Sử dụng trò chơi học tập trong dạy học phân môn địa lý ở tiểu học - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

QUÁCH THỊ KIM CÖC

SỬ DỤNG TRÕ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC
PHÂN MÔN ĐỊA LÝ Ở TIỂU HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, năm 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

QUÁCH THỊ KIM CÚC

SỬ DỤNG TRÕ CHƠI HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC
PHÂN MÔN ĐỊA LÝ Ở TIỂU HỌC

Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học tự nhiên xã hội

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn: ThS. Lê Văn Đăng

Sơn La, năm 2015


LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo, Thạc sĩ Lê Văn Đăng đã tận tình


ĐB

: Đồng bằng

NXB

: Nhà xuất bản

SGK

: Sách giáo khoa


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................ 4
3. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................... 4
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu .................................................................. 4
5. Giả thuyết khoa học........................................................................................... 5
6. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................ 5
7. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................... 5
8. Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................... 5
9. Cấu trúc của đề tài ............................................................................................. 6
PHẦN NỘI DUNG .............................................................................................. 7
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN
CỨU ...................................................................................................................... 7
1.1. Cơ sở lý luận .................................................................................................. 7
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản ............................................................................. 7

1.2.4.3. Nội dung khảo sát ................................................................................... 23
1.2.4.4. Các phƣơng pháp điều tra khảo sát ........................................................ 23
1.2.4.5. Phân tích kết quả .................................................................................... 23
1.2.4.6. Đánh giá chung về thực trạng ................................................................ 26
Tiểu kết chƣơng 1................................................................................................ 29
CHƢƠNG 2: CÁCH THỨC SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP TRÕ CHƠI
TRONG DẠY HỌC PHÂN MÔN ĐỊA LÍ Ở TIỂU HỌC ............................ 30
2.1. Nguyên tắc của việc sử dụng trò chơi học tập trong phân môn Địa lí ......... 30
2.2. Vị trí của phƣơng pháp trò chơi trong dạy học phân môn Địa lí ................. 31
2.3. Một số đặc điểm của trò chơi trong quá trình dạy học ở tiểu học ............... 33
2.4. Những loại trò chơi thƣờng đƣợc sử dụng để dạy học ở tiểu học ............... 34
2.5. Quy trình tổ chức chơi trò chơi trong phân môn Địa lí ............................... 36
2.6. Các hình thức tổ chức trò chơi thƣờng đƣợc sử dụng trong dạy học phân môn
Địa lí lớp 4 ............................................................................................................ 38
2.7. Điều kiện để tổ chức trò chơi cho học sinh trong quá trình dạy học phân
môn Địa lí ............................................................................................................ 43


Tiểu kết chƣơng 2................................................................................................ 45
CHƢƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ................................................... 46
3.1. Những vấn đề chung .................................................................................... 46
3.1.1. Mục đích thực nghiệm sƣ phạm ............................................................... 46
3.1.2. Đối tƣợng thực nghiệm ............................................................................. 46
3.1.3. Phạm vi thực nghiệm................................................................................. 46
3.1.4. Điều kiện thực nghiệm .............................................................................. 46
3.1.5. Thời gian thực nghiệm .............................................................................. 46
3.1.6. Nội dung thực nghiệm ............................................................................... 46
3.1.7. Tổ chức thực nghiệm................................................................................. 46
3.1.8. Chuẩn bị thực nghiệm ............................................................................... 47
3.2. Quy trình thực nghiệm ................................................................................. 47

tự học dƣới sự hƣớng dẫn của GV.
Dạy học bằng trò chơi có vị trí quan trọng bởi nó phù hợp với đặc điểm
tâm sinh lý lứa tuổi, đây chính là hình thức “Học vui – Vui học” thích hợp với
tuổi trẻ. Nhƣ Bác Hồ đã từng huấn thị khi nói về cách dạy ở tiểu học: Tiểu học
thì cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ… phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ, hoạt bát,
tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng, chớ nên làm chúng hoá ra già cả… Trong
lúc học cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học.

