SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"ĐỔI MỚI QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THPT ÂN
THI, TỈNH HƯNG YÊN"
Năm học: 2013-2014
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa la
Chữ
tắt
BGH
Ban giám hiệu
NV
Nhân viên
CB
Cán bô
PP
Phương pháp
Công nghệ thông
QTDH
tin
Quá trình dạy học
CSVC
Cơ sở vật chất
SGK
Sách giáo khoa
ĐDDH
Đồ dùng dạy học
SL
Số lượng
GD
Giáo dục
TB
Trung bình
Trung học phổ thông
chủ
QLGD
viết
Nghĩa la
Chữ viết tắt Nghĩa la
Chữ
tắt
viết
HS
Học sinh
UBND
Ủy ban nhân dân
HSG
Học sinh giỏi
Đào tạo và nhấn mạnh quan điểm: "Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học công nghệ
là quốc sách hàng đầu, là động lực của quá trình phát triển”.
Nghị quyết Trung ương II (khoá VIII) của Ðảng khẳng định: “Tăng cường cơ sở
vật chất cho các trường học là một yếu tố rất quan trọng để nâng cao chất lượng giáo
dục, từng bước áp dụng các phương pháp giáo dục tiên tiến và sử dụng các phương tiện
hiện đại”.
Thiết bị dạy học (TBDH) là môt trong những điều kiện cần thiết để giáo viên (GV)
thực hiện tốt nôi dung giáo dục, giáo dưỡng và phát triển trí tuệ, khơi dậy tố chất thông
minh, sáng tạo, đôc lập suy nghĩ và khả năng hợp tác của học sinh (HS). Trong quá trình
dạy học, TBDH vừa là công cụ giúp GV giảm nhẹ sức lao đông và truyền tải thông tin
nhằm tích cực hoá quá trình nhận thức HS, vừa là nguồn tri thức phong phú, khơi dậy
tính tò mò, óc sáng tạo, kích thích hứng thú học tập phát triển tư duy hệ thống và kỹ
năng, kỹ xảo thực hành của HS; thu hẹp khoảng cách ly thuyết đa dạng và thực tiễn
phong phú.
TBDH được xác định là môt thành tố quan trọng của quá trình dạy học (QTDH), nó
đóng vai trò to lớn trong việc đổi mới phương pháp dạy học (PPDH). Nếu việc quản ly và
sử dụng TBDH có hiệu quả sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng học tập
của học sinh nói riêng và chất lượng dạy học (CLDH) nói chung của nhà trường từ Mầm
non đến Đại học.
TBDH ở bậc THPT ngoài việc góp phần đổi mới PPDH nó còn có y nghĩa to lớn
trong quá trình nhận thức, rèn kỹ năng, kỹ xảo.
Đổi mới giáo dục (GD), hiện đại hoá TBDH ngày càng có y nghĩa quyết định đối
với sự sống còn của môt nền giáo dục và môt quốc gia, đặc biệt đối với nước ta xây dựng
chủ nghĩa xã hôi từ môt nước nông nghiệp lạc hậu, chậm phát triển vừa có những bước
tuần tự vừa có những bước nhảy vọt,…để rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển
trên thế giới.
Thực tế hiện nay việc quản ly TBDH ở các trường THPT huyện Ân Thi, tỉnh Hưng
Yên nhằm nâng cao CLDH trong các trường còn chưa được quan tâm đúng mức, thiếu sự
Biện pháp quản ly TBDH ở trường THPT Ân Thi nhằm nâng cao CLDH trong
trường.
5. Giới hạn va phạm vi nghiên cứu
5.1. Giới hạn nghiên cứu:
Môt số biện pháp quản ly TBDH ở trường THPT Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.
5.2. Đối tượng khảo sát
Ðề tài tập trung nghiên cứu khảo sát thực trạng về công tác quản ly TBDH THPT
Ân Thi, tỉnh Hưng Yên trong các năm học 2010-2011,2011-2012,2012-2013.
