ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DU LỊCH SINH THÁI Ở VÙNG NÚI ĐÁ VÔI TỈNH NINH BÌNH - Pdf 39

ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DU LỊCH SINH THÁI
Ở VÙNG NÚI ĐÁ VÔI TỈNH NINH BÌNH
GS. TS Trương Quang Hải
Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, ĐHQGHN

1. Đặt vấn đề
Phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu trong chính sách phát triển
hiện nay của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt đối với một nước đang
phát triển như Việt Nam. Du lịch với tư cách là một ngành quan trọng,
mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế, luôn được chú trọng phát triển.
Tuy nhiên, tình trạng khai thác chưa hợp lý các nguồn tài nguyên du lịch ở
nhiều nơi dẫn tới những tác động tiêu cực đến môi trường. Do vậy, trong
những thập kỷ gần đây, việc phát triển kinh tế, trong đó có du lịch được đặt
ra phải gắn liền với bảo tồn di sản và bảo vệ môi trường.
Du lịch sinh thái là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên
nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa
phương [11]. Ở nước ta, du lịch sinh thái (Ecotourism) là loại hình du lịch
phát huy được lợi thế đa dạng và độc đáo về tài nguyên du lịch tự nhiên.
Tài nguyên du lịch sinh thái là một bộ phận quan trọng của tài nguyên
du lịch, bao gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể
và giá trị văn hóa bản địa tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự
nhiên đó [2]. Như vậy, chỉ các tài nguyên tự nhiên và văn hóa bản địa gắn
với cảnh quan cụ thể có khả năng khai thác cho phát triển du lịch sinh thái
mới được xem là tài nguyên du lịch sinh thái.
Đánh giá tài nguyên du lịch là phân loại các tài nguyên du lịch theo
mức độ thuận lợi của chúng cho các hoạt động du lịch - nghỉ dưỡng, liên
quan tới tất cả hoặc một loại hình du lịch. Đánh giá tài nguyên du lịch được
hiểu là việc xác định mức độ phù hợp của tài nguyên cho các loại hình du
lịch khác nhau [8].

| 561

1), bao gồm: 1. Tiểu vùng cảnh quan đồng bằng tích tụ Yên Mô - Ninh
Bình; 2. Tiểu vùng cảnh quan karst Trường Yên; 3. Tiểu vùng cảnh quan
đồng bằng tích tụ sông - biển Holocen sớm Gia Viễn; 4. Tiểu vùng cảnh
quan ngập nước Vân Long; 5. Tiểu vùng cảnh quan đồng bằng tích tụ
sông - biển Pleixtocen Nho Quan - Gia Viễn; 6. Tiểu vùng cảnh quan
karst Tam Điệp [3].

562 |


25 NĂM VIỆT NAM HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG LIÊN NGÀNH

Hình 1. Bản đồ phân vùng cảnh quan khu vực có núi đá vôi tỉnh Ninh Bình

Ninh Bình có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch. Cố đô
Hoa Lư và Tam Cốc – Bích Động là điểm du lịch có ý nghĩa quan trọng
không chỉ đối với tỉnh Ninh Bình mà còn đối với sự phát triển du lịch của
cả nước. Ninh Bình có các nguồn tài nguyên du lịch sinh thái đa dạng, độc
đáo do nằm ở vị trí đặc biệt, mang tính chất chuyển tiếp của các hệ thống tự
nhiên: đồng bằng sông Hồng, vùng núi phía Tây Bắc trong khu đệm Hoà
Bình-Thanh Hoá và vùng Biển Đông. Tài nguyên du lịch sinh thái có thể
được đánh giá theo loại hình hoặc theo lãnh thổ (các tiểu vùng cảnh quan).

1.1 Tài nguyên hang động
Trong các dạng tài nguyên du lịch của vùng núi đá vôi tỉnh Ninh Bình,
tài nguyên hang động chiếm vị trí quan trọng hàng đầu. Đây là một tài
nguyên du lịch đặc thù của Ninh Bình. Một quần thể hang động kéo dài
khoảng 50km, chiều rộng khoảng 10-15km, tạo nên cảnh quan karst đặc
sắc. Lãnh thổ này được mệnh danh là “Hạ Long trên cạn”. Vẻ đẹp hang
động Ninh Bình hài hoà với môi trường thiên nhiên và vẻ đẹp văn hoá, lịch

