SKKN một số PP tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong môn địa lí 7 - Pdf 39

I. Đặt vấn đề
Sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội trong những năm qua đã làm
thay đổi bộ mặt của nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy vậy, sự phát triển kinh tế
chưa cân bằng với việc bảo vệ môi trường. Vì vậy, môi trường Trái Đất hiện nay
đã xuống cấp, nhiều nơi môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng do rất nhiều
nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân dẫn tới hiện trạng này đó là nhận
thức của con người đối với môi trường và tài nguyên thiên nhiên còn hạn chế.
Nhiều người chỉ biết lợi dụng, tàn phá thiên nhiên nhằm mục đích phục vụ lợi
ích của bản thân mình mà không hề biết rằng họ hoặc tương lai con cháu họ sẽ
phải trả giá cho những hành động đó. Những hậu quả của việc huỷ hoại môi
trường, tàn phá thiên nhiên đó là hiện tượng nóng lên của Trái Đất, thủng tầng
ôzôn, diễn biến khí hậu, thời tiết thất thường,...gây nhiều tác động xấu đến cuộc
sống của con người. Do đó việc thay đổi nhận thức và thay đổi thái độ của con
người trong việc bảo vệ môi trường, sử dụng và khai thác bền vững tài nguyên
thiên nhiên là rất cần thiết.
Học sinh là đối tượng quan trọng của xã hội cần được trang bị kiến thức
và những hiểu biết đúng đắn về môi trường tự nhiên. Khi lớn lên, các em sẽ là
những người chủ tương lai của đất nước, chính vì lí do đó, việc giáo dục học
sinh, trang bị cho các em những kiến thức về môi trường tự nhiên, tài nguyên
thiên nhiên sẽ góp phần làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành động của các
em. Nếu được giáo dục và có những nhận thức đầy đủ, các em sẽ là những
người yêu thiên nhiên hơn và biết thưởng thức cái đẹp của thiên nhiên, các em
sẽ sống có trách nhiệm và có những hành động cụ thể để bảo vệ môi trường.
Năm học 2013 – 2014 là năm học tiếp tục thực hiện cuộc vận động: “Học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Nói không với tiêu cực và
bệnh thành tích trong giáo dục”, “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức tự
học và sáng tạo” để học sinh noi theo, “Xây dựng trường học thân thiện và học
sinh tích cực”; Đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá, nâng
cao chất lượng giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin.

1

Xuất phát từ mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường (GDBVMT) cho toàn xã
hội, thông qua chỉ thị 36/ CT – TƯ đưa ra vào ngày 25/6/1998 của Bộ chính trị
2


về “ Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước”, đã nêu công tác GDBVMT là giải pháp đầu tiên
“Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và phong
trào quần chúng bảo vệ môi trường”. Vì vậy mục tiêu GDBVMT trong nhà
trường là hình thành cho học sinh kiến thức, kỹ năng, thái độ tích cực để các em
tham gia một cách có hiệu quả vào việc duy trì và cải thiện chất lượng môi
trường ở trường học, gia đình và địa phương.
Phần lớn các bộ môn trong nhà trường phổ thông đều có khả năng tích
hợp nội dung GDMT, nhưng có những môn có nhiều thuận lợi hơn bởi chính nội
dung của chúng đã liên quan đến những kiến thức về môi trường, hệ sinh thái, ô
nhiễm môi trường, luật pháp BVMT...như các môn Sinh học, Hoá học, Giáo dục
công dân, Công nghệ (Kỹ thuật nông nghiệp)...Nhưng hơn cả vẫn là tích hợp
vào bộ môn Địa lí.
Đối tượng nghiên cứu của Địa lí học là lớp vỏ địa lí của Trái Đất – nơi
sinh sống và phát triển của xã hội loài người. Vì vậy, hệ thống tri thức được
chuyển tải từ khoa học Địa lí vào Địa lí nhà trường có quan hệ mật thiết với các
tri thức của khoa học môi trường. Các kiến thức về các yếu tố của môi trường tự
nhiên, môi trường kinh tế - xã hội, mối quan hệ qua lại giữa môi trường và con
người cũng là một phần của kiến thức Địa lí. Với lí do đó, môn Địa lí nhà trường
có nhiều thuận lợi để GDBVMT cho học sinh hơn các các môn học khác.
Đó là lý do vì sao tôi chọn đề tài: “Một số phương pháp tích hợp giáo
dục bảo vệ môi trường trong giảng dạy Địa lí 7 ở Trường THCS”.