6. Giả thuyết khoa học
Trong thời gian qua, công tác quản ly TBDH ở trường THPT Ân Thi đã có tiến bô
hơn trước và đạt được những kết quả nhất định. Song so với yêu cầu đổi mới giáo dục
phổ thông thì việc quản ly TBDH còn môt số hạn chế, bất cập. Nếu vận dụng hợp ly các
biện pháp quản ly TBDH ở trường THPT do tác giả đề xuất thì sẽ góp phần nâng cao chất
lượng dạy và học ở trường THPT.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Nghiên cứu, phân loại và hệ thống hoá các chỉ thị, Nghị quyết của Ðảng, của Nhà
nước, của ngành và các tài liệu khoa học có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp điều tra bằng phiếu
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp lấy y kiến chuyên gia
7.3. Phương phápbổ trợ: thống kê toán học để xử lý các kết quả nghiên cứu.
8. Ý nghĩa của đề tai
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho các trường THPT có điều kiện tương
tự như trường THPT Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Nó còn có giá trị tham khảo cho các nhà
mục tiêu và nguồn lực hiện có.
Chỉ đạo: là điều khiển, điều hành, tác đông, huy đông, giúp đỡ, tạo điều kiện cho
những cán bô dưới quyền thực hiện những nhiệm vụ được phân công. Mỗi người đều có
mục tiêu riêng, người quản ly phải biết điều khiển tác đông để hướng mục tiêu cá nhân
sao cho hòa hợp với mục tiêu chung của tập thể.
Kiểm tra: là quá trình thiết lập và thực hiện các cơ chế thích hợp, theo dõi, giám sát
các thành quả hoạt đông và tiến hành sửa chữa, uốn nắn khi cần thiết để đảm bảo được
mục tiêu của tổ chức.
Kế hoạch
Kiểm tra
Thông tin QL
Tổ chức
Chỉ đạo
Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ giữa các chức năng trong chu trình quản lý
1.1.2. Quản lý giáo dục.
Giáo dục: Giáo dục là quá trình đào tạo con người môt cách có mục đích, nhằm
chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hôi, tham gia lao đông sản xuất, nó được
thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hôi những kinh nghiệm lịch sử, xã hôi
loài người.
Các nhà giáo dục học quan niệm giáo dục như môt hệ thống bao gồm các thành tố:
Mục tiêu giáo dục, nôi dung, phương pháp, phương tiện, kết quả giáo dục.
Quản lý giáo dục:
“QLGD là những tác đông có hệ thống, có kế hoạch, có y thức và hướng đích của
chủ thể quản ly ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bô hệ thống nhằm
mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá
trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực trẻ em”. [14,tr. 341]
chức điều khiển hoạt đông GD môt cách khoa học và đạt hiệu quả cao.
- TBDH góp phần đảm bảo chất lượng dạy học (CLDH), TBDH không chỉ là công cụ
lao đông đơn thuần của GV và HS mà nó còn được coi là nguồn tri thức, là đối tượng vật
chất của nhận thức.
1.1.4.3. Các loại thiết bị dạy học.
TBDH được phân loại theo nhiều cách khác nhau:
Phân loại theo loại hình; phân loại theo chức năng; phân loại theo nguồn gốc xuất
xứ hay giá trị; ngoài ra nhà trường còn có TBDH tự làm.
TBDH được sử dụng trong quá trình dạy học và giáo dục cần phải đảm bảo các yêu
cầu và tính chất của TBDH:
- TBDH phải phù hơp với đối tượng.
- TBDH phải đảm bảo tính khoa học.
- TBDH phải đảm bảo tính sư phạm..
- TBDH phải đảm bảo tính thẩm mỹ, khả thi và an toàn.
- TBDH phải đảm bảo tính kinh tế.
1.2. Quản lý thiết bị dạy học ở trường trung học phổ thông.
1.2.1. Vai trò của quản lý thiết bị dạy học.
-Công tác quản ly TBDH sẽ giúp các nhà quản ly có cái nhìn tổng quan về trình đô,
tốc đô phát triển của TBDH và mức đô ảnh hưởng của nó tới công nghệ dạy học ở trong
nước, khu vực và trên thế giới.
-Thông qua công tác quản ly TBDH sẽ đánh giá môt cách chính xác thực trạng của
TBDH, quá trình đầu tư mua sắm, bảo quản và chất lượng sử dụng, khai thác TBDH của
các nhà trường.
-Công tác quản ly TBDH sẽ giúp các nhà quản ly giáo dục đánh giá chính xác trình
đô sư phạm của giáo viên, nhân viên kỹ thuật, rà soát công tác nghiên cứu, phát triển,
sáng chế TBDH của giáo viên và học sinh.
1.2.2. Nội dung quản lý thiết bị dạy học.
TBDH.