Theo đặc tính có thể phân chia hang động ở Ninh Bình thành 3 loại [4]:
Loại thứ nhất: hang động xuyên thủng như Tam Cốc động, hang Luồn,
hang Lôi, Xuyên Thủy động. Đây là loại hang động nằm giữa những quả núi
lớn và có dòng sông chảy xuyên qua. Du lịch qua các loại hang này phải ngồi
trên những chiếc thuyền vào động. Vẻ đẹp hang động trên nền mây nước
thường lung linh huyền ảo và gây được ấn tượng mạnh mẽ đối với du khách.
Loại thứ hai: hang động thông thường phân bố ở lưng chừng núi hoặc
có những mảng thông lên trời và những đường thông xuống dưới lòng
đất. Loại hang động này thường có nhiều thạch nhũ đẹp và lạ.
Loại thứ ba, hang ngầm có số lượng ít hơn, cửa hang ngay chân núi
và hang thường ăn sâu vào trong lòng núi. Hầu hết các hang loại này đã
bị bùn đất lấp đầy và cây bụi che khuất, con người chưa có thời gian khôi
564 |


25 NĂM VIỆT NAM HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG LIÊN NGÀNH

phục trở lại (hang Ngọc Mỹ Nhân, hang Trình, và hang ngay dưới động
Địch Lộng...).
Đặc biệt, hang động ở Ninh Bình không chỉ có vẻ đẹp thần tiên mà mỗi
hang động đều gắn với những giá trị lịch sử, văn hoá và tín ngưỡng, trong
đó một số hang động gắn với truyền thuyết và có văn bia. Các tuyến du
lịch kết nối các hang động được hoạch định trong các tiểu vùng cảnh quan
karst ở Ninh Bình (bảng 1)
Bảng 1: Đánh giá khả năng phát triển du lịch hang động của cảnh quan
Stt

Tài nguyên hang động

Tiểu vùng cảnh quan


3

Hang Nhị, Hang Bóng, Hang Cá,
Động Bái Đĩnh

Tiểu vùng cảnh quan
Tuyến Kênh Gà-Vân
ngập nước Vân Long (IV) Trình (Gia Viễn-Nho
Quan)

4

Động Người xưa

Tiểu vùng cảnh quan
karst Tam Điệp (VI)

Tuyến du lịch Cúc
Phương

1.2 Các dạng tài nguyên địa hình khác
Các kiểu địa hình độc đáo hoặc tổ hợp các kiểu địa hình: địa hình
karst rất có ý nghĩa trong việc thu hút du khách. Ninh Bình có tổng diện
tích 4.320 ha đá vôi tuổi Triat (cách ngày nay khoảng 200 - 250 triệu năm),
hầu hết các kiểu và dạng địa hình có nét đặc trưng của karst nhiệt đới
với tính chất karst già, tập trung chủ yếu ở khu vực Cố đô Hoa Lư và
Tam Cốc-Bích Động. Địa hình karst rất phong phú, phổ biến hơn cả ở hai
khu vực này là karst dạng xiên (Monocline Karst), một dãy núi đá vôimột phần của cánh uốn nếp. Các lớp được sắp xếp tuần tự có góc dốc và
phương vị giống nhau. Chính những dãy núi dạng đơn nghiêng này đã

T2đg2

Tổ hợp địa hình núisông độc đáo được
mệnh danh là “Hạ Long
trên cạn”

Tiểu vùng cảnh
quan karst
Trường Yên (II)

Tuyến du lịch Tam
Cốc-Bích ĐộngCố đô Hoa Lư

2

Địa hình karst chia
cắt mạnh phát triển
trên đá vôi phân lớp
tuổi T2đg1

Tổ hợp địa hình núi - đồi Tiểu vùng cảnh
quan karst Tam
- cao nguyên - thung
lũng karst độc đáo, tạo Điệp (VI)
dãy núi Tam Điệp

Tuyến du lịch Cúc
Phương

3

566 |


25 NĂM VIỆT NAM HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG LIÊN NGÀNH

Bảng 3: Đánh giá các điều kiện khí hậu vùng núi đá vôi Ninh Bình
đối với sức khỏe con người phục vụ du lịch và nghỉ dưỡng [3]
Mức độ thích hợp

Số tháng có
nhiệt độ >270C

Tốt (S1)