3




Xuất phát từ việc thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng,
Nhà nước như trên, tôi thấy việc tích hợp giáo dục môi trường vào môn Địa lí là
cần thiết với các lí do sau:
- “GDMT là bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục. Nó nên được tập
trung vào những vấn đề thực tiễn và mang tính chất liên thông. Nó nên nhằm
vào xây dựng giá trị, đóng góp vào sự phồn vinh của cộng đồng và liên quan đến
sự sống còn của nhân loại...” ( Định nghĩa về GDMT được nêu trong bản báo
cáo cuối cùng của Hội nghị GDMT ở Tbilisi, 1977).
- Tích hợp trong dạy học Địa lí là sự vận dụng tổng hợp các kiến thức, kỹ
năng của các phân môn của Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế xã hội vào việc
nghiên cứu tổng hợp về Địa lí các châu lục, một khu vực một quốc gia. Mặt
khác tích hợp cũng còn là việc sử dụng các kiến thức, kỹ năng của các môn học
khác có liên quan với nhau như: Lịch Sử, Sinh Học … vào dạy học Địa lí, giúp
học sinh hiểu và nắm vững các nội dung học tập nhằm nâng cao chất lượng dạy
học.
- Tích hợp GDMT là làm cho học sinh thông hiểu và biết đánh giá đúng
đắn tình hình môi trường hiện nay ở nước ta và trên thế giới, nhận thức rõ ràng
mối quan hệ giữa môi trường với phát triển kinh tế - xã hội, ảnh hưởng của môi
trường đối với chất lượng quộc sống xã hội, gia đình hiện tại và tương lai.
2. Thực trạng của vấn đề
a) Đặc điểm giáo viên, học sinh và cơ sở vật chất ở trường Phổ thông DTNT
– THCS Huyện Tân Sơn
+ Giáo viên:
Tôi là một giáo viên trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm. Nhưng với nhiệt tình
tuổi trẻ vì thế hệ tương lai của đất nước, đặc biệt là muốn giúp các em học sinh
con em đồng bào các dân tộc thiểu số có thể tiếp cận với nguồn tri thức mới,
không bị tụt hậu so với những nơi có đủ điều kiện sinh sống, học tập. Tôi yêu
thích môn Địa lí mình đã lựa chọn học tập và giảng dạy, tôi hiểu cùng với đổi

nhiên, những tài liệu về môi trường phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy vẫn
chưa có. Vì vậy, việc dạy và học chủ yếu thông qua việc sử dụng máy chiếu,
6