1.4. Cơ sở pháp lý của quản lý thiết bị dạy học.
Những chủ trương của Đảng, Nhà nước và địa phương về việc tăng cường đầu
tư cơ sở vật chất và thiết bị dạy học cho phát triển giáo dục
Các văn bản của ngành và liên ngành chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện công tác quản ly
TBDH.
Tiểu kết chương 1.
Chương 1 của đề tài có nhiệm vụ xác định cơ sở lí luận về quản ly, QLGD, quản ly
nhà trường; nôi dung quản ly TBDH ở trường THPT. Dựa vào kết quả tổng hợp, phân
tích các tài liệu, văn bản có liên quan đến quản ly TBDH ở trường THPT cho thấy quản
ly TBDH ở trường THPT là những biện pháp cụ thể nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục
học sinh THPT. Ban giám hiệu trường THPT cần nắm vững cơ sở khoa học, pháp ly của
công tác quản ly CSVC trường học để chỉ đạo, thực hiện đầy đủ các chức năng quản ly
CSVC và TBDH nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường.
Từ kết quả nghiên cứu về lí luận quản ly, QLGD và quản ly TBDH ở trường THPT,
giúp tác giả có thêm cơ sở và phương pháp luận đúng đắn để đề xuất các biện pháp quản
ly TBDH ở trường THPT góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THIẾT BỊ DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ÂN THI,
HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN
2.1. Tình hình giáo dục của trường THPT Ân Thi
2.1.1.Quy mô số lớp, số HS của các trường THPT Ân Thi
Bảng 2.1. Kết quả thống kê quy mô số lớp, số HS của trường THPT Ân Thi
Năm
thành
lập
HS
31
1325
31
1335
31
1314
Hạng
trường
Đạt
Chuẩn
QG
1
2012
Theo kết quả thống kê ở bảng 2.1 cho thấy:
Trường THPT Ân Thi đã đạt trường chuẩn quốc gia giai đoạn 1 chứng tỏ điều
kiện csvc, chất lượng dạy và học... đã bước đầu đáp ứng được tiêu chí trường chuẩn
tuy nhiên còn cần cố gắng hơn nhiều trong những năm tiếp theo để giữ vững danh hiệu
trường chuẩn.
m2
110/1P
+ Sinh học
m2
110/1P
+ Công nghệ
m2
0
+ Tin học
phòng
220/2P
+ Ngoại ngữ
m2
164/2P
- Thư viện
m2
96
- Phòng GV
m2
96
- Phòng HT
m2
27
- Phòng Phó HT
m2
54/2P
- Phòng tổ bô môn
phòng
160/5P
- Phòng y tế
bô
15
- Máy in
cái
10
- Máy photocopy
cái
3
-Tivi
cái
6
-Catsec
cái
5
-Đầu video
Trường có khuôn viên rông rãi có thể đạt được chuẩn tính trên đầu học sinh, đây
là môt điều kiện thuận lợi để tiến tới xây dựng trường chuẩn quốc gia, các trường cần bố
trí khu vực làm việc, chức năng cho hợp ly và từng bước hoàn thiện việc trang bị CSVC,
TBDH đáp ứng yêu cầu giai đoạn mới.
2.1.3.Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên.
a/ Đội ngũ cán bộ quản lý.
Bảng 2.3. Thống kê kết quả khảo sát về đội ngũ CBQL
Chức
vụ
Giới
tính
Năm
sinh
Tuổi
nghề
Số
năm
làm
QL
Trình đô Trình
CM
đô QL
1971
20
4
Đại học
1976
14
1
Th S
Th S
đô
Trung cấp
Th S
Trung cấp
Trung cấp
Bảng 2.3 cho thấy: Phần lớn đôi ngũ CBQL của trường Ân Thi còn trẻ, mới tham
gia công tác quản ly chưa lâu. Đây vừa là thế mạnh nhưng đồng thời cũng là thách thức
đối với nhà trường. Nếu đôi ngũ CBQL của nhà trường biết lắng nghe học hỏi các thế hệ
CBQL đi trước; biết tận dụng sức trẻ, sự năng đông, sáng tạo của mình thì sẽ đạt được
9.5
67
90.5
0
0
Kết quả thống kê ở bảng 2.4 cho thấy:
100% GV đều đạt chuẩn về trình đô đào tạo, tuy nhiên tỷ lệ GV có trình đô trên
chuẩn chưa cao, số lượng giáo viên trẻ, tuổi nghề dưới 10 năm chiếm hơn 50%, đó cũng
là môt trong những khó khăn của trường Ân Thi trong giai đoạn hiện nay.
c/ Đội ngũ nhân viên.
