Sáng kiến kinh nghiệm SSKN giáo dục tình cảm đạo đức học sinh thông qua môn ngữ văn - Pdf 39

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"GIÁO DỤC TÌNH CẢM ĐẠO ĐỨC HỌC SINH THÔNG QUA
MÔN NGỮ VĂN"

1


I - Phần mở đầu
I.1. Lý do chọn đề tài:
Năm học 2009- 2010 với chủ đề: “Năm học đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng
giáo dục”. Với nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành là tiếp tục thực hiện các cuộc vận
động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; “Nói không với tiêu
cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”; “Mỗi thầy cô giáo là một tấm
gương đạo đức tự học và sáng tạo”; “Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích
cực”. Phòng giáo dục và Đào tạo Huyện Đông Triều cũng phát động phong trào thi đua:
“Xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực trong toàn ngành nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục đặc biệt là giáo dục đạo đức, nhân cách và kỹ năng cho học sinh”.
Hơn nữa trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng và nhà nước ta cũng đánh giá cao về
giáo dục và đào tạo. Nghị quyết trung ương II khóa VIII có nêu quan điểm: “Giáo dục và
đào tạo là quốc sách hàng đầu” và “Con người” được coi là mục tiêu, là động lực quan
trọng trong sự nghiệp phát triển của toàn xã hội. Sinh thời Hồ Chí Minh cũng đã khẳng
định “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ
nghĩa” theo Bác thì việc “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan
trọng và rất cần thiết”. Chính vì thế Bác nói “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì
lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Trong lĩch vực giáo dục Bác cũng yêu cầu phải
chú trọng đủ các mặt: Đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa kỹ thuật
lao động và sản xuất, đào tạo thế hệ trẻ thành người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa
vừa “hồng” vừa “chuyên”. Như vậy, đạo đức và tài năng là cả hai nội dung không thể
thiếu được đối với nhiệm vụ bồi dưỡng giáo dục trong đó đạo đức là gốc.

I.2. Mục đích nghiên cứu đề tài:
Nghiên cứu đề tài này là tôi muốn nắm được thực trạng của công tác giáo dục tình cảm
đạo đức học sinh trong nhà trường nói chung. Đề xuất một số biện pháp phối hợp giáo
dục tình cảm đạo đức học sinh trong việc giảng dạy bộ môn Ngữ Văn ở cấp THCS một
cách có hiệu quả giúp thế hệ trẻ các em trở thành những người công dân có ích trong thế
kỷ XXI, đáp ứng được mục tiêu của ngành giáo dục nói chung và bộ môn Ngữ văn nói
riêng.
Nghiên cứu đề tài này là tôi mong muốn sẽ cùng với các bạn đồng nghiệp cùng nhau đưa
ra những giải pháp thiết thực góp phần nhỏ bé của mình vào việc giáo dục tình cảm đạo
đức cho học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
I.3. Thời gian và địa điểm thực hiện đề tài:
- Thời gian: 2 năm (Từ tháng 09/2008 đến tháng 04/2010)
- Đối tượng thực nghiệm là chương trình ngữ văn lớp 8, 9

3


- Địa điểm thực nghiệm: Học sinh Lớp 8A, 9A- Trường THCS Tràng An.
I.4. Đóng góp mới về phần lý luận và thực tiễn:
I.4.1. Về lý luận:
Thông qua nội dung bài viết này tôi muốn đóng góp thêm với các bạn đồng nghiệp dạy
bộ môn Ngữ văn lớp 8, 9 nói riêng và bộ môn Ngữ văn cấp THCS nói chung về thực
trạng vấn đề giáo dục đạo đức học sinh trong tình trạng hiện nay. Một vấn đề mà toàn xã
hội đang quan tâm và đề cập đến rất nhiều những vấn đề về phạm trù đạo đức, vấn đề
giáo dục đạo đức trong trường học và giáo dục tình cảm đạo đức cho học sinh thông qua
bộ môn văn hóa.
I.4.2. Về thực tiễn:
Trường THCS Tràng An nằm trên địa bàn vùng nông thôn, là một xã thuần nông. Vì điều
kiện cuộc sống nên thường thì gia đình phó mặc việc giáo dục con em họ cho nhà trường.
Trong mấy năm gần đây hành vi đạo đức của học sinh trong trường đã có những biểu

