Quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường sĩ quan tăng thiết giáp đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục (LV02046) - Pdf 39

GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
_____________
•¶œ______________

NGÔ QUANG THẮNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA
SINH VIÊN TRƯỜNG SĨ QUAN TĂNG THIẾT GIÁP
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
_____________
•¶œ______________

NGÔ QUANG THẮNG

QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA
SINH VIÊN TRƯỜNG SĨ QUAN TĂNG THIẾT GIÁP
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lí giáo dục
Mã số: 60 14 01 14

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC



Tác giả luận văn

Ngô Quang Thắng


iii

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác. Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi
sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích
dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn

Ngô Quang Thắng


iv

MỤC LỤC
TRANG BÌA PHỤ ................................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN.......................................................................................................ii
LỜI CAM ĐOAN .................................................................................................iii
MỤC LỤC.............................................................................................................iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT................................................................. vii
DANG MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ ................................................................. viii
MỞ ĐẦU ...............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu ..........................................................................................3

Tiểu kết chương 1................................................................................................. 38
Chương 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA
SINH VIÊN TRƯỜNG SĨ QUAN TĂNG THIẾTGIÁP ĐÁP ỨNG YÊU
CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC............................................................................... 39
2.1. Khái quát về Trường SQ Tăng thiết giáp ....................................................... 39
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển............................................................... 39
2.1.2. Nhiệm vụ đào tạo........................................................................................ 43
2.1.3. Mẫu khảo sát .............................................................................................. 43
2.2. Thực trạng hoạt động học tập ở trường Sĩ quan Tăng thiết giáp ..................... 46
2.2.1. Thực trạng nhận thức về hoạt động học tập................................................. 46
2.2.2. Thực trạng về nội dung chương trình .......................................................... 49
2.2.3. Thực trạng về phương pháp học tập ............................................................ 51
2.2.4. Thực trạng về hình thức tổ chức học tập ..................................................... 52
2.2.5. Thực trạng kế hoạch học tập ....................................................................... 54
2.2.6. Thực trạng về kiểm tra đánh giá kết quả ..................................................... 55
2.3.Thực trạng quản lý hoạt động học tập ở trường Sĩ quan Tăng thiết giáp.......... 56
2.3.1. Quản lý mục tiêu, nhiệm vụ học tập............................................................ 56
2.3.2. Quản lý nội dung học tập ............................................................................ 62
2.3.3. Quản lý phương pháp học tập ..................................................................... 65
2.3.4. Quản lý hình thức tổ chức học tập............................................................... 67
2.3.5. Quản lý thời gian học tập ............................................................................ 69
2.3.6. Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập .......................................... 70
2.3.7. Quản lý việc bảo đảm các điều kiện hỗ trợ hoạt động học tập ..................... 73
2.4. Đánh giá chung về thực trạng ........................................................................ 75
Tiểu kết chương 2................................................................................................. 78


vi
Chương 3. MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG SĨ QUAN TĂNG THIẾT GIÁP ĐÁP ỨNG


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBQL

Cán bộ quản lý

CBCNV

Cán bộ công nhân viên

GD - ĐT

Giáo dục - Đào tạo

HĐHT

Hoạt động học tập

HSSV

Học sinh sinh viên

SV

Sinh viên

SQ

Sĩ quan

và quản lý hoạt động học tập ................................................................................................... 92
Bảng 3.3: Mức độ cần thiết và khả thi của biện pháp tổ chức, chỉ đạo hoạt động học tập........ 94
Bảng 3.4: Mức độ cần thiết và khả thi của biện pháp dạy cách học cho sinh viên .................. 95
Bảng 3.5: Mức độ cần thiết và khả thi của biện pháp xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị,
bảo đảm các điều kiện học tập cho sinh viên................................................................................ 96
Sơ đồ 1.1: Các chức năng quản lý........................................................................................... ......17
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức trường Sĩ quan Tăng thiết giáp.......................................................... 42