Theo thông tư liên tịch số 35/2006/TTLT-BGD&ĐT-BNV ngày 23/8/2006 của
Liên Bô GD&ĐT và Bô Nôi vụ quy định nhân viên tại các trường THPT công lập gồm
kế toán, văn thư, thủ quĩ, thiết bị thí nghiệm, thư viện, y tế, lao công, bảo vệ.
Hiện nay, trường đã tuyển đủ số lượng các nhân viên, tuy nhiên ở vị trí như nhân
viên thiết bị thí nghiệm, khi được tuyển họ chưa có được trình đô chuyên môn chính quy
về lĩnh vực họ sẽ đảm nhiệm. Đây là khó khăn lớn cho việc thực hiện đổi mới chương
trình, PPDH ( tăng giờ thực hành thí nghiệm, phát huy tính tích cực ở học sinh).
2.1.4. Chất lượng giáo dục của trường THPT Ân Thi
Bảng 2.5. Kết quả xếp loại hạnh kiểm, học lực học sinh năm học 2012-2013
Tổng
HS
40
7
39
5
Bảng 2.5 cho thấy: Chất lượng giáo dục đạo đức của trường THPT Ân Thi khá ổn
định. Tỷ lệ trung bình HS xếp loại hạnh kiểm tốt và khá đạt 90.3%, xếp loại yếu 2.7%.
Về chất lượng giáo dục văn hóa đạt chuẩn. Tỷ lệ HS giỏi, HS khá đều ở mức cao. Tỷ lệ
HS yếu, kém dưới 5%(2.33%).
Bảng 2.6. Điểm chuẩn vào lớp 10 và kết quả thi tốt nghiệp THPT của trường
THPT Ân Thi trong 3 năm học từ 2010-2011 đến 1012-2013.
Điểm chuẩn vào lớp 10
Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp THPT
Năm
học20102011
Năm
học20112012
Năm
học20122013
Năm
học20102011
Năm
2012-2013
SL
%
SL
%
SL
%
215
51.5
218
52.3
205
51.7
Chất lượng đầu vào phụ thuôc vào nhiều yếu tố. Song nó khẳng định niềm tin và
đánh giá của XH đối với các trường: đánh giá về đôi ngũ, về CSVC, về tổ chức các hoạt
đông giáo dục trong nhà trường. Bên cạnh đó, chất lượng đầu vào còn phản ánh kết quả
75
44/58
75.8
33/53
62.3
Kết quả thống kê ở bảng 2.7 cho thấy, công tác giáo dục mũi nhọn nhìn chung đã
được quan tâm, hầu như mỗi năm học các trường đều có học sinh đạt giải tỉnh. Đặc biệt
trường Ân Thi năm học 2010-2011 có 2 học sinh dự thi quốc gia giải toán bằng máy tính
casio-vinacal môn Sinh học; năm học 2011-2012 có 2 học sinh dự thi quốc gia môn Tin
học trẻ và Giải toán qua Internet.
2.2. Thực trạng về thiết bị dạy học của trường trung học phổ thông Ân Thi
2.2.1 Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của TBDH trong nhà trường THPT Ân
Thi
Qua khảo sát xin y kiến HT (PHT), GV, cán bô phụ trách TBDH và HS ở trường
THPT Ân Thi thì nhận thức về mức đô cần thiết của TBDH trong QTDH được thể hiện
trong bảng 2.9
Bảng 2.9: Mức độ nhận thức về sự cần thiết của TBDH trong QTDH
Mức độ
Rất cần thiết
Cần thiết
51
85
9
15
0
0
CBPTTBDH
1
50
1
50
0
0
226
75.3
Trung bình
Yếu
SL
%
SL
%
SL %
SL
%
CBQL
1
25
1
25
2
50
50
0
0
1
Phần lớn HT (PHT), GV và cán bô phụ trách TBDH đánh giá chất lượng TBDH ở
các trường hiện nay là chưa tốt. Giáo viên là người trực tiếp sử dụng TBDH nên việc
đánh giá tương đối chính xác, cụ thể tới 73.3% GV cho rằng chỉ ở mức đô khá. Ða số các
đối tượng đều đánh giá TBDH ở trường THPT Ân Thi hiện nay mới ở mức khá, chất
lượng còn hạn chế, chưa đáp ứng tốt các yêu cầu sử dụng phục vụ cho hoạt đông dạy và
học.
