BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
NGUYỄN ANH TÚ
TỔ CHỨC PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY
CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN CẢNG ĐÌNH VŨ
Chuyên ngành: Kế toán-Kiểm toán
Mã số: 60.34.30
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nghiêm Thị Thà
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc
lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn
gốc rõ ràng.
Tác giả luận văn
Nguyễn Anh Tú
MỤC LỤC
TSDH bq
TSNH
TSNHbq
VCĐ
VCSH
VLĐ
Ý nghĩa
Báo cáo tài chính
Chi phí quản lí doanh nghiệp
Chi phí tài chính
Hoạt động kinh doanh
Hàng tồn kho
Kết quả hoạt động kinh doanh
Lưu chuyển tiền tệ
Lợi nhuận
Lợi nhuận sau thuế
Lợi nhuận trước thuế
Tỷ suất sinh lời trên tài sản
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu
Tài sản cố định
Tài sản dài hạn
Tài sản dài hạn bình quân
Tài sản ngắn hạn
Tài sản ngắn hạn bình quân
Vốn cố định
Vốn chủ sở hữu
Vốn lưu động
chúng ta có thể coi báo cáo tài chính là một tấm gương phản ánh toàn diện về tình
hình tài chính, khả năng và sức mạnh của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định.
Tuy nhiên, các con số trên Báo cáo tài chính tự nó không có nhiều ý nghĩa, mà phải
đặt chúng trong mối quan hệ với những con số khác hoặc nhưng thay đổi của chúng
ta từ thời kỳ hoạt động này so với thời kỳ hoạt động khác bằng cách sử dụng các
công cụ phân tích. Vì vậy, việc tổ chức phân tích báo cáo tài chính sẽ giúp các đối
tượng quan tâm thấy rõ hơn bức tranh về thực trạng tài chính, xác định đầy đủ và
đúng đắn những nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đển tình hình tài
chính của doanh nghiệp.
Công ty cổ phần đầu tư và phát triển cảng Đình Vũ là một đơn vị chịu sự quản
lý của Cục Hàng Hải Việt Nam với đơn vị sáng lập là Tổng công ty cảng Hải
Phòng. Tuy công ty chính thức hoạt động từ tháng 12 năm 2002 nhưng đến năm
2009, cổ phiếu của công ty đẫ chính thức được giao dịch trên sàn chứng khoán Hồ
Chí Minh. Hàng năm công ty có công khai báo cáo tài chính đến các nhà đầu tư
nhưng những con số đó còn rất sơ sài. Bên cạnh đó, công tác tổ chức phân tích báo
2
cáo tài chính của công ty chưa được quan tâm chú trọng. Thực tế tại công ty cổ
phần đầu tư và phát triển cảng Đình Vũ, các nhà quản trị mặc dù đánh giá được tình
hình tài chính của công ty chưa thực sự hiệu quả nhưng lại chưa có một bộ
phận nào rõ ràng trong công ty chịu trách nhiệm về việc phân tích các báo cáo
tài chính cũng như đưa ra đề xuất kiến nghị với ban lãnh đạo về các vấn đề tài
chính bất thường. Xuất phát từ lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “ Tổ chức phân
tích báo cáo tài chính công ty cổ phần đầu tư và phát triển Cảng Đình Vũ ”
làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Mục đích nghiên cứu:
Mục tiêu chung
Thông qua việc tìm hiểu công tác phân tích báo cáo tài chính trong những
- Phạm vi về nội dung: Tổ chức phân tích báo cáo tài chính nhằm phục vụ cho
công tác quản trị và nâng cao hiệu quả tài chính của công ty.
Phương pháp nghiên cứu
Ngoài các phương pháp nghiên cứu chung như phương pháp duy vật lịch sử,
phương pháp duy vật biện chứng, trong bái viết còn sử dụng một số phương pháp
chủ yếu sau đây:
- Phương pháp thu thập số liệu: Là phương pháp thu thập số liệu thứ cấp từ
các báo cáo tài chính của công ty như bảng cân đối kế toán, kết quả hoạt động kinh
doanh, thuyết minh báo cáo tài chính... trong 2 năm 2013, 2014.