1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Việt Nam chúng ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, nhằm đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp văn minh hiện
đại và hội nhập quốc tế. Trong giai đoạn hiện nay, một trong những nhiệm vụ
cần tập trung giải quyết là nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục theo hướng chuẩn hóa và hiện đại hóa. Điều đó đặt ra
nhiệm vụ cho ngành Giáo dục - Đào tạo là phải: “Đổi mới chương trình nhằm
phát triển năng lực và phẩm chất người học hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người,
dạy chữ và dạy nghề. Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại,
thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận
dụng kiến thức vào thực tiễn. Chú trọng giáo dục nhân cách đạo đức lối sống tri
thức, pháp luật và ý thức công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn
hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và
nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.…đào tạo con
người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và
nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng
cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê và ý chí vươn
lên...”(Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị

run sợ, góp phần khẳng định sức mạnh của quân đội nhân dân Việt Nam trên
trường quốc tế. Ngày nay, đất nước hòa bình, tiến lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội,
Bộ tư lệnh nói chung và trường Sĩ quan Tăng - thiết giáp nói riêng lại tiếp tục thực
hiện nhiệm vụ cao cả: Cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho lực lượng quân
đội nhân dân Việt nam. Trường có nhiệm vụ đào tạo sĩ quan chỉ huy chiến thuật
tăng và thiết giáp cấp phân đội, trình độ cử nhân quân sự, bậc đại học và cao đẳng.
Trường được thành lập ngày 22/ 06/ 1965. Năm 1998 Trường sĩ quan Tăng - thiết
giáp được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận là Trường Đại học quân sự chuyên
ngành chỉ huy tăng thiết giáp. Trường có trọng trách lớn là đào tạo lực lượng sĩ
quan chỉ huy chiến thuật Tăng và Thiết giáp, cung cấp nguồn nhân lực có chất


3
lượng cao trong quân đội, phục vụ cho nhiệm vụ Quân sự của đất nước. Hiện nay
Nhà trường đang từng bước đổi mới để đáp ứng yêu cầu đổi mới Giáo dục và đào
tạo. Nhà trường thường xuyên quan tâm đến chất lượng Giáo dục và đào tạo, đổi
mới phương pháp giảng dạy, đặc biệt là công tác quả lý hoạt động học tập. Trong
thời gian qua Nhà trường đã quan tâm tổ chức quản lý tốt hoạt động học tập của
sinh viên. Từ đó, đã đem lại nhiều kết quả như đã biết nghiên cứu khoa học và đã
có nhiều sáng kiến, cải tiến trong học tập, kết quả học tập đã được nâng lên … Tuy
nhiên, quá trình tổ chức các biện pháp quản lý hoạt động học tập của sinh viên còn
gặp những khó khăn, bộc lộ những hạn chế cũng như chưa được quan tâm đúng
mức dẫn đến hiệu quả đạt được chưa cao, mặt khác đảng nhà nước đang từng bước
đổi mới giáo dục thì công tác quản lý cũng phải đổi mới nâng cao để đáp ứng được
những đổi mới đó.
Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện các biện pháp
quản lí hoạt động học tập của sinh viên Trường sĩ quan Tăng thiết giáp để đưa ra
những biện pháp quản lí nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động học tập của sinh viên,
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của Nhà trường đáp ứng được
những đổi mới là một vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.

những thành tựu lí luận đã có, quán triệt các văn kiện của Đảng và Nhà nước về
giáo dục và quản lí giáo dục.
- Phương pháp phân tích lịch sử-logic để đánh giá, chọn lọc những quan
niệm, quan điểm thích hợp với đề tài.
- Phương pháp tổng hợp và khái quát hóa lí luận để xác định phương pháp
luận, hệ thống khái niệm và quan điểm khoa học, logic và khung lí thuyết của
nghiên cứu.
6.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát sư phạm: trên cơ sở quan sát đối tượng khảo sát dưới sự tác động của
các biện pháp quản lí để đánh giá thực tiễn kết quả của các biện pháp đã triển khai.
- Điều tra xã hội học: trên cơ sở xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến của đối
tượng khảo sát, chọn mẫu khảo sát để thu thập số liệu, tư liệu và ý kiến về thực
trạng công tác quản lí HĐHT và ý kiến đánh giá về các giải pháp mà đề tài đưa ra.
- Phương pháp chuyên gia.


5
6.3. Các phương pháp khác
- Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích, xử lý các thông tin,
số liệu thu được.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần: mở đầu; kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo,
phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương, 12 tiết.
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý hoạt động học tập của sinh viên Trường sĩ
quan Quân đội
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động học tập của trường sĩ quan Tăng
thiết giáp đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường sĩ
quan Tăng thiết giáp đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.