0

0

>1.500


Trạm Nho Quan

N1(4)V-VIII

S1(0)

Trạm Ninh Bình

N1(5)V-IX

S2(1)III

Số tháng có Số giờ nắng Số ngày trời Tốc độ gió
độ ẩm ≥90% toàn năm
đầy mây trung bình
(m/s)

Bảng 4: Đánh giá các chỉ tiêu sinh học đối với con người phục vụ
du lịch và nghỉ dưỡng vùng núi đá vôi Ninh Bình [3]
Mức độ đánh giá

Rét

Nhiệt độ trung bình Nhiệt độ trung Biên độ nhiệt
năm (0C)
bình tháng
trung bình
nóng nhất (0C)
năm (0C)


-

Mát

15-20

-

-

-

>20

-

-

-

Thích nghi (S1)

18-24

24-27


>32

>35

>19


khu vực khá dày, các sông ngoài nhiệm vụ tiêu thoát nước vào mùa lũ còn
có giá trị lớn đối sinh hoạt và sản xuất, trong đó có hoạt động du lịch. Ở khu
vực Tam Cốc - Bích Động vào mùa lũ, mực nước dâng không ảnh hưởng
mà ngược lại tạo điều kiện tốt hơn để chuyên chở du khách đi thưởng thức
phong cảnh hữu tình.
- Tài nguyên suối khoáng: Ninh Bình có 2 điểm suối khoáng Kênh Gà
và Kỳ Phú. Suối nước nóng Kênh Gà ở xã Gia Thịnh, huyện Gia Viễn có
nhiệt độ trung bình 530C, lưu lượng lớn (5m3/h). Năm 1941 được M.Autret
khảo sát, đến 1962 được đưa vào sử dụng cho phát triển du lịch dưới hình
thức sử dụng tại chỗ hoặc đóng chai phục vụ khách du lịch. Suối Kỳ Phú ở
Nho Quan, Hoàng Long, mới được phát hiện, bước đầu đang được khai thác
phục vụ du lịch.

1.5 Tài nguyên sinh vật:
Trong dạng tài nguyên này, trước tiên phải kể đến các cảnh quan rừng
nguyên sinh đặc sắc, có thể sử dụng phục vụ cho hoạt động du lịch thăm
quan ngắm cảnh. Vườn Quốc gia Cúc Phương, Khu Bảo tồn thiên nhiên
Vân Long chứa đựng các hệ sinh thái nhiệt đới có độ đa dạng sinh học cao
568 |


25 NĂM VIỆT NAM HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG LIÊN NGÀNH

và nhiều loài đặc hữu. Cúc Phương là Vườn Quốc gia đầu tiên của cả nước
với diện tích 22.200 ha. Cúc Phương còn lưu giữ một hệ sinh thái rừng trên
núi đá vôi độc đáo và giầu tính đa dạng sinh học vào bậc nhất Việt Nam.
Với hệ thực vật rừng mưa nhiệt đới điển hình, Cúc Phương có 19 quần xã
thực vật, trên 2000 loài thực vật bậc cao được phân bố trong 231 họ, 931
chi, trong đó có 118 loài quý hiếm, 11 loài đặc hữu, 433 loài cây thuốc, 229
loài cây ăn được, 240 loài có thể dùng làm thuốc nhuộm, 137 loài cho tanin