- Phương pháp xử lý số liệu: Từ số liệu đã thu thập có thể tính toán được các
chỉ tiêu và thiết lập biểu ảng dùng trong phân tích, đánh giá. Để tính toán các chỉ
tiêu và thiết lập biểu bảng, phân tích biểu bảng.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu và góp phần hoàn thiện một số vấn đề lý luận
về công tác tổ chức phân tích báo cáo tài chính tại doanh nghiệp.
Ý nghĩa thực tiễn: Phân tích thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại công
ty cổ phần đầu tư và phát triển cảng Đình Vũ. Từ đó, đưa ra một số giải pháp và
phương hướng nhằm hoàn thiện công tác tổ chức phân tích báo cáo tài chính tại
công ty.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục sơ đồ, danh mục chữ viết
4
tắt, lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có bố
cục như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức phân tích báo cáo tài chính doanh
nghiệp
Chương 2: Thực trạng tổ chức phân tích báo cáo tài chính tại công ty cổ
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp về tình hình nguồn vốn
và tài sản của doanh nghiệp tại thời điểm kết thúc kỳ kế toán. Bảng cân đối kế
toán được lập trên cơ sở số liệu ghi nhận từ các nghiệp vụ kinh doanh phát sinh
đã được tập hợp trên sổ sách dựa trên sự tuân thủ các chuẩn mực và chính sách
kế toán liên quan.
6
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh tổng quát doanh thu, chi phí và kết quả kinh
doanh trong một kỳ kế toán nhất định.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính phản ánh tình hình lưu chuyển
tiền tệ trong năm, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong
kỳ báo cáo của doanh nghiệp. Thông tin về lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp
cung cấp cho người sử dụng thông tin có cơ sở để đánh giá khả năng tạo ra các
khoản tiền và việc sử dụng những khoản tiền đã tạo ra đó trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. có hai phương pháp để lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ
là: Phương pháp gián tiếp và phương pháp trực tiếp.
Thuyết minh báo cáo tài chính là báo cáo giải trình chi tiết các chỉ tiêu tài
chính được trình bày trong các báo cáo trên, bên cạnh đó, thuyết minh báo cáo tài
chính còn đưa ra một số thông tin khác có liên quan tới tình hình kinh doanh, hoạt
động của doanh nghiệp. Thuyết minh báo cáo tài chính nhằm mục đích giải trình và
bổ sung, thuyết minh những thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh,
tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà chưa được trình bày đầy
đủ, chi tiết hết trong các báo cáo tài chính khác.
Báo cáo tài chính có thể được lập theo năm hoặc giữa niên độ phục vụ cho
mục đích quản lý của doanh nghiệp.
- Báo cáo tài chính năm bao gồm:
Mẫu số B 09a-DN
- Báo cáo tài chính giữa niên độ dạng tóm lược, gồm:
Bảng cân đối kế toán giữa niên độ (Dạng tóm lược):
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ
(Dạng tóm lược):
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giữa niên độ
(Dạng tóm lược)
Bản thuyết minh báo cáo tài chính chọn lọc:
Mẫu số B 01b-DN
Mẫu số B 02b-DN
Mẫu số B 03b-DN
Mẫu số B 09b-DN
Phân tích báo cáo tài chính
Có khá nhiều quan điểm của các nhà nghiên cứu khi đưa ra khái niệm về
phân tích báo cáo tài chính, có người cho rằng phân tích báo cáo được định nghĩa
là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính trong kỳ
hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua; Cũng có người cho rằng phân tích báo cáo
tài chính như một nghệ thuật phiên dịch các số liệu từ các báo cáo tài chính
thành những thông tin hữu ích cho việc ra quyết định có cơ sở thông tin. Tuy
nhiên các quan điểm đều chỉ ra rằng phân tích báo cáo tài chính là sự kết hợp
cùng lúc nhiều nghiệp vụ như kiểm tra, tính toán các chỉ tiêu, định lượng, quá
trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính hiện hành với
quá khứ, phân tích tìm ra nguyên nhân của những thay đổi để từ đó đề ra những
biện pháp để phát huy những mặt tích cực, hạn chế mặt không tích cực đối với sự
phát triển của doanh nghiệp. Trong phạm vi luận văn đề cập tới việc phân tích
báo cáo tài chính nhằm cung cấp cho người sử dụng thông tin trực tiếp-các nhà
- Đối với nhà cung cấp, họ phải quyết định xem có cho phép doanh nghiệp sắp
tới được mua hàng chịu hay không.Vì vậy, họ cần đánh giá khả năng thanh toán của
doanh nghiệp hiện tại và trong thời gian tới.
- Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước, các cổ đông, người lao động …mối
quan tâm cũng giống các đối tượng kể trên ở góc độ này hay góc độ khác.
- Đối với những người hưởng lương trong doanh nghiệp: Đây là những người
có thu nhập từ tiền lương được trả. Tuy nhiên, cũng có người hưởng lương của
doanh nghiệp đồng thời lại có một số cổ phần nhất định trong doanh nghiệp thì
ngoài phần thu nhập tiền lương được trả họ còn có tiền cổ tức được chia. Cả hai
khoản thu nhập này phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
- Mối quan tâm của các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính chỉ được đáp ứng
khi tiến hành phân tích báo cáo tài chính. Có thể nói, mục đích chính của phân tích
9
báo cáo tài chính là giúp các đối tượng sử dụng thông tin đánh giá đúng sức mạnh
tài chính, khả năng sinh lãi và triển vọng của doanh nghiệp từ đó đưa ra các quyết
định đúng đắn, phù hợp với mục tiêu mà các đối tượng quan tâm.
Ý nghĩa của việc phân tích báo cáo tài chính chính là đưa ra được các dự đoán,
hiểu được các con số và làm căn cứ để ra các quyết định hợp lý. Đối với các nhà
đầu tư, đó là các quyết định về đầu tư; đối với các nhà quản lý đó có thể là các
quyết định về kinh doanh; đối với các nhà tín dụng, đó có thể là việc tìm ra các chỉ
số hợp lý cho việc cung cấp hạn mức tín dụng…
1.1.3 Vai trò của phân tích báo cáo tài chính trong công tác quản trị
doanh nghiệp
Báo cáo tài chính phản ánh không chỉ là các con số tài chính mà thông qua đó
phản ánh một cách chung nhất kết quả hoạt động của một doanh nghiệp trong một
thời kỳ nhất định. Qua đó thể hiện được trình độ quản lý, kết quả đạt được của hệ
thống quản trị doanh nghiệp của đơn vị đó.
So sánh ngang trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp chính là việc so
sánh, đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ
tiêu, trên từng báo cáo tài chính. Mục đích là xác định mức độ biến động (tăng hay
giảm) về quy mô của chỉ tiêu phân tích và mức độ ảnh hưởng của từng chỉ tiêu nhân
tố đến chỉ tiêu phân tích.
So sánh dọc trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp chính là việc sử dụng các
tỷ lệ, các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài
chính, giữa các báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Thực chất của việc phân tích
theo chiều dọc trên các báo cáo tài chính là phân tích sự biến động về cơ cấu hay
những quan hệ tỷ lệ giữa các chỉ tiêu trong hệ thống báo cáo tài chính doanh
nghiệp.
Tuy nhiên để phương pháp so sánh đạt hiệu quả cần lưu ý các vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất các chỉ tiêu được sử dụng để so sánh phải thống nhất về nội dung
kinh tế, phương pháp tính, đơn vị tính, cùng một phạm vi thời gian và quy mô
không gian. Tất cả các điều kiện trên gọi chung là đặc tính “có thể so sánh được”.
Nếu không đảm bảo các điều kiện trên thì việc so sánh trở nên khập khiễng, không
có giá trị, đôi khi còn phản ánh sai lệch thông tin.