7
bị này cần được thực hiện ở đời sống xã hội trên cơ sở chú ý đầy đủ đến “sự tự do”
của đứa trẻ. Các nhà giáo dục ở thế kỉ XVIII và XIX như Pextalodi (1746-1827),
Disterverg (1790-1886), Usinxki (1824-1870)... đã nhấn mạnh cách làm cho người
học giành lấy kiến thức bằng con đường tự khám phá, tự tìm tòi.
John Dewey (1859 – 1925) [17], nhà sư phạm người Mỹ nổi tiếng đầu thế kỷ
XX đã đưa ra một phương hướng canh tân giáo dục, ông yêu cầu bổ sung vào vốn tri
thức của học sinh những tri thức ngoài sách giáo khoa và lời giảng của giảng viên, đề
cao hoạt động đa dạng của học sinh, đặc biệt là hoạt động thực tiễn. Ông viết: “Học
sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục, nói không phải là
dạy, nói ít hơn, chú ý nhiều đến việc tổ chức hoạt động của học sinh”.
Vào thập niên 30 của thế kỷ XX, nhà giáo dục nổi tiếng Nhật Bản
Tsunesaburo Makiguchi (1871 – 1944) [53, tr. 152] đã nhấn mạnh: “Giáo viên không
bao giờ học thay cho học viên mà học viên phải tự mình học lấy. Nói khác đi, dù giáo
viên có làm gì đi nữa thì mọi tri thức truyền thụ vẫn không có giá trị nếu họ không
làm cho học sinh tự mình kiểm nghiệm và thực nghiệm những tri thức”.
Trong tác phẩm “Tự học như thế nào”, nhà bác học, nhà văn hóa Nga
N.A.Rubakin (1862 – 1946) [44, tr. 10] đã chỉ ra phương pháp tự học để nâng cao
kiến thức, mở rộng tầm nhìn. N.A.Rubakin đặc biệt chú trọng đến việc đọc sách.
Ông khẳng định: hãy mạnh dạn tự mình đặt câu hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời.
Đó chính là phương pháp tự học.
Năm 1996, hội đồng quốc tế Jacques Delors về giáo dục cho thế kỷ XXI đã
gửi UNESCO bản báo cáo “Học tập – Một kho báu tiềm ẩn” [44, tr. 10], báo cáo đã
phân tích nhiều vấn đề của giáo dục trong thế kỷ XXI, trong đó đặc biệt nhấn mạnh
đến vai trò của người học, cách học cần phải được dạy cho thế hệ trẻ.
Trong cuốn sách Cách mạng học tập (1999), Cordon Dryden và Jeannette
Vos [44, tr.12] đã đề ra công thức MASTER để hướng dẫn người học phát huy
năng lực học tập của bản thân (M: Mind set for success, A: Acquire knowledge, S:

phải bền bỉ, kiên trì thực hiện kế hoạch đến cùng, không lùi bước trước mọi trở ngại.
Bốn là, Phải triệt để tận dụng mọi hoàn cảnh, mọi phương tiện, mọi hình
thức để tự học.
Năm là, Học đến đâu, ra sức luyện tập, thực hành đến đó.
Năm 1998, Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên) [51, tr. 101 – 103] đã tập trung
luận bàn về tự học trong cuốn sách “Quá trình Dạy – Tự học”, đưa ra những trở lực


9
cho việc học, kinh nghiệm khắc phục và phương châm đảm bảo thắng lợi của tự
học. Tác giả cho rằng mục tiêu đào tạo của các trường hiện nay cần chú trọng rèn
luyện cho người học “năm mọi” trong học tập (học mọi nơi, học mọi lúc, học mọi
người, học bằng mọi cách và học qua mọi nội dung) và bảy loại tư duy cần rèn
luyện (tư duy logic, tư duy hình tượng, tư duy biện chứng, tư duy quản lý, tư duy
kinh tế, tư duy kỹ thuật và tư duy thuật toán). Đồng thời tác giả đưa ra một số xu
thế mới về phát triển việc học trong mối quan hệ biện chứng với dạy. Bên cạnh đó,
tác giả còn nêu lên vai trò và trách nhiệm của gia đình trong việc dạy tự học cho
học sinh. Hoàng Anh và Đỗ Thị Châu [1] cũng đã khái quát chung về hoạt động học
tập – tự học của sinh viên trong cuốn sách “Tự học của sinh viên”, tác giả đưa ra
bản chất và đặc điểm của hoạt động học tập có mục đích, cấu trúc của hoạt động
học tập, động cơ học tập và các yếu tố tâm lý ảnh hưởng tới hoạt động học tập – tự
học của sinh viên.
Tư tưởng tự học, tự đào tạo cũng được Đảng ta xem như một chiến lược
thúc đẩy giáo dục phát triển. Điều này đã được khẳng định nhất quán ở nhiều văn
bản khác nhau: Nghị quyết Trung ương 2 Khóa VIII của Đảng [62] đã chỉ rõ “…
Từng bước … bảo đảm điều kiện và định hướng tự học, tự nghiên cứu cho học sinh,
nhất là sinh viên đại học. Phát triển phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và
rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên. Nâng cao năng lực tự học và thực
hành cho học sinh”.
Chỉ thị 40 của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 15 tháng 06 năm 2007