1


Thực tế đổi mới chƣơng trình và phƣơng pháp ở tiểu học cho thấy thông
qua các trò chơi đƣợc tổ chức một cách hợp lý mà GV có thể chuyển tải các tri
thức mới, củng cố các kiến thức đã học và hình thành kĩ năng cho HS một cách
nhẹ nhàng, sinh động và có hiệu quả.
Phân môn Địa lý lớp 4 là một trong những phân môn quan trọng ở bậc
tiểu học. Mục tiêu cơ bản của phân môn này là dạy cho học sinh những hiểu
biết ban đầu về môi trƣờng xung quanh từ đó tạo điều kiện cho các em dễ
dàng hoà nhập, thích ứng với cuộc sống xã hội, với môi trƣờng thiên nhiên
cũng nhƣ với con ngƣời.
Phân môn Địa lý cung cấp cho học sinh những biểu tƣợng địa lý từ đơn
giản đến phức tạp, bƣớc đầu hình thành một số khái niệm cụ thể, xây dựng một
số mối quan hệ địa lý đơn giản, bƣớc đầu rèn luyện cho các em kĩ năng địa lý
nhƣ: kĩ năng sử dụng bản đồ, kĩ năng nhận xét, kĩ năng so sánh phân tích số liệu,
kĩ năng phân tích các mối quan hệ địa lý đơn giản, hình thành và phát triển ở các
em thái độ ham học hỏi, tình yêu thiên nhiên, đất nƣớc và con ngƣời. Bƣớc đầu
hình thành thế giới quan khoa học cho HS và giúp các em hạn chế những hiểu
biết sai lệch, mê tín, dị đoan trƣớc những hiện tƣợng địa lý tự nhiên. Vì vậy, bên
cạnh những phƣơng pháp dạy học đặc trƣng nhƣ phƣơng pháp kể chuyện, các
phƣơng pháp trực quan và các phƣơng pháp dùng lời khác nhƣ thuyết trình,

trạng thái của tiết học chứ chƣa sử dụng phƣơng pháp này với tƣ cách là phƣơng
pháp chính, chủ yếu để giúp học sinh lĩnh hội kiến thức cơ bản của bài. Trên
thực tế, việc sử dụng phƣơng pháp này trong dạy học phân môn Địa lý chƣa đạt
kết quả cao, quá trình tổ chức trò chơi còn đơn điệu, chƣa thực sự lôi cuốn, hấp
dẫn học sinh, chƣa tổ chức đƣợc trò chơi tập thể để có thể huy động đƣợc nhiều
học sinh tham gia một lúc. Đặc biệt, ít GV biết cách tổ chức cho học sinh tham
gia vào trò chơi một các có hiệu quả để học sinh tự mình phát hiện đƣợc tri thức
cần học. Đây là cách dạy học tích cực theo định hƣớng đổi mới trò chơi trong
dạy học phân môn Địa lý không những có ý nghĩa về mặt lí luận mà còn có ý
nghĩa về mặt thực tiễn: Vừa giúp cho GV tiểu học có thể vận dụng phƣơng pháp
này vào quá trình dạy học phân môn Địa lý , vừa góp phần nâng cao chất lƣợng
hiệu quả dạy học phân môn này ở tiểu học. Vì vậy, chúng tôi chọn khóa luận
nghiên cứu của mình là: “Sử dụng trò chơi học tập trong dạy học phân môn
Địa lý ở Tiểu học”.
3


2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đây không phải là vấn đề mới mẻ, vào thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX đã có
nhiều nhà nghiên cứu nhƣ: Phreben ( Đức), M.Mentori (Ý)… Có ý tƣởng trò
chơi với dạy trẻ học, dùng trò chơi làm phƣơng tiện dạy học. Về sau, ý tƣởng đó
đƣợc tiếp tục phản ánh trong hàng loạt công trình nghiên cứu của các nhà giáo
dục Liên xô: A.P.Radina, A.P.Vsova, A.Navanhesova, A.L.Sovoki.
Trên thế giới xu thế xử dụng trò chơi trong dạy học đã trở thành phổ biến
đối với bậc học Tiểu học nhƣ ở Nhật, Mỹ, Anh, Pháp. Ở trong nƣớc, việc tổ
chức trò chơi trong dạy học ở tiểu học đã đƣợc quan tâm. Đối với môn Tiếng
việt ở tiểu học có công trình “Trò chơi học tập Tiếng việt 2” và “ Trò chơi học
tập Tiếng việt 3” của tác giả Trần Mạnh Hƣởng (chủ biên).
Trong quá trình đổi mới về nội dung và phƣơng pháp dạy học có rất nhiều
nhà giáo dục đã nghiên cứu, tìm tòi thiết kế nên các trò chơi nhằm giáo dục toàn