Thứ hai, phải xác định được mục tiêu so sánh trong phân tích báo cáo tài
11
chính. Mục tiêu so sánh trong phân tích là nhằm xác định mức biến động tuyệt đối
và mức biến động tương đối cùng xu hướng biến động của chỉ tiêu phân tích.
- Mức biến động tuyệt đối là kết quả so sánh trị số của chỉ tiêu giữa hai kỳ: kỳ
thực tế với kỳ kế hoạch, hoặc kỳ thực tế với kỳ kinh doanh trước…
- Mức biến động tương đối là kết quả so sánh trị số của chỉ tiêu ở kỳ này với
trị số của chỉ tiêu ở kỳ gốc, nhưng đã được điều chỉnh theo một hệ số của chỉ tiêu có
liên quan, mà chỉ tiêu liên quan này quyết định quy mô của chi tiêu phân tích.
Nội dung so sánh bao gồm:
nhân tố lần sau với kết quả thay thế nhân tố lần trước chính là ảnh hưởng của nhân
tố vừa thay thế đến sự biến động của chỉ tiêu phân tích. Phương pháp thay thế liên
hoàn được thực hiện qua các bước sau:
- Xác định chỉ tiêu phản ánh đối tượng nghiên cứu
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích, các nhân tố này đòi hỏi
phải có quan hệ chặt chẽ với chỉ tiêu phân tích dưới dạng tích số hoặc thương số.
- Sắp xếp các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích vào 1 công thức toán
học theo trình tự từ nhân tố số lượng đến nhân tố chất lượng.
- Tiến hành thay thế lần lượt giá trị của từng nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu
phân tích. Sau mỗi lần thay thế nhà phân tích sẽ thấy được mức độ ảnh hưởng của
từng nhân tố.
- Cuối cùng tổng hợp các mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố giữa kỳ phân
tích so với kỳ gốc. Từ đó rút ra kết luận và đánh giá về chỉ tiêu nghiên cứu.
Trên cơ sở xác định sự ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố cần
rút ra những kết luận và kiến nghị giải pháp thiết thực nhằm không ngừng nâng cao
kết quả của chỉ tiêu phân tích.
* Phương pháp số chênh lệch:
Phương pháp số chênh lệch là phương pháp dựa vào sự ảnh hưởng trực tiếp
của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích. Trình tự và điều kiện áp dụng phương pháp
số chênh lệch cũng tương tự như phân tích thay thế liên hoàn nhưng khác nhau ở
điểm: để xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố nào thì trực tiếp dùng số chênh
lệch về giá trị kỳ phân tích so với kỳ gốc của nhân tố đó để xác định.
1.2.3. Phương pháp Dupont
Một phương pháp được sử dụng khá phổ biến trong phân tích báo cáo tài
chính là phương pháp phân tích Dupont, lấy theo tên của công ty đầu tiên đã sử
dụng phương pháp phân tích này. Phương pháp phân tích này giúp nhà phân tích
13
:
Doanh thu
Tổng tài sản
bình quân
Suất sinh lời của
doanh thu
Lợi nhuận
: sau
thuế
Doanh thu
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu phản ánh suất sinh lời
theo phương pháp Dupont
1.2.4. Phương pháp đồ thị
Bên cạnh việc phân tích dựa vào các con số, có một phương pháp phân tích
khác giúp minh hoạ vấn đề phân tích một cách trực diện, rõ ràng và hiệu quả không
14
kém là phương pháp đồ thị. Đây là phương pháp biểu diễn kết quả tài chính thu
được trong quá trình phân tích bằng các biểu đồ, sơ đồ. Phương pháp đồ thị giúp
người phân tích thể hiện một cách trực quan về diễn biến của các đối tượng nghiên
cứu và nhanh chóng có định hướng về các chỉ tiêu tài chính để tìm nguyên nhân kịp
thời đưa ra hướng giải quyết.