những tài liệu, thông tin mà tôi tự tìm tòi, sưu tầm. Mặc dù sử dụng thiết bị hiện
đại nhưng phải phụ thuộc vào nguồn điện, và sự chuẩn bị kỹ lưỡng của GV do
đó quá trình giảng dạy chưa được chủ động.
b) Tình hình thực tế việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong giảng
dạy Địa lí ở huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Qua tìm hiểu tôi nhận thấy:
Có nhiều giáo viên chưa thực sự nhận thấy sự cần thiết phải tăng cường
giáo dục cho học sinh có kiến thức, thái độ, hành vi và những kỹ năng về môi
trường.
Bên cạnh đó, các nhà trường còn thiếu tài liệu, giáo trình, thư viện phục
vụ việc giảng dạy và nghiên cứu về môi trường. Giáo dục môi trường liên quan
đến ngoại khoá nhưng kinh phí cho họat động này còn hạn chế. Điều đáng nói là
thực tế, nhiều trường học chưa hội đủ điều kiện để đảm bảo học đi đôi với hành.
Vấn đề nhà vệ sinh và nước uống học đường đang là hai vấn đề nhức nhối của
các trường học vùng khó, các điểm trường nhỏ lẻ. Thực tế này đã trở thành rào
cản giữa lý thuyết và thực hành của học sinh.
Do vậy để đảm bảo hiệu quả giáo dục môi trường, nhà trường phải là nơi
đầu tiên và tốt nhất đủ điều kiện để giảng dạy và thực hành. Cần thiết phải tháo
gỡ những khó khăn, tồn tại trong thực tiễn giáo dục hiện nay để bảo vệ môi
trường không chỉ là bài học, mà đòi hỏi phải trở thành hành vi, nhân cách học
sinh.
3. Các biện pháp giải quyết vấn đề
Là lĩnh vực giáo dục liên ngành, giáo dục bảo vệ môi trường sử dụng nhiều
phương pháp dạy học của các bộ môn, chịu sự chi phối của các phương pháp
đặc trưng bộ môn, nhưng nó cũng có các phương pháp mang tính đặc thù. Và

dễ dàng nhận biết được những vấn đề của môi trường như hiện tượng ô nhiễm
không khí, ô nhiễm nước, hiện tượng xói mòn đất ở những vùng đất trống, đồi
trọc...
Cùng với những bức tranh trong sách giáo khoa, khi dạy địa lí giáo viên
nên sử dụng những ảnh minh hoạ có nội dung phù hợp và sắp xếp theo từng chủ
đề.
Khi hướng dẫn học sinh quan sát, trước hết giáo viên cần xác định mục
đích, yêu cầu của việc quan sát tranh. Sau đó, yêu cầu học sinh nêu tên của bức
tranh để xác định xem bức tranh đó thể hiện hiện tượng gì, vấn đề gì, ở đâu và
mô tả hiện tượng. Cuối cùng gợi ý học sinh nêu nguyên nhân và hậu quả của
hiện tượng.
Ví dụ: Hình 17.2 gợi cho em suy nghĩ gì về vấn đề ô nhiễm không khí?

Hình 17.2 - Cây cối bị chết khô vì mưa axit

Quan sát hình 17.2, nhận xét về tai hoạ do mưa axit gây ra?
Học sinh thảo luận và đưa ra kết quả, giáo viên nhận xét bổ sung.
9


Trong dạy học Địa lí, giáo viên nên triệt để sử dụng nhữnh tranh ảnh minh
hoạ trong sách giáo khoa, bởi vì đây là những phương tiện minh hoạ đã được lựa
chọn để thể hiện các hiện tượng một cách cụ thể, điển hình nhất.
Ví dụ: Giáo viên cho học sinh quan sát hai ảnh 17.3 và 17.4 - yêu cầu học
sinh cho biết các nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước các sông rạch và nước
biển. Cách triển khai tốt mục này là cho học sinh trao đổi nhóm, sau đó cho học
sinh trình bày ý kiến của nhóm. Cuối cùng giáo viên sẽ tổng hợp các câu trả lời,
bổ sung kiến thức và hoàn chỉnh kiến thức cho học sinh.

Hình17.3 – “ Thủy triều đen” trên Đại


11


Hình 8.1 - Đốt rừng làm nương rẫy

- Bước 2: Giải quyết vấn đề.

Học sinh có thể đưa ra các giả thuyết: trong sản xuất nông nghiệp, các
nước phát triển đã sử dụng nhiều phân hóa học và thuốc trừ sâu; các nước phát
triển là những nước có nền công nghiệp hiện đại, sự phát triển đòi hỏi sử dụng
nhiều nhiên liệu, đã làm tăng lượng chất thải từ các nhà máy xí nghiệp…
- Bước 3: Kết luận: khí thải, chất thải từ các nhà máy, xí nghiệp và lượng
phân bón, thuốc trừ sâu dư thừa... đã làm ô nhiễm không khí, đất và nước ....