giáo dục đạo đức cho học sinh thì vai trò của tập thể sư phạm lại giữ một vị trí quan trọng
và có tính quyết định.
Thế nhưng điều quan trọng là giáo dục như thế nào bởi vì giáo dục đạo đức không chỉ là
việc truyền thụ khái niệm tri thức đạo đức mà quan trọng hơn là kết quả giáo dục phải
được thể hiện thành tình cảm, niềm tin, hành động thực tế của học sinh. Giáo dục đạo đức
nó là cả một quá trình lâu dài phức tạp đòi hỏi phải có công phu kiên trì liên tục. Muốn
làm được điều này người giáo viên dạy văn phải nắm được đặc trưng của bộ môn mình
phụ trách. Ai cũng biết rằng môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt ngoài việc giúp các em bước
đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mỹ trong nghệ thuật, năng lực sử dụng
Tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp thì việc bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm
cho học sinh góp phần hình thành ở học sinh biết thương yêu, quý trọng gia đình, bạn bè,
có lòng yêu quê hương đất nước, lòng nhân ái bao dung, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự
công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác. Mà điều này người giáo viên văn lại có cơ hội
hơn các bộ môn khoa học khác.
Chính vì vậy, trong đề tài này tôi muốn đưa ra một số thực nghiệm về vấn đề kết hợp
giáo dục tình cảm đạo đức cho học sinh thông qua:
- Giờ đọc hiểu văn bản
- Giờ tập làm văn
- Hoạt động ngoại khóa văn học
II.2. Chương II: Nội dung vấn đề nghiên cứu:
Đạo đức là một hiện tượng xã hội, là sản phẩm quan hệ giữa con người với con người,
giữa cá nhân con người với tập thể, với cộng đồng xã hội. Đạo đức là yếu tố cơ bản của
nhân cách, là nền tảng của bản chất con người. Để vươn tới sự hoàn thiện trước hết con
người phải vươn lên về đạo đức. Vậy mà trong xã hội hiện nay lại còn không ít những
5


hiện tượng tiêu cực, những hành vi xấu thiếu nhân cách đã và đang từng bước làm tổn hại
đạo đức truyền thống của thế hệ trẻ chúng ta. Vì vậy việc giáo dục đạo đức học sinh
thông qua các môn học trong nhà trường là hết sức cần thiết và cấp bách. Người giáo viên

kiện, giáo viên Địa lý quan tâm đến các yếu tố tự nhiên và xã hội, dạy Toán chú ý đến
6