1.3 Tổ chức bộ máy và quy trình phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
Đây là giai đoạn đầu tiên, là khâu quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng,
hiệu quả của phân tích tình hình tài chính. Giai đoạn lập kế hoạch phân tích được
tiến hành khoa học, chuẩn xác sẽ giúp cho các giai đoạn sau thực hiện tốt. Lập
kế hoạch phân tích, bao gồm việc xác định mục tiêu, xây dựng chương trình
phân tích. Kế hoạch phân tích nhằm trả lời các câu hỏi: Tại sao phân tích? Bao
giờ? Bao lâu? Ở đâu? Như thế nào? Ai thực hiện? Cụ thể:
- Xác định mục tiêu, phạm vi phân tích, thời gian tiến hành phân tích.
- Xác định rõ nội dung phân tích, chỉ tiêu và phương pháp phân tích sử
dụng.
- Lựa chọn tài liệu, thông tin cần thu thập.
- Lựa chọn nhân sự và phương tiện phân tích.
Giai đoạn tiến hành phân tích:
Đây là giai đoạn triển khai, thực hiện các công việc đã ghi trong kế hoạch.
Tiến hành phân tích, bao gồm các công việc cụ thể sau:
Sưu tầm tài liệu từ các nguồn thông tin bên trong và bên ngoài doanh nghiệp,
xử lý số liệu
Tính toán chỉ tiêu phân tích:
- Căn cứ vào các tài liệu đã thu thập, các nhà phân tích đã tiến hành tính
toán các chỉ tiêu phân tích, sử dụng các phương pháp thích hợp tương ứng theo
từng nội dung phân tích, nội dung phân tích có thể thực hiện thủ công hoặc kết
hợp với máy vi tính hay tự động hoàn toàn trên chương trình phân tích.
+ Đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu: dùng phương pháp so sánh theo
nhiều góc độ: so sánh theo chiều ngang, so sánh theo chiều dọc, so sánh số tuyệt
đối và số tương đối với hình thức lập bảng số liệu hoặc sử dụng đồ thị, biểu
đồ...tùy vào đặc điểm của chỉ tiêu phân tích và yêu cầu thông tin cho quản lý.
+ Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích: tùy
thuộc vào mối quan hệ để xác định mức độ ảnh hưởng. Những nhân tố có quan
cho người sử dụng thông tin kế toán trong việc đánh giá, phân tích và dự đoán tình
hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính
17
được sử dụng như nguồn dữ liệu chính khi phân tích hoạt động tài chính doanh
nghiệp.
Khác với hệ thống báo cáo kế toán quản trị-là những báo cáo liên quan đến
việc cung cấp thông tin cho các nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp.Báo cáo tài
chính là những báo cáo liên quan chủ yếu đến việc cung cấp thông tin cho các thành
viên bên ngoài doanh nghiệp.Người sử dụng thông tin của báo cáo tài chính quan
tâm đến việc xem xét, đánh giá hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của
doanh nghiệp để có quyết định đầu tư thích ứng.Báo cáo tài chính có ý nghĩa to lớn
không những đối với các cơ quan, đơn vị và cá nhân bên ngoài doanh nghiệp mà
còn có ý nghĩa trong việc chỉ đạo, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Do vậy, báo cáo tài chính là mối quan tâm của nhiều nhóm người
khác nhau.
Cơ sở dữ liệu khác
Không chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu những báo cáo tài chính mà các nhà
phân tích còn phải tập hợp đầy đủ các thông tin liên quan đến tình hình tài chính
của doanh nghiệp như các thông tin chung về kinh tế, tiền tệ, thuế khóa, các thông
tin về ngành kinh tế của doanh nghiệp, các thông tin về pháp lý, về kinh tế đối với
doanh nghiệp. Cụ thể là:
Các thông tin chung: Đó là những thông tin về tình hình kinh tế chính trị,
môi trường pháp lý, kinh tế có liên quan đến cơ hội kinh tế, cơ hội đầu tư, cơ hội
về kỹ thuật công nghệ…Sự suy thoái hoặc tang trưởng của nền kinh tế có tác
động mạnh mẽ đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Những thông tin về
các cuộc thăm dò thị trường, triển vọng phát triển trong sản xuất kinh doanh và
dịch vụ thương mại…ảnh hưởng lớn đến chiến lược và sách lược kinh doanh
thực hiện, từ đó đề xuất các giải pháp khắc phục hạn chế, phát huy ưu điểm, cải
thiện và tăng cường hơn nữa tình hình tài chính của công ty. Các ý kiến đề xuất
đưa ra phải có cơ sở và có tính chất khả thi.