2.2.3. Thực trạng trang bị TBDH ở trường THPT Ân Thi
2.2.3.1 Các loại TBDH mua sắm
Hàng năm từ nguồn ngân sách nhà nước, HT chủ đông lên kế hoạch đầu tư xây
dựng cơ sở vật chất, mua sắm trangTBDH, từng bước hoàn thiện trường lớp, TBDH theo
tiêu chí của trường chuẩn quốc gia. Tuy nhiên nguồn kinh phí dành cho việc mua sắm
TBDH còn hạn chế, Hiệu trưởng sử dụng ngân sách được cấp và vận đông XHHGD, các
nguồn khác để mua sắm bổ sung TBDH dần theo các năm học, từ đó dẫn đến hiện tượng
chắp vá không đồng bô.
Bảng 2.11: Ðánh giá tình hình trang bị TBDH ở trường THPTÂn Thi
Đầy đủ
0
0
2
50
2
50
0
0
GV
4
6.7
31
52.6
22
36.7
Từ 50 – 69%
Từ 70 – 89% Từ 90 – 100%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
HT ( PHT)
0
0
2
50
0
1
50
1
50
0
0
Đối tượng
Kết quả cho thấy, phần lớn các HT (PHT), GV, cán bô phụ trách TBDH cho rằng
TBDH hiện nay ở trường còn thiếu nhiều. Số TBDH ở trường chỉ đáp ứng được khoảng
từ 60 - 80% nhu cầu sử dụng cho nhà trường.
2.2.3.2. Thực trạng về các loại TBDH tự làm.
Thực trạng TBDH chưa đáp ứng được nhu cầu của GV và HS trong hoạt đông dạy
học nên việc tự làm TBDH đã được nhà trường coi trọng. Công việc này có y nghĩa giáo
dục rất quan trọng. Thực tiễn dạy học đã chứng tỏ rằng: việc tự làm các TBDH giúp HS
nắm vững tri thức hơn, rèn luyện cho HS óc sáng tạo, sự khéo tay,… giúp cho GV nâng
cao tay nghề, lòng yêu nghề và y thức trách nhiệm đối với sự nghiệp trồng người mà
mình đã lựa chọn.
Qua khảo sát ở trường THPT Ân Thi với 04 HT (PHT), gần 60 GV chúng tôi có
được kết quả trong bảng 2.13
0
1
25
2
50
1
25
Giáo viên
20
33.3
13
21.7 18
30
9
15
%
SL
%
SL
%
Giáo viên
0
0
5
8.3
46
76.7
9
15
Kết quả cho thấy, đối với GV, mức đô sử dụng TBDH trên 70% còn thấp (chiếm
15%) đa số GV chỉ sử dụng ở mức 50% - 70%.
Đối tượng
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
HT (PHT)
0
0
1
25
2
Bảng 2.16: Lí do làm hạn chế phương pháp và kĩ năng sử dụng TBDH ở trường
THPT Ân Thi
Ý kiến của đối tượng
HT (PHT)
Giáo viên
Các ly do
SL
%
SL
%
Việc đào tạo và nghiên cứu về TBDH của GV khi 1
học ở các trường sư phạm còn hạn chế
25
10
16.7
TBDH còn thiếu và không đồng bô
1
3
5
Nhà trường chưa có quy chế khuyến khích GV sử 1
dụng TBDH
25
8
13.3
Qua kết quả cho thấy có nhiều lí do làm hạn chế phương pháp và kĩ năng sử dụng
TBDH của GV, chủ yếu tập trung ở môt số nguyên nhân chính như:
Chương trình đào tạo nghiên cứu về TBDH của GV khi học ở các trường ÐH Sư
phạm còn hạn chế, TBDH ở các nhà trường còn thiếu và chưa đồng bô, không đủ để GV
nghiên cứu và sử dụng thường xuyên, các nhà trường còn chưa có quy chế khuyến khích
GV sử dụng TBDH. Về chủ quan nhiều GV còn ngại, chưa chủ dông nghiên cứu sử dụng
TBDH, y thức trách nhiệm chưa cao, chưa tích cực đổi mới PPDH theo hướng tích cực
hoá người học.