trong dạy học) của GV ở trƣờng tiểu học.
6.2. Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.
6.3. Thiết kế các loại trò chơi trong dạy học phân môn Địa lý và cách thức
sử dụng chúng một cách có hiệu quả trong dạy học phân môn Địa lý 4.
6.4. Thực nghiệm sƣ phạm để kiểm tra, đánh giá kết quả sau khi sử dụng
trò chơi Địa lý trong quá trình giảng dạy.
7. Phạm vi nghiên cứu
Việc sử dụng phƣơng pháp trò chơi trong dạy học phân môn Địa lý lớp 4.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để hoàn thành các nhiệm vụ của khóa luận trên, chúng tôi đã sử dụng kết
hợp các phƣơng pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Chúng tôi tiến hành nghiên
cứu các tài liệu về môi trƣờng, giáo dục môi trƣờng, các tài liệu về tâm lí học…
và các tài liệu bàn về vấn đề tổ chức các hoạt động ngoại khoá. Việc nghiên cứu
cơ sở lí luận này giúp chúng tôi có căn cứ để xác định đƣợc các khả năng, tiêu
chí lựa chọn các hình thức tổ chức trò chơi qua môn Địa lí lớp 4.
Phương pháp điều tra, khảo sát: Chúng tôi tiến hành dự giờ, lập các phiếu
điều tra thực trạng nhận thức và hành vi của GV và HS về vấn đề sử dụng trò
chơi, tìm hiểu thực trạng vấn đề tổ chức trò chơi trong nhà trƣờng tiểu học nhằm
tìm ra những khó khăn, hạn chế của GV khi tiến hành các hoạt động trò chơi.

5


Đây chính là cơ sở thực tiễn cho việc thiết kế các hình thức tổ chức trò chơi phù
hợp với trình độ, khả năng, năng lực của GV cũng nhƣ của HS.
Phương pháp thống kê toán học: Đƣợc sử dụng để phân tích và xử lí các số
liệu và các kết quả thu đƣợc qua điều tra và trong quá trình thực nghiệm.
Phương pháp thực nghiệm: Đây là phƣơng pháp đƣợc sử dụng để kiểm tra
tính đúng đắn của các mục đích đã đề ra, kiểm định tính khả thi và hiệu quả của các

Đổi mới phƣơng pháp dạy học là đổi mới cách thức tiến hành phƣơng
pháp, đổi mới phƣơng tiện và hình thức triển khai phƣơng pháp trên cơ sở khai
thác triệt để ƣu điểm của phƣơng pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số phƣơng
pháp dạy học mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
ngƣời học. Hiện nay có một số định nghĩa về khái niệm trò chơi nhƣ sau:
- Trò chơi là một loại hình văn hóa dân gian rất quen thuộc, gần gũi với
mọi ngƣời và mang tính chất truyền thống.
- Trò chơi là một loại hình sinh hoạt, giao lƣu văn hoá của con ngƣời,
thƣờng đƣợc tổ chức vào các dịp lễ, hội, tết…
- Trò chơi đem lại cho con ngƣời sự vui vẻ, đoàn kết, giúp con ngƣời bộc lộ
những tình cảm, thể hiện ƣớc mơ, sự phấn đấu…
- Trò chơi là hoạt động bày ra để vui chơi, giải trí thông qua đó giáo dục
con ngƣời những kinh nghiệm sản xuất, phẩm chất đạo đức, tri thức khoa học.
Nhƣ vậy cho đến nay vẫn chƣa có một định nghĩa đầy đủ, trọn vẹn, chính
xác về trò chơi.
Vậy trò chơi là gì? Theo Từ điển Tiếng Việt thì trò chơi là “Hoạt động
đƣợc bày ra để vui chơi, giải trí”.
Nhƣ vậy chúng tôi cho rằng trò chơi là hoạt động vui chơi có chủ đề, có nội
dung nhất định, có những qui định buộc ngƣời chơi phải tuân thủ nhằm mục
đích vui chơi, giải trí.
7