- Tổ chức báo cáo kết quả phân tích: Báo cáo phân tích tài chính doanh
nghiệp được gửi tới cho ban lãnh đạo đơn vị, gửi tới các phòng ban, phòng có
liên quan trong đơn vị. Kết quả phân tích định kỳ cũng cần được đưa ra thảo luận
trong các cuộc họp hay công bố chính thức cho cán bộ, công nhân viên của đơn
vị. Ngoài ra, các chủ thể bên ngoài đơn vị cũng được sử dụng báo cáo phân tích
để ra quyết định quản lý có liên quan đến doanh nghiệp.
19
- Hoàn chỉnh và lưu trữ hồ sơ phân tích: hồ sơ phân tích cần được quản lý
một cách khoa học, sắp xếp, lưu trữ hợp lý giúp cho quá trình tra cứu và sử dụng
được nhanh chóng khi cần.
Kết quả phân tích sẽ tùy theo từng loại hình doanh nghiệp, tùy theo yêu cầu
phân tích của các đối tượng để có các mẫu bảng biểu và cách thức trình bày phù
hợp, cung cấp đầy đủ thông tin cho các đối tượng quan tâm.
1.4 Nội dung phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp
Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp là một bộ phận của phân tích tài
chính, mỗi đối tượng quan tâm đến báo cáo tài chính với những mục tiêu khác nhau
nên họ để ý đến báo cáo tài chính ở những nội dung khác nhau song đều có mục
đích chung là nghiên cứu, tìm hiểu các thông tin cần thiết, đáng tin cậy, làm cơ sở
cho việc ra quyết định phù hợp với mục đích của họ.
Phân tích báo cáo tài chính trong doanh nghiệp thường được tiếp cận theo 2
hướng: Phân tích từng BCTC và mối quan hệ giữa các báo cáo hoặc phân tích hệ
thống chỉ tiêu tài chính theo nội dung kinh tế.
* Hướng thứ nhất: Phân tích từng BCTC và mối quan hệ giữa các báo cáo bao
gồm các nội dung:
Mục đích phân tích: Phân tích sự biến động của tài sản và nguồn vốn nhằm
giúp đối tượng sử dụng thông tin đánh giá tình hình quy môn vốn (tài sản), nguồn
vốn và sự biến động của từng loại tài sản, nguồn vốn của doanh nghiệp. Phân tích
cơ cấu tài sản nhằm đánh giá tình hình phân bổ vốn của doanh nghiệp có hợp lý hay
không? Có phù hợp với đặc điểm ngành nghề kinh doanh hay không? Phân tích cơ
cấu nguồn vốn nhằm đánh giá khả năng tổ chức, khả năng huy động vốn, khả năng
tự chủ tài chính của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu phân tích: Phân tích cơ cấu và sự biến động của tài sản và nguồn vốn
được tiến hành bằng cách xác định tỷ trọng từng loại, từng chỉ tiêu vốn, nguồn vốn
chiếm trong tổng của nó ở đầu kỳ và cuối kỳ (kỳ gốc với kỳ phân tích), so sánh tỷ
trọng của từng loại, từng chỉ tiêu giữa cuối kỳ với đầu kỳ. Căn cứ vào kết quả xác
định và kết quả so sánh để xác định sự biến động, đánh giá cơ cấu phân bổ vốn, cơ
cấu nguồn vốn và sự thay đổi cơ cấu.
Phương pháp phân tích:
- Phân tích sự biến động của tài sản, nguồn vốn được thực hiện bằng cách so