25 NĂM VIỆT NAM HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG LIÊN NGÀNH

đáo và tính duy nhất...). Hiện nay có nhiều phương pháp đánh giá tiềm
năng lãnh thổ cho mục đích du lịch, nghỉ dưỡng, nhưng tất cả các phương
pháp đó đều phải dựa trên các nguyên tắc đánh giá.
Khi đánh giá hệ thống cảnh quan khu vực núi đá vôi Ninh Bình cho
mục đích phát triển du lịch sinh thái yêu cầu phải đảm bảo 3 nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc 1 (nguyên tắc đáp ứng của tiềm năng sinh thái cảnh quan
lãnh thổ đối với các yêu cầu của du lịch sinh thái): cần phải xuất phát từ các
yêu cầu của các nhóm du khách khác nhau đối với điều kiện sinh thái cảnh
quan. Do đó cần phải xác định những tính chất của cảnh quan tự nhiên mà
trong bất kỳ trường hợp nào cũng là những điều kiện thuận lợi cho mục
đích du lịch sinh thái như tính đa dạng, tính ngoạn mục của cảnh quan,
tính dễ chịu của các điều kiện khí hậu, độ che phủ rừng tối ưu, sự có mặt
của các hồ chứa nước... Do vậy, cơ sở khách quan tốt nhất để đánh giá các
tiềm năng du lịch nhiều mặt của lãnh thổ chính là bản đồ cảnh quan với
các đặc tính thích hợp.
- Nguyên tắc 2 (nguyên tắc xác định sức chứa du lịch): cần phải nghiên
cứu độ bền vững của lãnh thổ đối với các loại hình du lịch, nghỉ dưỡng. Hay
nói cách khác là phải nghiên cứu các tác động tiêu cực đến các cảnh quan tự
nhiên. Từ đó xác định một cách khoa học về sức chứa của lãnh thổ cho du
lịch cũng như sự cần thiết phải có những biện pháp bảo vệ môi trường.
- Nguyên tắc 3 (nguyên tắc dựa vào cộng đồng): khi đánh giá cảnh
quan, ngoài việc phát hiện ra những nhân tố tích cực, một điều rất quan
trọng nữa là phải dự đoán được sự thay đổi của môi trường và ảnh hưởng
đến tình trạng sức khoẻ, bệnh tật, đời sống sinh hoạt, văn hoá tinh thần,
phong tục tập quán của dân cư địa phương.
Quy trình đánh giá được sử dụng gồm 2 bước sau: (1) Từ cấu trúc sinh


247,1

2 Tiểu vùng karst
Trường Yên

60,21

3 Tiểu vùng đồng
bằng tích tụ sôngbiển Holocen sớm
Gia Viễn

54,19

4 Tiểu vùng ngập
nước Vân Long

53,26

Cảnh Di tích Di tích Mức
Các loại hình du lịch thích Đánh
quan
đặc đã xếp độ tập
hợp phát triển
giá
rừng
biệt hạng trung
tổng
Nghỉ Thăm Chuyên Văn
nguyên quan

Tập
trung

z

z

2

11

Rất tập
trung

z

z

0

0

Thưa
thớt

z

0

4

P3

z

P1
PN

z

z

z

z

P2

z

P3

z

P1

(P1): Rất thuận lợi; (P2): Khá thuận lợi;

(P3): Thuận lợi trung bình; (PN): Ít thuận lợi.
- Tiểu vùng cảnh quan đồng bằng tích tụ Yên Mô-Ninh Bình: khu vực
Ninh Bình có nhiều danh lam thắng cảnh như núi Non Nước, hồ Kỳ Lân,

hình là Bích Động và một số hang nhỏ khác thuộc Hoa Lư. Bên trong các
động này đều phát triển các thành tạo tích tụ dưới dạng nhũ đá, măng
đá và cột đá.
Tam Cốc-Bích Động tập trung một số hang động đẹp là động Vàng,
động Bích Động, động Tiên (dài 83m), động Thiên Hương, động Múa,
hang Xuyên Thủy (dài 135m), hang Chùa, hang Ghé, hang Cả (172m), hang
Giữa, hang Ba. Phần lớn các hang này là hang xuyên thủy, tương đối cao và
rộng. Hệ thống hang động trong khu vực khá đa dạng, tạo nên cảnh đẹp
đặc sắc, có sức hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.
Vẻ đẹp hang động Tràng An – Bích Động hài hoà với môi trường thiên
nhiên và vẻ đẹp văn hoá - lịch sử. Trong khu vực, các di tích văn hóa, lịch
sử, nổi tiếng nhất là đền thờ Vua Đinh – Vua Lê, điện Thái Vi với lễ hội hàng
năm; động Thiên Hương (thờ bà Trần Thị Dung, vợ Thái sư Trần Thủ Độ);
chùa Bích Động, Linh Cốc Tự (chùa Móc) và hàng loạt di tích thời Đinh,
Tiền Lê.
- Tiểu vùng cảnh quan đồng bằng tích tụ sông-biển Holocen sớm Gia
Viễn: Đặc trưng nổi bật nhất để phát triển loại hình du lịch ở khu vực Gia
572 |