Nước thải, chất thải của các khu công nghiệp
d) Phương pháp thảo luận
Bản chất của phương pháp thảo luận là giáo viên tổ chức cho học sinh thảo
luận (theo lớp hoặc theo nhóm) để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nội
dung bài học.
12


Phương pháp thảo luận có thể được tiến hành theo các bước sau:
- Bước 1: Giáo viên nêu chủ đề và các câu hỏi thảo luận.
- Bước 2: Học sinh thảo luận ( cả lớp hoặc nhóm)
- Bước 3: Giáo viên tóm tắt các ý kiến thảo luận, củng cố các điểm
chính.
Ví dụ: Bài tập 3 của Bài 18: Thực Hành - Địa lí 7.
- Bước 1: sau khi học sinh vẽ xong biểu đồ, Giáo viên nêu câu hỏi thảo

+ Báo cáo chuyên đề về môi trường, tài nguyên thiên nhiên.
+ Thảo luận nhóm.
+ Đóng vai/trò chơi.
+ Tổ chức tham quan thực tế.
Đối với điều kiện thực tế của trường, tôi đã áp dụng hình thức tổ chức các
cuộc thi tìm hiểu về môi trường; thảo luận nhóm; kết quả đạt được là các em rất
có hứng thú với vấn đề mang tính toàn cầu này.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Qua 2 năm thực hiện sáng kiến ( năm học 2011 – 2012; năm học 2012 2013) và học kỳ I năm học 2013 – 2014 đối với học sinh khối lớp 7, Trường Phổ
thông DTNT – THCS Huyện Tân Sơn, kết quả mà tôi thu được là:
+ Kiến thức:
14


- Mối quan hệ giữa dân cư ( bùng nổ dân số, đô thị hoá, hoạt động sản
xuất của con người) và môi trường.
- Một số vấn đề cơ bản về môi trường cần phải quan tâm ở từng môi
trường địa lí.
+ Kỹ năng – Hành vi:
- Phát hiện được các vấn đề về môi trường và nguyên nhân của nó.
- Hành động tích cực góp phần giải quyết các vấn đề của môi trường, bảo
vệ môi trường xung quanh khu kí túc, trường học.
+ Thái độ - Tình cảm:
- Tôn trọng, yêu quý thiên nhiên. Có ý thức giữ gìn môi trường xanh,
sạch, đẹp và bảo vệ các thành phần của môi trường tự nhiên xung quanh.
- Ủng hộ các hoạt động, chính sách bảo vệ môi trường, phê phán các hành
vi làm ảnh hưởng xấu đến môi trường.
Ngay từ đầu năm học 2011 – 2012 cùng với kế hoạch khảo sát chất lượng
đầu năm của nhà trường, tôi đã tiến hành kiểm tra khảo sát việc nắm bắt kiến
thức của học sinh, kết quả đạt được như sau:


%

T.số

%

42.9

28

40.0

9

12.
8

T.số

%

Qua quá trình thực hiện chuyên đề trong năm học (từ tháng 8/2011 –
05/2012) kết hợp với việc đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực,
tôi đã đạt được kết quả như sau:
Tổng số
học sinh

Giỏi



40

57.2

24

34.3

1

1.4

70

T.số

%

Qua bảng số liệu thống kê trên ta thấy số lượng học sinh khá, giỏi tăng
lên, học sinh trung bình giảm đáng kể, không còn có học sinh yếu. Cụ thể: học
sinh giỏi tăng 2 học sinh, từ 3 lên 5 học sinh, tức tăng 2.8%; học sinh khá tăng
10 học sinh, tăng 14.3%, chiếm số lượng cao nhất; học sinh trung bình giảm 4
học sinh, tức giảm 5.7 % và học sinh yếu giảm mạnh, từ 9 học sinh xuống còn 1
học sinh, giảm 11.4%.
Tiếp tục áp dụng sáng kiến vào năm học 2012 – 2013, kết quả của năm
học như sau:
Giỏi