Trong nhà trƣờng tiểu học trò chơi học tập là trò chơi có luật, có nội dung
tri thức gắn liền với nội dung bài học, giúp HS khai thác vốn kinh nghiệm của
bản thân để chơi. Thông qua trò chơi HS đƣợc củng cố vận dụng các kiến thức,
nội dung đã học vào các tình huống của trò chơi, giúp HS rèn luyện đƣợc trí tuệ
lẫn thể chất và phẩm chất đạo đức.
Trò chơi học tập là trò chơi có nội dung gắn với hoạt động học tập, đƣợc
bày ra để thông qua việc chơi mà học.

nghĩa mỗi môn học. Việc các em HSTH thích môn nào, bài nào phụ thuộc khả
năng sƣ phạm của ngƣời giáo viên”. Các nhà nghiên cứu còn cho thấy “Động cơ
học tập không sẵn có, cũng không thể áp đặt từ ngoài vào mà phải hình thành
dần trong quá trình học sinh ngày càng đi sâu và chiếm lĩnh đối tƣợng học tập
dƣới sự hƣớng dẫn của giáo viên. Nếu trong tiết học, GV biết tổ chức cho HS
phát hiện ra những điều mới lạ (cả nội dung lẫn phƣơng pháp dạy học, HS
chiếm lĩnh tri thức đó) thì dần dần quan hệ thân thiết giữa các em với tri thức
khoa học sẽ đƣợc hình thành, học tập dần dần trở thành một nhu cầu không thể
thiếu đƣợc của các em và sẽ thúc đẩy các em vƣơn tới giành lấy tri thức”
Nhƣ vậy, việc tổ chức trò chơi cho HS trong quá trình dạy học một cách
phù hợp sẽ góp phần khêu gợi nhu cầu, hình thành động cơ đúng đắn, hứng thú
học tập cho HS.
- Đặc điểm trí nhớ
HSTH nói chung có trí nhớ tốt. Ở những lớp đầu bậc tiểu học, ghi nhớ
không chủ định chiếm ƣu thế, các em chỉ ghi nhớ những gì mình thích, những gì
gây đƣợc ấn tƣợng mạnh mẽ, gây cảm xúc thì các em dễ nhớ và nhớ lâu.
Càng lên các lớp trên thì trí nhớ có chủ định càng tăng. Tuy vậy, cũng nhƣ
các lớp đầu cấp (lớp 1, 2, 3) các lớp cuối cấp (lớp 4,5) vẫn thƣờng có khuynh
hƣớng học thuộc một cách máy móc kiểu học vẹt. Chính vì vậy, mà các em
cảm thấy khó khăn khi sử dụng những kiến thức đó vào học tập, cũng nhƣ
vào trong cuộc sống. Để khắc phục nhƣợc điểm này, trong quá trình dạy học
GV cần phải tổ chức cho các em chơi trò chơi học tập nhằm dẫn dắt các em
dễ tìm đến tri thức mới.
- Đặc điểm tƣ duy
Tƣ duy của trẻ mới đến trƣờng chủ yếu là tƣ duy cụ thể mang tính hình
thức, dựa vào những bề ngoài của sự vật và hiện tƣợng. Theo Peopiagie “Tƣ duy
9