Điểm qua các công trình nghiên cứu trên đây về hoạt động học tập của
sinh viên, chúng ta thấy rằng hoạt động học tập của sinh viên đã có những cơ sở
lý luận rất vững chắc. Tuy nhiên, những công trình đi sâu nghiên cứu về quản lý
hoạt động học tập của sinh viên trong trường Đại học còn ít được chú trọng và
chưa có nhiều. Trong đó, công tác quản lý hoạt động học tập của sinh viên
trường Sĩ quan Tăng thiết giáp chưa có tác giả nào nghiên cứu, do đó, qua đề tài
này, chúng tôi tập trung nghiên cứu đánh giá đúng thực trạng quản lý hoạt động
học tập, từ đó, đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý
hoạt động học tập của sinh viên trường Sĩ Quan Tăng thiết giáp đáp ứng yêu cầu
đổi mới giáo dục.


11
1.2. Một số khái niệm liên quan
1.2.1. Hoạt động
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học [56, tr. 20] thì: “Hoạt động
là tiến hành những việc làm có quan hệ với nhau chặt chẽ, nhằm một mục đích
nhất định trong đời sống xã hội”.
Theo Phạm Minh Hạc [22, tr. 49] “Hoạt động là quá trình tác động qua
lại giữa con người với thế giới xung quanh để tạo ra sản phẩm về phía thế giới và
sản phẩm về phía con người. Trong quá trình tác động qua lại đó, có hai chiều tác
động diễn ra đồng thời, thống nhất và bổ sung cho nhau”.
Như vậy, có thể hiểu hoạt động là sự tương tác tích cực giữa chủ thể và đối
tượng nhằm biến đổi đối tượng theo mục đích mà chủ thể tự giác đặt ra để thỏa
mãn nhu cầu của bản thân. Hoạt động sinh ra từ nhu cầu nhưng lại được điều
chỉnh bởi mục tiêu mà chủ thể nhận thức được. Nhu cầu với tư cách là động cơ, là
nhân tố khởi phát của hoạt động nhưng lại chịu sự chi phối của mục tiêu mà chủ thể
nhận thức được.
Hoạt động có một số đặc điểm sau:
- Hoạt động bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng: Đối tượng của hoạt động

thức bên trong con người mình…”.
Phan Trọng Ngọ [40] thì “Học là quá trình tương tác giữa cá thể với môi
trường, kết quả là dẫn đến sự biến đổi bền vững về nhận thức, thái độ hay hành vi
của cá thể đó. Học tập là việc học có chủ ý, có mục đích định trước, được tiến hành
bởi một hoạt động đặc thù – hoạt động học, nhằm thỏa mãn nhu cầu học của cá nhân”.
Nguyễn Thạc và Phạm Thành Nghị [1, tr. 104] định nghĩa “Hoạt động học
tập ở đại học là một loại hoạt động tâm lý được tổ chức một cách độc đáo của sinh
viên nhằm mục đích có ý thức là chuẩn bị trở thành người chuyên gia phát triển
toàn diện, sáng tạo và có trình độ nghiệp vụ cao”.
- Qua những khái niệm trên đây, có thể hiểu rằng hoạt động học tập của sinh
viên là sự chiếm lĩnh kinh nghiệm của nhân loại dưới ảnh hưởng của những tác
động dạy. Chủ thể của hoạt động học là trò, là tập thể những người được giáo dục.
Đối tượng của hoạt động học là những kinh nghiệm của loài người trong việc nhận
thức và cải tạo hiện thực khách quan, trong các quan hệ xã hội đa dạng. Mục đích
của hoạt động học là nhằm chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội, giá trị văn hóa của loài