Tổng số


20

28.6

T.số

Kém
%

T.số

%

Như vậy, so với năm học trước ta thấy: Học sinh giỏi tăng 2 học sinh
( tăng 2.9%); học sinh khá tăng 3 học sinh (tăng 4.2%); học sinh trung bình giảm
4 học sinh (giảm 5.7%) và không còn học sinh yếu.
Từ kết quả trên cùng quá trình giảng dạy trong học kỳ I, năm học 2013 –
2014 thì kết quả mà tôi đạt được là:
Giỏi

Tổng số
học sinh
70

Khá

T.số

%

%

T.số

%


Như vậy so với năm trước thì kết quả nhìn chung vẫn khả quan mặc dù có
giảm số học sinh giỏi do yếu tố khách quan ( giảm 1.4%) thì số học sinh khá
tăng lên 2.9% và học sinh trung bình giảm xuống 1.5%, không có học sinh yếu.
Từ đó, tôi thấy chuyên đề rất có tính khả thi nên tôi sẽ tiếp tục thực hiện
chuyên đề vào trong giảng dạy Địa lí 7, cố gắng rút kinh nghiệm để có kết quả
tốt hơn. Và ứng dụng cho các năm học sau không chỉ với khối 7 mà còn với các
khối lớp khác ở trường PT DTNT – THCS Tân Sơn.

III. Kết luận và kiến nghị
1. Kết luận
1.1) Kết quả nghiên cứu
Bảo vệ môi trường không chỉ là giải pháp trước mắt, mà mỗi hành
động có ích sẽ tích lũy thành giải pháp hoàn chỉnh. Hàng ngày, mỗi chúng
ta đều có những hành động để bảo vệ và giữ gìn vệ sinh sạch sẽ trường,
lớp, nơi công cộng và tiêu dùng tiết kiệm, đó chính là lúc chúng ta đóng
góp một phần vào việc cứu nguy cho Trái đất – Ngôi nhà chung của mọi
người hôm nay và cho thế hệ tương lai.
Từ việc thực hiện tích hợp, lồng ghép nội dung Giáo dục bảo vệ môi
trường vào trong giảng dạy Địa lí, giáo viên và học sinh sẽ có trách nhiệm và
hành vi đúng đắn hơn đối với việc bảo vệ môi trường.
Và như vậy, việc giảng dạy tích hợp bảo vệ môi trường thông qua bộ môn
Địa lí là điều cần thiết đối với nhận thức của học sinh. Tuy nhiên cách thức tổ
chức giảng dạy và lồng ghép một cách nhẹ nhàng, tạo hứng thú học tập cho học

trong giảng dạy Địa lí lớp 7 ở Trường THCS”. Vì quĩ thời gian ít và khả năng có
hạn nên đề tài còn nhiều thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp, chia sẻ của
đồng nghiệp và của các cấp quản lí giáo dục.
Người thực hiện
18


Nguyễn Bích Thuỷ

19


TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ giáo dục và đào tạo, Bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS
chu kỳ III (2004, 2007), NXB Giáo dục.
- Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Địa lí
Trung học cơ sở, 2011.
- Đặng Văn Đức, Nguyễn Thu Hằng, Phương pháp dạy học Địa lí theo
hướng tích cực, NXB Đại học Sư phạm, 2004.
- Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Phúc, Lí luận dạy học Địa lí, NXB Đại
học Sư phạm, 2004.
- Nguyễn Dược, Địa lí 7, NXB Giáo dục, 2009.
- Phân phối chương trình môn Địa lí 7 giảm tải.
- Báo Giáo dục và thời đại, Các tông tin hoạt động về môi trường và giáo
dục bảo vệ môi trường.

20


MỤC LỤC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status