2.2.4.3. Hiệu quả sử dụng TBDH ở trường THPT Ân Thi
Qua khảo sát và xin y kiến của các HT (PHT) và GV của trường THPT Ân Thi,
chúng tôi thu được kết quả trên bảng 2.17.
Bảng 2.17: Hiệu quả sử dụng TBDH ở trường THPT Ân Thi
Mức đô
Tốt
1
25
2
50
1
25
Giáo viên
8
13.3
20
33.3
31
51.7
1
1.7
31.7
38
63.3
3
5
Kết quả cho thấy chỉ có 31.7 % GV thường xuyên sử dụng TBDH đúng theo yêu
cầu, quy định của chương trình. Số GV thỉnh thoảng sử dụng TBDH chiếm môt tỉ lệ khá
lớn (chiếm 63,3%). GV ít sử dụng TBDH dẫn đến tình trạng dạy chay, học chay còn
nhiều.
2.2.5. Thực trạng bảo quản TBDH ở trường THPT Ân Thi
Bảo quản TBDH được quy định trong yêu cầu của quản ly TBDH theo quy chế
TBDH: TBDH phải được bổ trí ngăn nắp, sắp xếp khoa học, tu bổ, bảo dưỡng, vệ sinh,
theo dõi việc sử dụng...
Đánh giá thực trạng bảo quản TBDH được chúng tôi khảo sát về các nôi dung: y
thức của CB, GV, NV, HS trong việc bảo quản TBDH, mức đô thực hiện các hoạt đông
bảo quản TBDH, tình hình kho và phương tiện bảo quản.
Bảng 2. 19. Ý kiến của CBQL, GV và HS về tính cần thiết và mức độ thực hiện việc
bảo quản TBDH của CB, GV, NV, HS
Đối tượng Tính cần thiết
đánh giá
Rất cần Cần thiết Không
thiết
%
CBQL
2
50
2
50
0
0
1
25
2
50
1
25
GV,
102 34
4.3
54
18
216 72
185 61. 13
7
30 10
Bảng 2.19 cho thấy: Tất cả CB, GV, NV, HS đều nhận thức được việc bảo
quảnTBDH là môt việc cần thiết trong quá trình dạy và học. Sự đánh giá giữa các luồng
y kiến của đối tượng được điều tra tương đối thống nhất nhau, họ đều nhận thức được
việc bảo quản TBDH không phải là cất giữ TBDH mà TBDH phải được theo dõi thường
xuyên nhưng vẫn đảm bảo, ít bị hư hỏng. Tuy nhiên theo đánh giá chung thì mức đô thực
hiện việc bảo quản TBDH hiện nay mới chỉ ở mức trung bình khá.
Nhận thức được sự cần thiết phải bảo quản TBDH nhưng mức đô thực hiện như thế
nào còn phụ thuôc nhiều vào điều kiện bảo quản của mỗi nhà trường Qua điều tra, đánh
giá về kho và phương tiện bảo quản TBDH tại nhà trường.
Bảng 2 .20: Đánh giá của CBQL và GV, NV về kho,
phương tiện bảo quản TBDH.
Đối tượng
S
L
%
bảo 0
0
3
75
1
25
0
0
56
90.
3
6
9.7
việc bố trí các phòng kho thiết bị cũng chỉ mang tính tương đối, đảm bảo về số lượng
nhưng chưa đạt về chất lượng.
Về phương tiện bảo quản TBDH được đánh giá ở mức còn thiếu và trên thực tế
chúng tôi nhận thấy phương tiện bảo quản chủ yếu là tủ, giá để đựng TBDH còn các loại
phương tiện khác theo quy định của phòng thiết bị như máy hút ẩm, quạt thông gió, xe
đẩy....thì còn thiếu.
Việc bảo quản TBDH, ở trường Ân Thi NVTB đã có sự phối kết hợp với GVCN
để huy đông HS cùng tham gia vào việc bảo quản TBDH. Tuy nhiên, nói chung mức đô
thực hiện bảo quản TBDH chưa thật sự đạt hiệu quả cao thể hiện qua sự hao mòn các loại
dụng cụ, thiết bị còn nhiều, chưa đảm bảo vệ sinh cho TBDH là do NVTB chưa tận tâm
với công việc, HS chưa có y thức cao đối với công tác này.