các con số lạnh lùng. Dạy văn không chỉ cần đến kiến thức là đủ mà thêm vào đó là cảm
xúc, tình cảm sự rung động của con tim, cái xuất thần của tâm hồn, cần đến cái không khí
văn, chất văn trong lớp học trong mỗi cá nhân thầy và trò. Trong bài viết này tôi chỉ xin
nêu nội dung và biện pháp thực hiện trong ba hoạt động của quá trình dạy học môn Ngữ
Văn.
Thứ nhất: Giáo dục tình cảm đạo đức học sinh thông qua giờ đọc- hiểu văn bản
Theo các nhà tâm lý học thì lứa tuổi học sinh cơ sở là lứa tuổi nằm trong những năm
tháng mà con người đang mở ra cho mình những cảm xúc và hứng thú mới mẻ. Đây là
lứa tuổi giàu cảm xúc nhất trong một đời người. Thế giới nội tâm và quan hệ xã hội xung
quanh của lứa tuổi này rất phức tạp về hành vi. Các em còn mang tính trẻ con nhưng ý
thức lại cho mình là người lớn. Các em thường mâu thuẫn giữa hành động bên ngoài và
nội tâm bên trong. Các em đã có hứng thú và cảm xúc mới mẻ, phương pháp hiếu động,
các em ngồi học không yên, hay nói chuyện riêng, thiếu tập trung trong giờ học. Để ổn
định do làn sóng này là điều rất khó. Nhưng chính cái hiếu động cảm xúc ấy bản thân nó
lại bao hàm một năng lực sáng tạo to lớn, cụ thể là năng khiếu sáng tạo biểu hiện rõ trong
văn học. Các em dễ dàng đồng cảm với nhân vật, nhập cuộc sống với tác giả, lứa tuổi các
em đã xuất hiện một chuyển biến đáng kể về năng lực cảm thụ văn học. Sự đánh giá nhìn
nhận của các em đã có ý thức. Dựa vào đặc
điểm tâm lý này mà người giáo viên văn phải biết tạo hứng thú học, học sinh có thích học
bộ môn thì mới nói đến chuyện bồi dưỡng cho các em tình cảm, thái độ sau giờ học được.
Vì thế trong giờ hiểu văn bản bước đầu tiên tôi muốn tạo hứng thú cho giờ học văn bằng
cách dẫn dắt vào bài một cách hấp dẫn. Vào bài mới là tạo tâm thế ban đầu, tạo không khí
cho một giờ học văn, học sinh có cảm giác tò mò muốn khám phá trước khi đến với một
tác phẩm văn học. Việc làm này có thể có giáo viên còn coi nhẹ, vào giờ văn sau khâu
kiểm tra bài cũ, giáo viên bị ức chế do học sinh không học bài, không soạn bài rồi thầy cô
quát mắng học sinh. Sau đó vào bài mới bằng một nhan đề trên bảng, như vậy thì làm sao

Chính vì thế dạy văn không thể không hướng dẫn học sinh đọc văn phải hướng dẫn các
em đọc chuẩn văn bản có nghĩa là phải đọc đúng, đọc rõ, đọc diễn cảm, đọc hay, đọc như
là một sự tự biểu hiện, như là sự tự cảm nhận nên khi đọc phải hướng dẫn các em dựa
trên đặc điểm thể loại của văn bản, tính cách của nhân vật, phong cách của tác giả để điều
chỉnh giọng đọc cho phù hợp. Người giáo viên văn phải coi phương pháp đọc sáng tạo là
phương pháp đặc biệt đối với môn văn mà trong đó đọc diễn cảm chỉ là một phần của đọc
sáng tạo. Giáo viên phải biết vận dụng phương pháp này trong suốt giờ học cho đến khi
bài học kết thúc, chứ không phải chỉ là đọc gây không khí đầu giờ học như một số người
thường nghĩ.
Tóm lại “đọc” là một hoạt động quan trọng hàng đầu cho sự cảm nhận và hiểu biết, trong
hoạt động “đọc” thì phần đọc mẫu của giáo viên vô cùng quan trọng trong một giờ dạy
văn. Cô giáo có giọng đọc truyền cảm, hấp dẫn tự nhiên sẽ làm cho học sinh chú ý, háo
hức theo dõi. Vì đối với nghệ thuật của văn chương, sự tồn tại của âm thanh ngôn từ vô
cùng quan trọng. Ví dụ khi dạy một bài thơ trữ tình nếu giáo viên luyện cho học sinh đọc
8


ngân vang lên bằng âm điệu tiết tấu, bằng cái vỏ âm thanh của ngôn từ thì sẽ góp phần
tạo nên những rung động sâu xa, những cảm xúc thẩm mỹ trong tâm hồn học sinh. Như
vậy là chúng ta đã góp phần giáo dục, giáo dưỡng tâm hồn, tình cảm học sinh qua giờ văn
học.
Nhìn chung thì việc dạy học văn ở trường phổ thông có hai mục đích chính.
+ Thứ nhất: Nhằm giúp học sinh lĩnh hội kiến thức văn chương như tất cả các môn học
khác.
+ Thứ hai: Nhằm giúp học sinh cảm thụ tác phẩm văn chương tạo điều kiện giáo dục
những phẩm chất tốt đẹp cho các em. Giúp các em hiểu một cách sâu sắc những giá trị
phong phú của văn chương quá khứ và hiện tại.