của trẻ đến 10 tuổi về cơ bản còn ở giai đoạn những thao tác cụ thể, dựa trên cơ



Đối với HSTH, tình cảm có vị trí đặc biệt vì nó là khâu trọng yếu gắn liền
nhận thức với hành động của các em. Đối tƣợng gây xúc cảm cho HSTH thƣờng
là những sự vật, hiện tƣợng cụ thể, những câu chuyện sinh động. Do đó, những
bài giảng khô khan, khó hiểu nặng nề về lí luận không gây cho HS những cảm
xúc tích cực, thậm chí làm cho các em mệt mỏi, chán chƣờng và không có hứng
thú học. Nói chung, hoạt động trí tuệ của các em đƣợm màu sắc xúc cảm, các em
suy nghĩ bằng “hình thức”, “xúc cảm”, “âm thanh”, các quá trình nhận thức, hoạt
động của các em đều chịu sự chi phối mạnh mẽ của cảm xúc và đều đƣợm màu
cảm xúc. Từ đặc điểm này, ta thấy trong quá trình dạy học, có thể khơi dậy ở trẻ
xúc cảm học tập qua việc tổ chức trò chơi học tập cho các em, từ đó phát huy tính
tích cực nhận thức của HS, nâng cao hiệu quả học tập.
- Đặc điểm tri giác :
Tri giác là quá trình nhận thức cảm tính phản ánh những thuộc tính bề
ngoài của sự vật, hiện tƣợng nhƣ: màu sắc, hình dạng, kích thƣớc, mùi vị, âm
thanh… Trong nhận thức cảm tính, những thuộc tính bề ngoài của đối tƣợng Địa
lý đều đƣợc phản ánh. Vì vậy, trong quá trình dạy học Địa lý không phải lúc nào
cũng có thể nhận thức trực tiếp nên việc sử dụng, khai thác tranh ảnh, mô hình
để hình thành những biểu tƣợng cho HS là cần thiết.
Tóm lại, từ việc phân tích những đặc điểm tâm lý của HSTH có thể rút ra
kết luận rằng: Việc tổ chức trò chơi cho HS là biện pháp quan trọng nhằm tích
cực hoá hoạt động nhận thức của HS góp phần nâng cao chất lƣợng, hiệu quả
dạy học phân môn Địa lí ở trƣờng tiểu học.
1.1.3. Phản ứng tâm lý của học sinh khi tham gia trò chơi
1.1.3.1. Phản ứng tích cực
- Hăng say chơi hết mình
- Ý thức trách nhiệm cá nhân cao
- Dễ bỏ qua sai phạm nhỏ của ngƣời khác
- Tôn trọng tính kỉ luật

trìu tƣợng từ đó tƣ duy và ngôn ngữ của con ngƣời cũng phát triển.
Cũng nhờ khả năng tƣ duy, ngôn ngữ phát triển mà con ngƣời bắt đầu biết
tích lũy kinh nghiệm trong cuộc sống. Nhờ vậy, mà chúng ta dần thấy đƣợc tầm
quan trọng của sự chuẩn bị trƣớc công cụ lao động, sức khỏe và sự tập luyện
những thao tác cơ bản nhờ đó mà kết quả lao động đạt đƣợc cao hơn. Lúc đầu,
sự chuẩn bị các thao tác này mang tính chất tự nhiên dƣới hình thức vui chơi mà
12


tập luyện, tập luyện mà vui chơi, sau đó ngƣời ta dùng trò chơi để dạy cho con
cháu, dạy cho lớp trẻ, chuẩn bị cho họ tiếp bƣớc cha anh tham gia tích cực, có
hiệu quả vào cuộc sống lao động, đấu tranh sinh tồn và phát triển của mình. Nhƣ
vậy, sau khi ra đời, trò chơi đã mang ý nghĩa giáo dục rất cao và có một vai trò
quan trọng trong xã hội loài ngƣời. Cuộc sống xã hội ngày càng phát triển,
trƣờng học đƣợc hình thành và ngày càng mở rộng và là nơi thu hút những mầm
non của xã hội. Ở đây, ngƣời ta sử dụng nhiều nội dung nhiều phƣơng pháp để
giáo dục, rèn luyện thế hệ trẻ trong đó có trò chơi. Ngày nay cũng vậy, trò chơi
trở thành một trong những phƣơng pháp giáo dục hiệu quả nhất, đặc biệt đổi với
trẻ ở bậc tiểu học.
1.1.4.2. Ý nghĩa của phương pháp trò chơi học tập
Vui chơi là một hoạt động không thể thiếu đối với con ngƣời trong bất cứ
xã hội nào, nó giúp con ngƣời giải tỏa căng thẳng, lo lắng hay buồn phiền... Đặc
biệt trong xã hội ngày nay, khi con ngƣời trở nên bận rộn với guồng quay hối hả
của cuộc sống thì nhu cầu về vui chơi giải trí ngày càng lớn hơn. Trò chơi có
một ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với HSTH bởi vì ở lứa tuổi này đặc điểm
tâm lý nổi bật của các em là: “Học mà chơi, chơi mà học”, các em chƣa thể tập
trung chú ý quá lâu vào một hoạt động. Vì vậy, đƣa trò chơi vào học tập vừa là
món ăn tinh thần trong mỗi tiết học vừa là phƣơng tiện góp phần phát triển trí
tuệ của HS. Trong quá trình chơi, HS phải sử dụng các giác quan để thực hiện
các thao tác chơi, nhiệm vụ chơi do đó mà các giác quan của HS trở nên tinh