25 NĂM VIỆT NAM HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG LIÊN NGÀNH

Viễn là phía bắc huyện có dãy núi đá vôi điệp trùng, có nhiều hang động
đẹp như động Thung Lau (Gia Hưng), Hang Cá (Gia Vân), động Địch Lộng
(Nam thiên đệ tam động). Phía đông nam huyện có dãy núi đá Gia Sinh
giáp Cố đô Hoa Lư. Một số hang động khá rộng và nằm trong dự án xây
dựng khu du lịch Tràng An. Ngoài ra Gia Viễn có nguồn nước khoáng Kênh
Gà nhiệt độ trung bình 60°C. Ngã ba Kênh Gà, hợp lưu giữa hai con sông
Hoàng Long và sông Lạng, được gọi là Vọng Ấm (vì thời tiết luôn ấm), khu
vực quần tụ của nhiều loài cá. Vì vậy, ở đây đã hình thành một làng chài

du lịch
khí

1

Hang Xuyên
Bóng thuỷ

4

73

13

Phẳng

Tốt

3

ít

Rất tốt

2

Hang Xuyên

thuỷ


Tốt

3

ít

Tốt

4

Bụt

Xuyên
thuỷ

-

150

12-20

Ngập
nước

Tốt

3

ít


Mèo

Xuyên
thuỷ

-

Hẹp

-

Bùn đất

Kém

-

Không

Kém

- Tiểu vùng cảnh quan ngập nước Vân Long: Các danh lam thắng cảnh
có giá trị nổi bật là động Thung Lau, Hang Cá, động núi Địch Lộng hay

| 573


25 NĂM VIỆT NAM HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG LIÊN NGÀNH

nguồn nước nóng tự nhiên Kênh Gà, khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long.

Dâu, đền Quán Cháo, động Tam Giao, đèo Tam Điệp. Khu B: có luỹ Quèn
Thờ, lũy Quang Trung, đền Quèn Thờ gắn với danh thắng động Trà Tu, hồ
Yên Thắng, hồ Mừng, hồ Đoòng Đèn. Hiện tại khu vực này đang xây dựng
khu vui chơi giải trí sân golf Yên Thắng hứa hẹn nhiều tiềm năng mới cho
phát triển du lịch.
574 |


25 NĂM VIỆT NAM HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG LIÊN NGÀNH

Kết luận
Kết quả đánh giá thành phần và đánh giá tổng hợp các dạng tài nguyên
du lịch theo các tiểu vùng cảnh quan cho thấy khu vực núi đá vôi Ninh
Bình có tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, đặc biệt là
cảnh quan karst và hệ thống hang động độc đáo. Đây là lợi thế quan trọng
cho phát triển một số loại hình du lịch thích hợp như thăm quan, nghiên
cứu khoa học, nghỉ dưỡng, nhằm góp phần đẩy mạnh ngành du lịch phát
triển với nhịp độ nhanh hơn trong những năm tới.
Tài nguyên du lịch ở vùng núi đá vôi Ninh Bình được phân bố tập
trung ở một số khu vực chính như cố đô Hoa Lư, Tam Cốc - Bích Động,
Cúc Phương. Đây là cơ sở tài nguyên cực kỳ quan trọng cho việc tổ chức
các khu du lịch lớn, có sức thu hút du khách cao so với các trung tâm du
lịch khác trong cả nước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Bá Thụ, 1996, Tính đa dạng
của quần thực vật tại Cúc Phương, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.



Nguyễn Hữu Tứ, Huỳnh Nhung, Trần Thị Vân, 1998, Thảm thực vật vùng Hoa
Lư tỉnh Ninh Bình, Tuyển tập các công trình nghiên cứu địa lý. Nxb Khoa học
và Kỹ thuật, Hà Nội .

| 575


25 NĂM VIỆT NAM HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG LIÊN NGÀNH

8.

Brian Boniface, MA, Chris Cooper, Robyn Cooper, 2012, Worldwide Destinations:
The geography of travel and tourism, Routledge, New York, USA

9.

Do Tuyet, Tran Tan Van and Pham Kha Tuy, 2004, Characteristics of humid
tropical karst of Vietnam, Proceedings of the International Transdisciplinary
Conference on Development and Conservation of Karst Regions, Hanoi,
Vietnam, 13-18.9.2004. p.240-249.

10. Nguyen Nghia Thin, 1997, The vegetation of Cuc Phuong National Park,
Vietnam. SIDA 17(4), p. 719-759.
11. David Bruce Weaver, 2001, The Encyclopedia of Ecotourism. Cabi Publishing,
New York, USA

576 |



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status