Chính vì vậy mà vấn đề thứ ba là phải kết hợp giáo dục tình cảm, thái độ cho học sinh
thông qua hoạt động tìm hiểu văn bản. Nói đến văn chương là nói đến cái đẹp, cái đẹp

dưỡng cho các em
niềm yêu kính tự hào để các em hiểu sâu hơn về những biểu hiện của đức tính giản dị và
như vậy trong các em sẽ hình thành ý thức tự nguyện học tập theo tấm gương Hồ Chí
Minh và các em sẽ tin rằng tấm gương về nhân cách Việt Nam sẽ muôn đời tỏa sáng.
Như vậy người giáo viên văn không chỉ củng cố cho các em kiến thức của bài Giáo dục
công dân mà còn bồi dưỡng cho các em tư tưởng tình cảm, đạo đức của con người.
Hoặc khi dạy bài thơ “Bếp lửa” của Bằng Việt (Ngữ văn 9- tập I). Từ hình ảnh cái “Bếp
lửa” bình thường giản dị và phổ biến trong mọi gia đình Việt Nam. Nhưng nó cũng thật
thiêng liêng kỳ diệu vì nó lại luôn gắn liền với Bà- Người nhóm lửa, giữ lửa, người tạo
nên tuổi ấu thơ của cháu. Bếp lửa trở thành một mảnh tâm hồn, một phần không thể thiếu
trong đời sống tinh thần của người cháu ở nơi xa. Bằng một hệ thống ngôn từ, nghệ thuật
ẩn dụ đặc sắc, người giáo viên văn đã phả vào tâm hồn học sinh tình cảm đẹp đẽ và thấm
đẫm của bà đối với cháu và cháu đối với Bà trong lúc hiện thực xã hội còn có những hiện
tượng tiêu cực: Con chửi lại cha, cháu cãi lại bà thì vấn đề gắn với giáo dục đạo đức học
sinh qua giờ Ngữ văn là rất cần thiết, làm sao để qua một giờ học văn giáo viên góp phần
tích cực thực hiện mục tiêu đào tạo của trường phổ thông cơ sở là bồi dưỡng tư tưởng,
tình cảm, xây dựng nhân cách con người mới cho học sinh, giáo dục cho các em tình yêu
quê hương đất nước và tinh thần quốc tế vô sản, tư tưởng làm chủ tập thể, thái độ lao
động XHCN và những đức tính tốt đẹp khác như lòng nhân ái, tinh thần dũng cảm, ý thức
chủ động sáng tạo trong cuộc sống. Bằng giọng thơ hay, bằng câu hỏi gợi sự nhận xét
tinh túy về cách nhìn, cách nghe và sự gợi cảm, làm thế nào để các em có thể tự hình
dung được trong tâm trí mình cả thiên nhiên và cuộc sống có thực có mơ, gần hay xa, xưa
hay nay để cho tâm hồn được mở rộng hơn, say sưa hơn và chính nhờ đó mà biết yêu
thích, sống hồn nhiên và rung động hơn. Các em có thể cảm nhận được cả mùi hương ổi
chín nồng nàn ở chốn thôn quê, gần gũi và quen thuộc đang phả vào làn gió se se lạnh
đầu mùa hay một làn sương mỏng manh duyên dáng đang giăng mắc nhẹ nhàng nơi đầu
thôn ngõ xóm trong bài thơ “Sang thu” của Hữu Thỉnh- Văn 9. Từ chỗ các em được
chiêm ngưỡng một khúc giao mùa nhẹ nhàng thơ mộng mà cũng thầm thì triết lý. Các em
10


D. Tiến trình giờ dạy:
I. ổn định tổ chức:
II. Kiểm tra bài cũ:
? Nhân vật Rô- Bin- Xơn hiện lên qua lời tự thuật như thế nào? Qua đoạn trích bộ lộ
phẩm chất gì của nhân vật?
* Yêu cầu: Rô- Bin- Xơn sống một cuộc sống khác thường thiếu thốn và khắc nghiệt một
mình nơi đảo hoang trong thời gian dài. Anh đã tự chế tạo ra
những trang phục và trang bị những kỳ cục (dẫn chứng) trông anh giống như một vị chúa
đảo-> bộc lộ một con người có nghị lực, sống lạc quan trong mọi hoàn cảnh.
III. Bài mới:
Tục ngữ Việt Nam có câu: “Con có cha như nhà có nóc”. Cái nóc của ngôi nhà sẽ che
chắn cho suốt cuộc đời mỗi đứa con. Nhưng nếu vì một lý do nào đó mà đứa con mất đi
“Lá chắn” của mình thì chúng sẽ ra sao? Đoạn trích “Bố của Xi- Mông” mà hôm nay
chúng ta học sẽ giúp cho các em hiểu hơn về tình người, tình đời trong cuộc sống của
mỗi con người.
Hoạt động của giáo viên và học sinh