của đồ vật”. (8. Tr 12). Vui chơi là hoạt động cần thiết góp phần phát triển nhân
cách con ngƣời ở mọi lứa tuổi nhất là đối với HS mẫu giáo và HSTH. Đối với
học sinh mẫu giáo vui chơi là hoạt động chủ đạo, bƣớc sang lứa tuổi tiểu học
hoạt động học là chính. Khoảng cách giữa hai lứa tuổi này không lớn nhƣng
hoạt động chủ đạo có sự thay đổi lớn. Vì vậy GV phải tạo cho các em sân chơi
học tập: chơi mà học, học mà chơi.
Vì vậy việc sử dụng trò chơi học tập là rất cần thiết, trò chơi cũng là cách
để GV áp dụng để thay đổi phƣơng pháp dạy học của mình. Trò chơi giúp HS
phát triển những điều mới mẻ để tiếp cận với các khoa học, luyện tập đƣợc thao
tác nhanh nhẹn nhất. Đặc biệt nếu HS biết cách kết hợp nhịp nhàng giữa các
thao tác vận động và sự phát triển tƣ duy khả năng điều khiển của thần kinh
trung ƣơng sẽ càng phát triển chuẩn xác.
14


Trò chơi là một hoạt động trực tiếp với tình hấp dẫn tự thân của mình có
một tiềm năng lớn để trở thành một phƣơng tiện dạy học hiệu quả, kích thích sự
hứng thú nhận thức và niềm say mê học tập của ngƣời học. Học tập thông qua
trò chơi sẽ giúp HS ghi nhớ dễ dàng và bền vững hơn.
Trò chơi học tập khác trò chơi khác là ở chỗ, nhiệm vụ nhận thức và luật
chơi trong trò chơi đòi hỏi ngƣời chơi phải huy động trí óc làm việc thật sự
nhƣng chúng lại đƣợc thực hiện dƣơí hình thức chơi vui vẻ, thú vị. Học trong
quá trình chơi là quá trình lĩnh hội tri thức nhẹ nhàng, tự nhiên không gò bó,
khơi dậy hứng thú tự nguyện và giảm thiểu sự căng thẳng cho HS.
Rất nhiều công trình nghiên cứu đã cho rằng, nếu đƣợc tổ chức đúng đắn,
hợp lý thì trò chơi sẽ là phƣơng tiện rất tốt để giáo dục toàn diện trẻ em.
Trò chơi học tập giúp các em nắm chắc, nhanh, sâu nội dung bài học.
Thông qua trò chơi học tập giúp các em phát triển thể chất, trí tuệ, hoàn thiện tri
giác, chú ý, ghi nhớ, hoàn thiện và sáng tạo.
1.1.4.4. Một số yêu cầu khi lựa chọn, tổ chức trò chơi học tập