13
người để lại, trên cơ sở đó mà hình thành năng lực sáng tạo trong việc cải tạo tự
nhiên và xã hội, biết chung sống với những gì quy định sự tồn tại của bản thân
người học. Phương tiện của hoạt động học bao gồm những công cụ vật chất, những
phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt động nhận thức, khoa học định hướng
giá trị, hoạt động sản xuất, chính trị xã hội, văn hoá thẩm mỹ, thể dục thể thao mà
học sinh được tổ chức tham gia. Kết quả hoạt động học là những khả năng mới của
học sinh trong việc nhận thức, cải biến hiện thực, là sự phát triển những thuộc tính
của nhân cách học sinh phù hợp với nhu cầu xã hội.
- Động cơ học tập của người học cụ thể, rõ ràng và gắn liền với động cơ nghề
nghiệp, ham muốn trưởng thành và thành đạt.
- Mục đích học tập của người học cũng cụ thể, rõ ràng, rộng hơn và luôn gắn
với nghề nghiệp. Việc chuyển hóa giữa mục đích và phương tiện học tập trong quá

đạo để điều hòa sự hoạt động của cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát
sinh từ sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm
tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.
Ở Việt Nam chúng ta, khi nói đến quản lý có nhiều nhà khoa học đã nghiên
cứu và đưa ra những khái niệm về quản lý:
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ
chức, định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về mặt chính trị, văn
hoá, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc,
các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự
phát triển của đối tượng”[20].
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục
tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ
chức, chỉ đạo và kiểm tra”. “ Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ
đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý)
trong một tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ
chức”[35,tr1].
Qua các cách giải thích về quản lý của các tác giả trong và ngoài nước ta có
thể kết luận: Quản lý là hệ thống những tác động có chủ định của chủ thể quản


15
lý đến khách thể quản lý nhằm hướng dẫn, điều khiển các quá trình xã hội, các
hành vi hoạt động của con người để đạt tới những mục đích phù hợp với ý chí
của nhà quản lý và phù hợp quy luật khách quan.
Quản lí vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Quản lí là khoa học vì nó là lĩnh
vực tri thức được hệ thống hoá và là đối tượng nghiên cứu khách quan đặc biệt, có hệ
thống lí luận làm cơ sở để người quản lí vận dụng nhằm đưa ra các quyết định phù
hợp với điều kiện khách quan. Quản lí là nghệ thuật bởi lẽ nó là hoạt động đặc biệt,
hoạt động này đòi hỏi vận dụng hết sức khéo léo, linh hoạt những kinh nghiệm đã
quan sát được, những tri thức đã được đúc kết cho phù hợp với từng tình huống và

tổ chức;
Phân chia toàn bộ công việc thành các nhiệm vụ để các thành viên hay bộ
phận trong tổ chức thực hiện một cách thuận lợi và hợp logic. Bước này gọi là phân
công lao động;
Kết hợp các nhiệm vụ một cách logic và hiệu quả. Việc nhóm gộp nhiệm vụ
cũng như thành viên trong tổ chức gọi là bước phân chia bộ phận;
Thiết lập một cơ chế điều phối, tạo thành sự liên kết hoạt động giữa các
thành viên hay bộ phận tạo điều kiện đạt được mục tiêu một cách dễ dàng;
Theo dõi đánh giá tính hiệu nghiệm của cơ cấu tổ chức và tiến hành điều
chỉnh nếu cần.
+ Công tác tổ chức bao gồm:
+ Xác định cấu trúc của bộ máy.
+ Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy.
+ Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong tổ chức.
- Chức năng chỉ đạo.
Chỉ đạo là quá trình sử dụng quyền lực quản lý để tác động đến các đối
tượng bị quản lý (con người, các bộ phận) một cách có chủ đích nhằm phát huy hết
tiềm năng của họ hướng vào việc đạt mục tiêu chung của hệ thống
Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm:
+ Chỉ huy, ra lệnh.
+ Động viên khen thưởng.
+ Theo dõi, giám sát.
+ Uốn nắn, sửa chữa, chỉnh lý.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status