Nội dung bài giảng

Hoạt động 1:

I. Giới thiệu tác giả- tác
phẩm:

Giáo viên trực quan chân dung tác giả
trên máy chiếu
1. Tác giả:

?Hãy nêu tóm tắt những hiểu biết của em - Guy đơ Môpa Xăng (1850về tác giả Môpa xăng
1893)

2. Tác phẩm:
(Xi- Mông là con trai của chị B lăng sốt,
khi đó nó khoảng 7- 8 tuổi lần đầu tiêu
đến trường bị bạn bè chế giễu là không có
bố. Nó rât buồn và đau khổ, nó ra bờ sông
định nhảy xuống sông cho chết đuối. Gặp
bác Phi- líp, bác đưa nó về nhà và hứa sẽ
cho nó một ông bố. Sáng hôm sau đến
trường nó hãnh diện khoe với bạn bè bố
nó tên là Phi- líp).

- Văn bản trích trong truyện
ngắn cùng tên
3. Đọc, hiểu chú thích:
a. Đọc, tóm tắt
b. Chú thích SGK

? Em hiểu thế nào là lầm lỡ?
? Từ ác ý được hiểu như thế nào?
? Văn bản thuộc thể loại nào? đoạn trích
được viết theo phương thức biểu đạt nào?
- Tự sự, miêu tả, biểu cảm
? Truyện được kể theo ngôi kể nào? có
13


tác dụng gì trong việc biểu đạt nội dung?
- Ngôi kể thứ ba=> người kể dấu mình=>
kể tự do nhìn thấy hết được những gì diễn
ra với nhân vật.

qua
Con
trai vật
của chị
lăng sốt
XiMông

7- 8 tuổi hơi xanh, sạch sẽ
nhút nhát

14


Bị bắt nạt vì không có bố

lời giới thiệu?

? Lý do vì sao Xi- Mông đi ra bờ sông
một mình?
Giáo viên: Xi- Mông ra bờ sông và sự
việc gì đã diễn ra với em ở bờ sông->
quan sát kênh chữ SGK.
? Qua đoạn 1 em hiểu Xi- Mông ra bờ
sông trong một tâm trạng như thế nào?
- Buồn đau khổ
? Em hiểu vì sao Xi- Mông đau khổ?
- Vì em không có bố
? Nỗi đau ấy đã được nhà văn khắc họa
như thế nào qua ý nghĩ? Tâm trạng và 2. Phân tích:
cách nói năng của em?

Thèm được ngủ

* Tâm trạng của em khi ở bờ
sông:

? Đặc biệt chi tiết Xi- Mông đuổi bắt chú
nhái rồi bật cười một mình nhớ tới trò
chơi… cho ta thấy Xi- Mông là một đứa
bé như thế nào?
- Rất trẻ con, ngây thơ, yêu thiên nhiên
yêu cuộc sống khóc đấy cười đấy hồn
nhiên đáng yêu.
? Thế nhưng tại sao khi nghĩ về nhà về
mẹ thì em lại thấy buồn và lại khóc?
- Nỗi đau đớn lại trỗi dậy trong em
? Hãy tìm những chi tiết miêu tả tâm
trạng đau đớn của em?
- Khóc, người rung lên, những cơn nức
nở dồn dập xốn xang-> khóc hoài, nói đứt
quãng.
16