- Khi tiến hành trò chơi, GV phải theo dõi sát tiến trình và kết quả của trò
chơi tức là phải có đƣợc thông tin phản hồi từ phía HS để nhận định đánh giá
khen chê đúng lúc, kịp thời động viên khích lệ để HS ngày càng mạnh dạn tham
gia tích cực hơn.
- Ƣu thế của trò chơi chính là trẻ tập trung hoạt động mọi sức lực của mình
một cách hào hứng tự nguyện nên không tạo áp lực tâm lí, mà ngƣời chơi cảm
thấy rất tự do khi đƣợc khám phá và làm nảy sinh nhiều sáng kiến. Bên cạnh đó
tiến hành các hoạt động chơi là nắm lấy các phƣơng thức hành động chung, điển
hình khái quát của những hành động thân thể hay tâm lý cụ thể. Những phƣơng
thức đó vừa là công cụ phƣơng tiện giúp trẻ chinh phục thế giới xung quanh,
vừa là cơ sở để trẻ học đƣợc cách điều khiển hành vi, cách bắt hành vi tuân theo
một nhiệm vụ nhất định tức là rèn luyện để có tính chủ định, một trong những
cấu tạo của tâm lý. Nhờ vậy mà HS đƣợc phát huy và phát triển hết khả năng
của mình. Hơn thế nữa khi say sƣa và sống hết mình cho trò chơi HS sẽ tìm thấy
niềm vui thực sự và đƣợc sống trong thế giới của cảm giác dào dạt của trò chơi.
1.1.4.5. Một số hạn chế khi sử dụng trò chơi học tập
Để vận dụng một cách thích hợp các trò chơi học tập, đòi hỏi ngƣời GV
phải có sự chuẩn bị và đầu tƣ cho từng trò chơi. Đây là điều hạn chế bởi hàng
16


loạt những yếu tố nhƣ năng lực của GV, thời gian dành cho soạn bài, các
phƣơng tiện đồ dùng dạy học, sự đầu tƣ về kinh phí…cho giờ học vô tình nhƣ là
những vật cản trở nhiệt tình của GV.
Tổ chức các trò chơi học tập dễ làm mất thời gian và lớp học thƣờng ồn ào
dẫn đến HS mất trật tự, làm ảnh hƣởng ít nhiều đến các lớp khác.
Diện tích phòng học, cách sắp xếp bàn ghế trong lớp theo một khuôn mẫu
truyền thống cũng gây khó khăn cho việc tổ chức trò chơi. Để tổ chức trò chơi
còn đòi hỏi ngƣời GV phải có óc tổ chức, biết kích thích sự tham gia của HS.
Đây là điều không phải GV nào cũng làm đƣợc.

- Trò chơi học tập bao giờ cũng có kết quả rõ ràng, đoán đúng - sai một câu
đố, gọi tên đúng - sai, sắp xếp đúng - sai… Kết quả này có ý nghĩa rất lớn đối
với các em, nó mang lại niềm vui cho HS, thúc đẩy tính tích cực và mở rộng
củng cố vốn hiểu biết cho HS.
- Nội dung trò chơi thƣờng gắn với nội dung bài học, nó sẽ minh họa một
cách sinh động cho các kiến thức lí thuyết mà các em đã học. Nhờ vậy, kiến
thức đƣợc vận dụng, củng cố và khắc sâu giúp các em thấy rõ ý nghĩa những
điều đã học, đây chính là cơ sở để hình thành hứng thú học tập.
- Để kết quả của một hoạt động chơi đƣợc tốt, ta luôn chuẩn bị những phƣơng
tiện cần thiết cho hoạt động chơi tùy thuộc vào nội dung của từng trò chơi.
- Khi chia nhóm không nên chia quá nhiều vì nhƣ thế lúc tổng kết sẽ khó
khăn, trò chơi mất đi sự hào hứng.
- Trò chơi phải đơn giản, ít tốn kém, dễ thực hiện.
- Không nên lúc nào cũng cho nhóm cử đại diện vì nhƣ thế các em sẽ có
khuynh hƣớng chọn bạn giỏi đại diện mãi mà các em yếu thì ít đƣợc tham gia.
- GV chuẩn bị một số phần thƣởng nhỏ để tạo hứng thú cho các em (tranh,
ảnh, vở, bánh kẹo…)
- Phải thể hiện đƣợc tính thi đua giữa các cá nhân và các nhóm.
- Có quy định về sự thƣởng phạt rõ ràng.
- Có cách chơi cụ thể (bao gồm cả thời gian).
- Có cách tính điểm.
Nhƣ vậy, để xây dựng một trò chơi học tập, GV cần lựa chọn từ các hoạt
động đảm bảo đƣợc các nhân tố cơ bản trên.
Ngoài các trò chơi trong (sách giáo viên) SGK, GV có thể bổ xung các trò
chơi hợp lí với bài học và trình độ nhận thức của HS.

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status