS xác định gốc hidrocacbon C3H5 - có hóa trị (III) (vì liên kết với 3
nhóm –OH)
Bước 3: Sau đó tôi yêu cầu HS viết công thức cấu tạo của glixerol dưới dạng triển
khai dựa trên kiến thức cũ đã học (nguyên tắc viết công thức cấu tạo phân tử hợp chất
hữu cơ và công thức cấu tạo dạng triển khai của rượu etylic).
HS sẽ viết được công thức cấu tạo của glixerol dưới dạng triển khai (lưu ý HS khi ghi
công thức cấu tạo nên ghi mạch C trước) là:

CH2 - CH - CH2

OH - OH - OH
* Công thức chung của các axit béo

17


Bước 1: GV thông báo công thức của 1 số axit hữu cơ (axit béo) như:
Axit stearic: C17H35-COOH
Axit oleic: C17H33-COOH

(có trong ca cao, mỡ động vật…)
(có trong dầu oliu, …)

Axit panmitic: C15H31-COOH (có trong mỡ động vật, dầu cọ…)
Bước 2: Yêu cầu HS so sánh đặc điểm cấu tạo của các axit này với axitaxetic (CH 3COOH) đã học?
(Dựa trên kiến thức kiểm tra bài cũ HS so sánh:
+ Giống nhau: đều có nhóm –COOH
+ Khác nhau: axit axetic có nhóm –COOH gắn với gốc hidrocacbon CH3Còn các axit béo: có nhóm –COOH gắn với gốc hidrocacbon C 17H35-,
C17H33-, C15H31-,…)
Bước 3: GV nêu vấn đề đồng thời HS giải quyết vấn đề dựa trên kết quả so sánh


3 R-COOH + C3H5(OH)3

(R-COO)3C3H5 + 3H2O

(GV cần lưu ý HS: Khi lập phương trình nên cân bằng số gốc axit, gốc hidrocacbon
trước, rồi mới đến H và O).
Bước 3: Dựa trên công thức (R-COO)3C3H5, GV hướng dẫn HS hình thành định
nghĩa chất béo, công thức chung của chất béo. GV nên nhấn mạnh: Chất béo không phải
là hợp chất mà là hỗn hợp nhiều este, các este này do glixerol và các axit béo tạo nên.
● Với phương pháp như trên tôi khảo sát trắc nghiệm ngẫu nhiên 5 HS/ lớp, kết quả
100% các em nêu đúng các công thức: glixerol, các axit béo, chất béo. So với phương
pháp trước đây, phương pháp này đã giúp cho HS không những hiểu được kiến thức mới
(công thức glixerol, chất béo) mà còn khắc sâu kiến thức cũ (công thức rượu etylic,
axitaxetic, este), điều đó giúp HS phát huy được tính tự học, tự nhận thức, tự tìm ra tri
thức của bài học một cách chủ động, tích cực dưới sự hướng dẫn chỉ đạo của GV.
Hoạt động 4: IV. Chất béo có những tính chất hóa học quan trọng nào? (10 phút)
Phương pháp: nêu vấn đề, đàm thoại gợi mở, thông báo, tái hiện kiến thức cũ, so sánh.

19


Vì các thí nghiệm thủy phân chất béo trong môi trường kiềm hoặc axit xảy ra rất
chậm, không có hiện tượng rõ ràng và khó nhận biết nên không tiến hành các thí nghiệm
này trên lớp được.
Khi dạy phần: Phản ứng thủy phân chất béo trong axit GV tiến hành:
Bước 1: GV nêu vấn đề: Cơ thể chúng ta hấp thụ chất béo như thế nào?

(Điều


glixerol + muối của các axit béo

20


Bước 2: Tương tự HS cũng dựa vào công thức của các chất, hóa trị của các gốc axit
đã học mà hoàn thành phương trình hóa học:
to

(R-COO)3C3H5 + 3NaOH

C3H5(OH)3 + 3 R-COONa

GV thông báo hỗn hợp muối natri của các axit béo là thành phần chính của xà phòng
(xà phòng bánh),vì vậy phản ứng thủy phân chất béo trong môi trường kiềm còn gọi là
phản ứng xà phòng hóa.(Cần nhấn mạnh phản ứng xà phòng hóa cũng là phản ứng thủy
phân).
GV nên dự kiến tình huống HS thắc mắc: Tại sao nhìn trên phương trình hóa học ta
chỉ thấy có một muối (hoặc một axit) nhưng thực tế đó là một hỗn hợp muối (hoặc một
hỗn hợp axit)?
GV chỉ cần giải thích dưới dạng đơn giản nhất để HS dễ hiểu: “Vì chất béo là một
hỗn hợp nhiều este và ngay cả trong một phân tử este cũng có nhiều gốc axit khác nhau
nên khi thủy phân sẽ tạo ra một hỗn hợp muối (hoặc một hỗn hợp axit)”.
GV liên hệ thực tế: Hiện nay bên cạnh xà phòng sản xuất từ chất béo người ta còn
sản xuất các chất giặt rửa tổng hợp dạng bột gọi là “bột giặt” hay xà
phòng bột, xà phòng kem, …chúng xuất phát từ dầu mỏ và một số nguyên liệu khác.
Để củng cố phần này GV cho HS hoạt động nhóm (1’).
Bài tập: Hoàn thành các phương trình sau:
(C17H35COO)3C3H5 + H2O


Ngoài những ứng dụng trên, GV yêu cầu HS: Dựa vào những tính chất hóa học của chất
béo nêu ứng dụng của chất béo trong công nghiệp (HS: điều chế glixerol và xà phòng) và
cho biết cách bảo quản chất béo.
Thứ năm: GV ra bài tập để HS tự đánh giá và vận dụng tri thức.
Sau khi dạy xong kiến thức của bài, tôi tổ chức cho HS tham gia trò chơi: “Đi tìm
chìa khóa vàng” bằng cách chia lớp thành 2 đội: A và B (GV phổ biến luật chơi).
GV treo bảng phụ:

“ ĐI TÌM CHÌA KHÓA VÀNG”

22


1

3

Hàng dọc của từ: “Chìa khóa vàng”

* Nội dung gợi ý từ hàng ngang:
1/ Hạt lạc còn có tên gọi là hạt gì?
2/ Một trong các dung môi dễ tìm hòa tan được chất béo (sản phẩm của dầu mỏ).
3/ Đây là tên của phản ứng dùng để sản xuất xà phòng.

23


4/ Thịt, cá, trứng, sữa, đậu que gọi chung là gì?
5/ Đây là từ chỉ một trong các biện pháp để bảo quản thực phẩm.
6/ Tên gọi của một loại este được tạo ra từ axit axetic và rượu etylic.

G

A

P

H

O

N

G

H

O

A

T

H

U

C

P



Y

L

A

X

E

T

A

T

U

Y

P

H

A

N

Hàng dọc: Từ “Chìa khóa vàng”


Khá

T

T

S
7

14

%

10
16,
7

S
10

19

TB
%
14,
3
22,
6



8,5

0

0

So với kết quả năm trước, kết quả kiểm tra 15 phút năm nay đạt tỉ tệ HS giỏi là tăng
7 (6,7%), HS khá là tăng 9(8,3%), HS yếu là giảm 11(giảm 17,9%), không có HS bị điểm
kém.
2. Kết quả thực hiện.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status