? Qua tất cả những từ ngữ miêu tả đó thể
hiện tâm trạng của Xi- Mông lúc đó như
thế nào?
? Vì sao có thể nói nỗi đau không có bố là
nỗi đau tinh thần lớn nhất của Xi- Mông?
- Chỉ vì bị chế giễu không có bố-> muốn
chết

thể giải thoát đến nỗi tuyệt
(thảo luận nhóm).
vọng.
- Tác giả thương yêu đồng cảm với nhân
vật
? Qua nỗi đau của Xi- Mông tác giả
muốn nhắc nhở chúng ta điều gì?
- Không nên đùa cợt trên nỗi đau của
người khác
? Nếu em được là một người bạn của XiMông thì em sẽ làm gì cho bạn ấy?
? Nếu trong lớp hoặc trong trường ta có
một bạn rơi vào hoàn cảnh như Xi- Mông
thì em sẽ xử xự với bạn như thế nào?
Thế còn cậu bé Xi- Mông trong câu
chuyện, trong lúc em phải chịu về nỗi đau
tinh thần, trong lúc em đang tuyệt vọng
như vậy liệu có ai giải thoát cho em
không? và tâm trạng của Xi- Mông sẽ
như thế nào nếu như em có một ông bố?
- Một em đọc tiếp “Bỗng một bàn tay”->
“bỏ đi rất nhanh”
? Sự việc gì đã xảy ra với Xi- Mông trong
lúc em đang đau đớn và tuyệt vọng?
- Gặp bác Phi- líp
? Xi- Mông tỏ thái độ như thế nào khi em
gặp bác Phi- líp ở bờ sông?
18


- Trả lời mắt đẫm lệ- nghẹn ngào

phụ nữ xấu không? Vì sao em khẳng định
như vậy?
- Đứng nghiêm nghị như muốn cấm đàn
ông
- Ôm con hôn lấy hôn để…
? Khi nghe con hỏi tâm trạng của chị như
thế nào? Hãy tìm những chi tiết mà nhà
văn miêu tả?
- Người đàn bà hổ thẹn lặng ngắt, quằn
quại dựa vào tường hai tay ôm ngực, im
lặng, tái tê thổn thức không ra tiếng->
sống đứng đắn, nghiêm túc đành chấp
nhận hoàn cảnh sống hiện tại, gửi tình
thương yêu vào bé Xi- Mông.
? Việc miêu tả qua vài nét về hình ảnh
của chị, qua cái nhìn của Phi líp và diễn
tả tâm trạng của chị, ta hiểu chị là người
phụ nữ như thế nào?
- Học sinh nghiên cứu đoạn 2, 3

* Tâm trạng của Xi- Mông
? Tác giả tả chân dung bác thợ rèn Phi- khi gặp bác Phi- líp:
líp như thế nào? Em có nhận xét gì về
bác?
- Phi- líp là một người lao động lương
thiện, yêu nghề khỏe mạnh, nhân hậu, yêu
trẻ.
? Vì sao bác lại an ủi và đưa Xi- Mông về
nhà?
20

người nghèo khổ, bất hạnh).

21


? Em có nhận xét gì về nghệ thuật miêu tả
diễn biến tâm trạng của nhân vật? (3 nhân
vật).
(Thể hiện tâm trạng, phẩm chất nhân vật
qua tả ngoại hình cử chỉ, lời nói phù hợp
lứa tuổi hoàn cảnh).
- Một em đọc ghi nhớ- SGK 144

Chị là người phụ nữ đức hạnh
bị lừa dối.

c. Nhân vật bác Phi- líp:

22


23


- Một người lao động khỏe
mạnh lương thiện có trái tim
nhân hậu.

III. Tổng kết:
1. Nội dung:

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi hết đời lòng mẹ vẫn thương con.””
Hay một dẫn chứng khác: Sau khi học xong bài thơ “Mây và sóng” của nhà
thơ Ta-Go (Ngữ văn 9- tập II) tôi ra một bài tập về nhà như sau:
“Em suy nghĩ gì về tình mẫu tử sau khi học xong bài thơ “Mây và sóng”. Hãy bày tỏ suy
nghĩ đó của em bằng 1 đoạn văn.”
Thật bất ngờ em Thái Hà học sinh lớp 9C lại cho cả lớp nghe một bài thơ viết về mẹ như
sau:

Nếu mẹ là...
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status